Nghị quyết 04 của Trung ương yêu cầu sửa đổi luật Phòng, chống tham nhũng, luật Đất đai và pháp luật có liên quan, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; nghiên cứu xây dựng luật về đăng ký tài sản.
Nghị quyết nêu nhiều nhiệm vụ, giải pháp, trong đó xử lý nghiêm người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc bao che, cản trở việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Có cơ chế khuyến khích, bảo vệ tổ chức, cá nhân, người đứng đầu chủ động phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ đơn vị, cơ quan, tổ chức.
Quyết tâm xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính với 3 trụ cột trọng tâm là thể chế liêm chính – nền công vụ liêm chính – đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức liêm chính.
Cán bộ, đảng viên, trước hết người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đi đầu trong tu dưỡng, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng, thực sự gương mẫu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đồng thời, không để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, bảo đảm nghiêm minh, rõ trách nhiệm.
Theo đó, sửa đổi luật Phòng, chống tham nhũng, luật Đất đai và pháp luật có liên quan, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Nghiên cứu xây dựng luật về đăng ký tài sản.
Kịp thời sửa đổi bộ luật Hình sự, bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật có liên quan để thể chế hóa các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về chính sách miễn, giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trung ương gợi mở việc xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung.
Cùng đó là việc giảm trách nhiệm hình sự, hình phạt với người phạm tội không có động cơ vụ lợi, chủ động, tự giác nộp lại tài sản, khắc phục hậu quả, thiệt hại, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, phát hiện tội phạm.
Việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, giảm áp dụng hình phạt tù đối với các tội phạm kinh tế, chức vụ.
Hoàn thiện cơ chế khởi kiện vụ án dân sự, nghiên cứu xây dựng cơ chế khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
Có cơ chế về xử lý vật chứng, tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, về thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội.
Trung ương yêu cầu kịp thời thay thế, cho từ chức đối với cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Xử lý nghiêm cán bộ chậm trễ, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, quan liêu, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Đẩy mạnh thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; có cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương, thu nhập bảo đảm đời sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, liêm chính, công tâm…
Trung ương cũng lưu ý ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính, tổ chức. Trường hợp đến mức phải xử lý hình sự cho phép chủ động áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước, nhưng có thời hạn thực hiện cụ thể và là căn cứ quan trọng để xem xét biện pháp xử lý tiếp theo.
Đẩy mạnh việc truy bắt, dẫn độ những đối tượng bỏ trốn, thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài.
Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, nhìn lại hàng nghìn năm hình thành và phát triển của hai đất nước, lịch sử, văn hóa đã trở thành những sợi dây bền chắc kết nối Ấn Độ, Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, hành trình phát triển của Ấn Độ và Việt Nam trong hơn 80 năm qua có nhiều điểm tương đồng và nhiều thành tựu to lớn. Trước hết là cả hai đều bước ra từ những nền kinh tế thuộc địa vô cùng khó khăn, thậm chí đến mức kiệt quệ, trình độ thấp, cơ cấu mất cân đối, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Với khát vọng thịnh vượng, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, hai nước đã từng bước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh.
Về đối ngoại, hai nước chia sẻ quan điểm độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, ủng hộ đối thoại và cách tiếp cận chủ động, cân bằng và trách nhiệm với các vấn đề khu vực, toàn cầu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ ấn tượng với triết lý "Thế giới là một gia đình" của Ấn Độ đề cao tình hữu nghị, sự tôn trọng, tinh thần đoàn kết và khát vọng hòa bình, thịnh vượng - cũng là những giá trị mà dân tộc Việt Nam luôn hướng tới. Việt Nam đánh giá cao những đóng góp trách nhiệm của Ấn Độ qua các khuôn khổ hợp tác và sáng kiến kết nối chiến lược, Chính sách Hành động hướng Đông tăng cường kết nối với Đông Nam Á; Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương thúc đẩy không gian rộng mở, bao trùm, dựa trên luật lệ; đánh giá cao vai trò ngày càng quan trọng của Ấn Độ tại các cơ chế đa phương, góp phần thúc đẩy đối thoại, tăng cường kết nối và xử lý các thách thức chung. Việt Nam cũng đã đảm nhận thành công nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, cử các cán bộ, chiến sĩ tham gia đóng góp vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của LHQ.
Việt Nam và Ấn Độ đều đang hướng đến những mục tiêu phát triển mới vào dịp kỷ niệm 100 năm độc lập, hài hòa giữa tăng trưởng và tiến bộ xã hội, trong đó không thể thiếu vai trò của khoa học - công nghệ. Trên nền tảng tin cậy và gắn bó, quan hệ hai nước từng bước được định hình và phát triển, với việc thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược năm 2007, Đối tác chiến lược toàn diện năm 2016, và không ngừng được mở rộng và làm sâu sắc trong những năm qua.
Hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục là một trụ cột chiến lược với nhiều chương trình hỗ trợ tín dụng và chuyển giao kỹ thuật. Các lĩnh vực GD-ĐT, du lịch và giao lưu nhân dân cũng được mở rộng...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng thế giới đang biến đổi nhanh chóng, sâu sắc chưa từng có. Cạnh tranh giữa các trung tâm quyền lực lớn ngày càng mở rộng. Luật pháp quốc tế, LHQ và các thể chế đa phương đứng trước những thách thức lớn chưa từng có.
Tất cả các nước, trong đó có Việt Nam và Ấn Độ đứng trước những nghịch lý của thời đại: nhu cầu hợp tác gia tăng, nhưng niềm tin bị xói mòn. Các cấu trúc kinh tế kết nối sâu hơn, nhưng dễ tổn thương hơn. Công nghệ có những bước tiến vượt bậc chưa từng có, đồng thời làm sâu thêm khoảng cách phát triển giữa các quốc gia. Biến đổi đang tạo ra những thách thức lớn; nhưng trên tất cả, biến đổi cũng mở ra các cơ hội nếu chúng ta biết nắm bắt và nắm bắt kịp thời, và cơ hội sẽ nhân lên nếu được cùng kết nối.
Kế thừa nền tảng vững chắc của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong hơn 50 năm qua, để đưa quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ sang một giai đoạn mới ở tầm mức mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn hai bên củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chiến lược - điều kiện để duy trì quan hệ ổn định, cũng là nền tảng để thúc đẩy hợp tác hiệu quả và cùng ứng phó với các thách thức chung.
Trong giai đoạn mới, hai bên cần tiếp tục tăng cường trao đổi toàn diện ở các kênh - giữa Nhà nước, Quốc hội/nghị viện, chính đảng, nhân dân hai nước và các cấp; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược; cần phát huy hơn nữa, nâng cao hiệu quả hành động, phối hợp lập trường trong các diễn đàn đa phương.
Hai bên mở rộng dư địa kết nối, gia tăng kết nối phát triển, tạo thêm động lực cho liên kết khu vực. Việt Nam sẵn sàng hợp tác về dược phẩm với Ấn Độ, hoan nghênh các hãng dược Ấn Độ đầu tư sản xuất dược phẩm tại Việt Nam cho thị trường Đông Nam Á.
Hai bên nâng tầm và tăng tốc hợp tác khoa học, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược trở thành một trụ cột trọng yếu trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.
Lan tỏa các giá trị văn hóa - xã hội, tăng cường giao lưu nhân dân, hai bên cần tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn các kết nối đó thông qua hợp tác GD-ĐT, văn hóa, du lịch, kết nối địa phương và giao lưu nhân dân, đặc biệt là giữa thế hệ trẻ; chung tay kiến tạo và củng cố không gian hòa bình, ổn định.
Bước vào kỷ nguyên mới, với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường ở tầm cao mới và phương châm "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất", với giải pháp quyết liệt của Chính phủ, sự quyết tâm, đồng lòng, tinh thần sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin rằng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, thực chất hơn nữa, kết nối giữa hai nước sẽ bền chặt hơn nữa, mang lại lợi ích thiết thực và thành công cho sự phát triển mỗi nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.
Trong chuyến thăm cấp nhà nước Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có bài phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La. Trả lời báo chí, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường khẳng định, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được mời phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La, bài phát biểu quan trọng nhất của diễn đàn thể hiện sự coi trọng và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với vai trò, vị thế và uy tín ngày càng tăng của Việt Nam và vai trò, uy tín của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
"Điều này cũng phản ánh sự quan tâm của các nước đối với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam", ông Cường khẳng định
Việt Nam hiện được nhìn nhận là một nền kinh tế hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững tự chủ chiến lược; một quốc gia đang phát triển năng động, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ; đồng thời là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và khu vực.
"Có thể nói, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu dẫn đề tại Shangri-La là sự khẳng định vai trò, vị thế và đóng góp ngày càng quan trọng của Việt Nam đối với hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới", ông Cường khẳng định.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước được kỳ vọng sẽ truyền tải quan điểm và thông điệp của Việt Nam với các nước về định hướng để xử lý các thách thức chiến lược đang đặt ra, vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững trong cấu trúc khu vực đang định hình.
Đối thoại Shangri-La là diễn đàn an ninh hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, do Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) tổ chức thường niên tại Singapore, quy tụ nhiều nhà lãnh đạo, bộ trưởng quốc phòng, học giả và chuyên gia chiến lược hàng đầu thế giới. Đây là diễn đàn có uy tín và ảnh hưởng lớn đối với các vấn đề hòa bình, an ninh và cấu trúc khu vực.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cho biết, chuyến thăm cấp nhà nước tới Singapore của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiếp tục triển khai và cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
"Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ song phương đang phát triển hết sức tốt đẹp, đồng thời hai nước đều đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những chuyển dịch nhanh chóng của kinh tế thế giới", ông Cường khẳng định.
Chuyến thăm được kỳ vọng sẽ tiếp tục củng cố tin cậy chính trị và nâng tầm phối hợp chiến lược giữa hai nước. Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động, việc Việt Nam và Singapore duy trì trao đổi cấp cao thường xuyên, chia sẻ tầm nhìn phát triển và tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương có ý nghĩa rất quan trọng.
Điểm sáng nổi bật nhất trong quan hệ Việt Nam - Singapore là hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Singapore hiện là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, đồng thời là nhà đầu tư lớn thứ hai tại Việt Nam với hơn 4.500 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký gần 97 tỉ USD.
Trong chuyến thăm này, hai bên kỳ vọng thúc đẩy mạnh hơn hợp tác đầu tư, thương mại, tài chính và kết nối chuỗi cung ứng. Singapore có thế mạnh về công nghệ, tài chính, logistics, quản trị hiện đại; trong khi Việt Nam có thị trường năng động, nguồn nhân lực dồi dào và tốc độ tăng trưởng cao.
Một trọng tâm của chuyến thăm là thúc đẩy hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đi vào chiều sâu và thực chất hơn. Hai bên được kỳ vọng mở rộng hợp tác trong trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ bán dẫn, đô thị thông minh, kinh tế số, chính phủ số và chuyển đổi xanh. Đây đều là những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển dài hạn của Việt Nam.
"Đây là hướng hợp tác có ý nghĩa chiến lược lâu dài, góp phần hình thành không gian hợp tác công nghệ có chiều sâu hơn trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ xanh và đào tạo nhân lực chất lượng cao, phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số và chuyển đổi xanh hiện nay. Có thể nói, quan hệ Việt Nam - Singapore hiện nay đang phát triển theo chiều sâu chiến lược, hướng tới các lĩnh vực của tương lai, đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của mỗi nước và cho liên kết khu vực ASEAN", ông Cường chia sẻ.
Sáng 11.5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khóa XVI họp phiên họp thứ hai. Phát biểu khai mạc phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, phiên họp tiến hành với tinh thần khẩn trương, ngắn gọn. Diễn ra trong buổi sáng, UBTVQH sẽ xem xét 3 nội dung.
Thứ nhất, xem xét, thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Đây là nhiệm vụ quan trọng, nhằm kịp thời điều chỉnh các quy định cho phù hợp với thực tiễn, thể chế hóa Kết luận của Trung ương về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, xem xét Báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 3 và tháng 4 năm 2026. Đây là giai đoạn chuyển giao nhiệm kỳ, cử tri đặt nhiều kỳ vọng và cũng gửi gắm không ít tâm tư, nguyện vọng. Vì vậy, Chủ tịch Quốc hội đề nghị, cần đánh giá thực chất việc giải quyết kiến nghị của cử tri và nhân dân, nhất là những vấn đề bức thiết phát sinh trong thời gian qua.
Thứ ba, tổng kết kỳ họp thứ nhất và cho ý kiến bước đầu về việc chuẩn bị kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa XVI. Chủ tịch Quốc hội đề nghị đánh giá thẳng vào những việc làm được, chưa làm được, xác định rõ những nội dung cần điều chỉnh ngay từ kỳ họp thứ hai, không để lặp lại tình trạng gửi chậm hồ sơ, sơ xuất trong kỳ họp vừa qua.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị thực hiện nghiêm quy định của luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cùng đó, vấn đề gửi tài liệu cho UBTVQH, đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội cần đảm bảo thời gian, chất lượng.
"Như Thủ tướng Lê Minh Hưng có nói các luật trình Quốc hội phải kèm theo nghị định. Luật, nghị định có chất lượng thì TVQH, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban sẽ thẩm tra trình Quốc hội thông qua.
Phải đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, trong đó, phân rõ vai của Quốc hội, Chính phủ, các bộ để xây dựng pháp luật ngày càng chất lượng cao", Chủ tịch Quốc hội đề nghị.
Theo Chủ tịch Quốc hội, đến nay vẫn còn một số nội dung phải điều chỉnh tiến độ, lùi sang các phiên họp sau; trong đó có cả các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết đã được thông qua từ các kỳ họp thứ IX, thứ X thuộc thẩm quyền ban hành của UBTVQH đã rất chậm so với yêu cầu.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị, các cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiêm túc rút kinh nghiệm, làm rõ trách nhiệm. Thường trực Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, Văn phòng Quốc hội phối hợp, đôn đốc, theo dõi sát sao tiến độ, kịp thời báo cáo UBTVQH.
Đối với những luật, nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ khẩn trương chỉ đạo quyết liệt xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết.
Các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, hoàn thiện hồ sơ trình UBTVQH ban hành văn bản thuộc thẩm quyền quy định.
"Quan điểm xuyên suốt là không để phát sinh nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành, không để khoảng trống pháp luật. Luật, nghị quyết có hiệu lực thực hiện được ngay trong thực tế, vì hiện nay người dân, doanh nghiệp đang mong đợi hướng dẫn ở nghị định, thông tư để thực hiện đồng bộ", Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.