Nghị quyết 04 của Trung ương yêu cầu sửa đổi luật Phòng, chống tham nhũng, luật Đất đai và pháp luật có liên quan, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; nghiên cứu xây dựng luật về đăng ký tài sản.
Nghị quyết nêu nhiều nhiệm vụ, giải pháp, trong đó xử lý nghiêm người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc bao che, cản trở việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Có cơ chế khuyến khích, bảo vệ tổ chức, cá nhân, người đứng đầu chủ động phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ đơn vị, cơ quan, tổ chức.
Quyết tâm xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính với 3 trụ cột trọng tâm là thể chế liêm chính – nền công vụ liêm chính – đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức liêm chính.
Cán bộ, đảng viên, trước hết người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đi đầu trong tu dưỡng, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng, thực sự gương mẫu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đồng thời, không để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, bảo đảm nghiêm minh, rõ trách nhiệm.
Theo đó, sửa đổi luật Phòng, chống tham nhũng, luật Đất đai và pháp luật có liên quan, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Nghiên cứu xây dựng luật về đăng ký tài sản.
Kịp thời sửa đổi bộ luật Hình sự, bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật có liên quan để thể chế hóa các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về chính sách miễn, giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trung ương gợi mở việc xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung.
Cùng đó là việc giảm trách nhiệm hình sự, hình phạt với người phạm tội không có động cơ vụ lợi, chủ động, tự giác nộp lại tài sản, khắc phục hậu quả, thiệt hại, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, phát hiện tội phạm.
Việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, giảm áp dụng hình phạt tù đối với các tội phạm kinh tế, chức vụ.
Hoàn thiện cơ chế khởi kiện vụ án dân sự, nghiên cứu xây dựng cơ chế khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
Có cơ chế về xử lý vật chứng, tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, về thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội.
Trung ương yêu cầu kịp thời thay thế, cho từ chức đối với cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Xử lý nghiêm cán bộ chậm trễ, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, quan liêu, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Đẩy mạnh thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; có cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương, thu nhập bảo đảm đời sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, liêm chính, công tâm…
Trung ương cũng lưu ý ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính, tổ chức. Trường hợp đến mức phải xử lý hình sự cho phép chủ động áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước, nhưng có thời hạn thực hiện cụ thể và là căn cứ quan trọng để xem xét biện pháp xử lý tiếp theo.
Đẩy mạnh việc truy bắt, dẫn độ những đối tượng bỏ trốn, thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài.
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các cụ, các vị lão thành, các vị cao niên, đại diện các giai cấp, các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, trí thức, văn nghệ sỹ, các vị đại biểu, các vị khách quý và bạn bè quốc tế,
Thưa toàn thể Đại hội và đồng bào trong và ngoài nước.
Hôm nay, tôi rất vui mừng tới dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đây là sự kiện chính trị - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra trong thời điểm đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, với thế và lực mới, vận hội mới, đồng thời cũng đứng trước nhiều yêu cầu, nhiệm vụ mới rất lớn.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng Đại hội. Qua Đại hội, tôi gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Thưa Đại hội,
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần này diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 ghi dấu ấn đổi mới mạnh mẽ. Hệ thống chính trị đang vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI là dấu mốc mở đầu chặng đường phát triển mới của Mặt trận, với vị thế mới, mô hình tổ chức mới, yêu cầu nhiệm vụ mới. Đại hội cần xác định rõ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục là nơi hội tụ lòng dân, phản ánh ý dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của dân, kết nối sức dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Tôi rất đồng tình với chủ đề, phương hướng, mục tiêu và chương trình hành động mà Đại hội đã đề ra. Chủ đề Đại hội thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, dân chủ, đổi mới, sáng tạo, phát triển; khẳng định vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phát huy dân chủ, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh chân lý khi dân tộc ta đoàn kết, lòng dân quy tụ, ý chí toàn dân thống nhất, thì đất nước vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, làm nên những kỳ tích mang tính vĩnh cửu. Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh Việt Nam.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển ngày nay, mọi thắng lợi của dân tộc ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sức mạnh vô địch của Nhân dân. Đảng ta mạnh là vì gắn bó máu thịt với Nhân dân. Nhà nước ta vững vì dựa vào Nhân dân. Chế độ ta bền vì được Nhân dân tin tưởng, ủng hộ, bảo vệ và xây dựng.
Trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là truyền thống tinh thần, mà còn là năng lực phát triển quốc gia; là sức mạnh để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, tạo đồng thuận xã hội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đoàn kết trong giai đoạn mới là biết tôn trọng những khác biệt hợp pháp, chính đáng; giải quyết hài hòa lợi ích; lấy mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc làm điểm tương đồng; lấy khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm ngọn cờ quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước.
Trong thời gian qua, dù nhiệm kỳ được rút ngắn, nhưng Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã nỗ lực rất lớn, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Mặt trận đã khẩn trương sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, chuẩn bị Đại hội lần thứ XI chu đáo, trách nhiệm; đồng thời từng bước vận hành theo mô hình mới, giữ vững hoạt động, bảo đảm ổn định, thông suốt.
Công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp Nhân dân được đổi mới; góp phần tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện pháp luật; góp ý Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; tham gia sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các đạo luật quan trọng; tổ chức hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, vận động Nhân dân tham gia bầu cử, góp phần vào thành công của ngày hội lớn của non sông.
Công tác giám sát, phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân có bước chuyển biến. Các phong trào thi đua, cuộc vận động như xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, phong trào "Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát, cứu trợ thiên tai, chăm lo người yếu thế... đã thể hiện sinh động truyền thống nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết của dân tộc ta. Việc phối hợp cùng Chính phủ, các cấp, các ngành hoàn thành xóa hơn 334.000 căn nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước là dấu ấn rất có ý nghĩa; vận động hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ với số tiền trên 4.200 tỉ đồng; vận động quyên góp giúp đỡ nhân dân Cu Ba anh em với số tiền 315 tỉ đồng...
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi ghi nhận, nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những kết quả quan trọng mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên, đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân đã đạt được trong thời gian qua.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác Mặt trận vẫn còn những hạn chế, bất cập. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp Nhân dân có lúc, có nơi chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội. Một số cuộc vận động, phong trào thi đua còn hình thức, hiệu quả chưa đồng đều. Công tác giám sát, phản biện xã hội có nơi còn lúng túng, chất lượng chưa cao; việc theo dõi, đôn đốc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện có lúc chưa quyết liệt. Việc nắm tình hình Nhân dân, nhất là trên không gian mạng, trong các nhóm xã hội mới chưa bắt kịp tình hình. Chuyển đổi số trong công tác Mặt trận chưa đồng đều, còn mang tính hình thức và chưa thực sự hiệu quả.
Những hạn chế đó cần được nhìn thẳng, nói thật, đánh giá đúng và có giải pháp khắc phục căn cơ. Mặt trận không thể mạnh nếu xa dân; không thể đổi mới nếu chỉ là lời văn trong nghị quyết; không thể đại diện cho Nhân dân nếu không nghe được tiếng nói thật của Nhân dân và nói dân không hiểu; không thể giám sát, phản biện có chất lượng nếu thiếu bản lĩnh, thiếu dữ liệu, thiếu chuyên gia và thiếu cơ chế theo đến cùng các kiến nghị chính đáng.
Trong nhiệm kỳ 2026 - 2031, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin nhấn mạnh 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để các đại biểu tham dự Đại hội thảo luận, xem xét, quyết định.
Thứ nhất, quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, phát triển, là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của công tác Mặt trận.
Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mọi chương trình, phong trào, cuộc vận động của Mặt trận đều phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Mặt trận phải lấy Nhân dân làm trung tâm trong mọi hoạt động; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hiện thực chất phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Hiệu quả công tác Mặt trận không chỉ đo bằng số cuộc họp, số văn bản, số phong trào, số lễ phát động, mà phải đo bằng niềm tin của Nhân dân, sự hài lòng của Nhân dân, mức độ tham gia của Nhân dân, khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, và kết quả cụ thể trong việc làm cho đời sống Nhân dân ngày càng tốt đẹp hơn.
Mặt trận vừa phải đưa chủ trương đúng của Đảng, chính sách đúng của Nhà nước đến với Nhân dân, vừa phải đưa tiếng nói, nguyện vọng, sáng kiến, bức xúc chính đáng của Nhân dân đến với Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, đổi mới phương thức tập hợp, vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Xã hội ta đang thay đổi nhanh; cơ cấu giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp, phương thức lao động, không gian sống, cách tiếp cận thông tin của Nhân dân ngày càng đa dạng. Bên cạnh khu dân cư truyền thống, còn có khu công nghiệp, khu nhà trọ công nhân, cộng đồng nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, không gian mạng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nhóm xã hội mới.
Vì vậy, phương thức vận động, tập hợp Nhân dân cũng phải đổi mới. Không thể chỉ vận động bằng hội nghị, văn bản, khẩu hiệu; phải vận động bằng đối thoại, thuyết phục, lợi ích thiết thực, sự gương mẫu, kết quả cụ thể và khả năng giải quyết những vấn đề Nhân dân quan tâm. Mỗi chương trình, phong trào, cuộc vận động của Mặt trận cần chuyển mạnh từ phát động chung sang tổ chức thực hiện cụ thể; từ khẩu hiệu sang kết quả; từ hình thức sang thực chất; bảo đảm dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; rõ mục tiêu, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn; đo được kết quả, đo được tác động đối với đời sống Nhân dân.
Mặt trận không làm thay Nhà nước, không làm thay các tổ chức thành viên, càng không được hành chính hóa hoạt động của mình. Mặt trận phải làm đúng vai trò nòng cốt chính trị: quy tụ, hiệp thương, điều phối, giám sát, phản biện, chăm lo, bảo vệ và phát huy sức mạnh Nhân dân. Trong mô hình tổ chức mới, tổ chức có thể tinh gọn hơn, nhưng sức tập hợp phải rộng hơn; bộ máy có thể ít tầng nấc hơn, nhưng hoạt động phải gần dân hơn.
Thứ ba, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Giám sát, phản biện xã hội là chức năng rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; là phương thức để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nâng cao chất lượng chính sách và củng cố niềm tin xã hội.
Giám sát phải chọn đúng vấn đề Nhân dân quan tâm, xã hội bức xúc, chính sách có tác động lớn đến đời sống người dân. Phản biện xã hội phải được thực hiện từ sớm, từ xa, ngay trong quá trình hình thành chủ trương, chính sách; không chỉ góp ý câu chữ, mà phải góp ý về mục tiêu chính sách, tác động xã hội, tính khả thi, nguồn lực thực hiện và lợi ích của Nhân dân.
Phản biện xã hội không phải để làm khó cơ quan nhà nước, mà để chính sách đúng hơn, sát dân hơn, minh bạch hơn, khả thi hơn, nhân văn hơn. Muốn vậy, Mặt trận phải nâng cao bản lĩnh, chất lượng và phương pháp giám sát, phản biện; huy động tốt hơn chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, trí thức, doanh nhân, người có uy tín; dựa trên dữ liệu, khảo sát xã hội và tiếng nói từ cơ sở. Đặc biệt, phải có cơ chế theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện; không để kiến nghị của Mặt trận chỉ dừng lại ở báo cáo, không để ý kiến chính đáng của Nhân dân rơi vào im lặng.
Thứ tư, chăm lo lợi ích thiết thực của Nhân dân, củng cố đồng thuận xã hội từ cơ sở. Đại đoàn kết bền vững phải được xây trên nền tảng lợi ích thiết thực của Nhân dân. Khi người dân được chăm lo, được bảo vệ, được tôn trọng, được tham gia, được thụ hưởng, thì đoàn kết mới có gốc sâu, đồng thuận mới có nền chắc, niềm tin mới bền vững.
Mặt trận cần tiếp tục đổi mới các hoạt động chăm lo người nghèo, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người Việt Nam ở nước ngoài gặp khó khăn. Các chương trình an sinh phải công khai, minh bạch, đúng đối tượng, có giám sát xã hội; không chỉ dừng ở hỗ trợ trước mắt, mà phải hướng tới sinh kế bền vững, kỹ năng, việc làm, giáo dục, y tế và khả năng tự vươn lên.
Mặt trận phải phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư; xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc; xây dựng các mô hình tự quản về an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, khuyến học, khuyến tài, chăm sóc người cao tuổi, bảo vệ trẻ em, giữ gìn bản sắc văn hóa. Đồng thuận xã hội không phải là sự im lặng hình thức, mà phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ, lắng nghe, đối thoại, giải quyết hài hòa lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân.
Thứ năm, xây dựng Mặt trận hiện đại: tổ chức thông suốt, cán bộ gần dân, chuyển đổi số thực chất, có tầm nhìn dài hạn. Sau khi vận hành mô hình tổ chức mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần chủ động rà soát, tổng kết, đánh giá thực chất những kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong cơ chế phối hợp, phân công nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quan hệ giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên; kịp thời tham mưu, đề xuất hoàn thiện thể chế, bảo đảm hệ thống Mặt trận hoạt động thông suốt, hiệu quả, không chồng chéo, không hành chính hóa, không làm thay.
Công tác Mặt trận là công tác với con người, với lòng dân, với niềm tin xã hội. Cán bộ Mặt trận phải có bản lĩnh chính trị, có tâm với dân, có uy tín trong cộng đồng, có kỹ năng vận động, đối thoại, thuyết phục, phản biện, xử lý tình huống; không được xa dân, không thể chỉ làm việc qua báo cáo; phải đi đến nơi, nghe đến cùng, nói đúng sự thật, kiến nghị đúng chỗ, theo đến cùng kết quả.
Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức mới để Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi dân nhanh hơn, giám sát việc giải quyết kiến nghị của dân minh bạch hơn. Cần vận hành hiệu quả các nền tảng số để Nhân dân có thể phản ánh, kiến nghị, góp ý mọi lúc, mọi nơi; phát triển Cổng Mặt trận số 24/7, tổ chức "Tháng nghe dân nói", triển khai Bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh.
Đồng thời, Mặt trận cần coi nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng; tham mưu xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; làm rõ hơn cơ sở, nguyên tắc, phương thức và cơ chế phát huy sức mạnh Nhân dân, sức mạnh văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.
Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, vai trò của Mặt trận; thật sự tôn trọng, lắng nghe, phối hợp và tạo điều kiện để Mặt trận thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.
Ý kiến giám sát, phản biện, kiến nghị của Mặt trận phải được coi là kênh quan trọng để hoàn thiện lãnh đạo, quản lý, điều hành. Cấp ủy, chính quyền phải có trách nhiệm tiếp thu, giải trình, phản hồi rõ ràng. Đồng thời, Mặt trận cũng phải nâng cao chất lượng kiến nghị; nói đúng, nói trúng, nói có căn cứ, nói vì lợi ích chung, nói trên tinh thần xây dựng và theo dõi đến cùng việc giải quyết.
Ngay sau Đại hội, đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả; làm sao để tinh thần Đại hội không chỉ nằm trong văn kiện, mà đi vào từng khu dân cư, từng tổ chức thành viên, từng phong trào, từng việc làm thiết thực vì Nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có truyền thống vẻ vang gần một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, với truyền thống vẻ vang đó, với tinh thần đổi mới của Đại hội, với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng lòng ủng hộ của các tầng lớp Nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ tiếp tục có bước phát triển mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn; xứng đáng là trung tâm tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh vô địch của Nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục đoàn kết một lòng, chung sức, đồng lòng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI; góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Chúng ta hãy luôn khắc ghi lời dạy đó. Hãy làm cho đoàn kết trở thành sức mạnh. Hãy làm cho dân chủ trở thành động lực. Hãy làm cho niềm tin của Nhân dân trở thành nền tảng vững chắc của đất nước.
Xin chúc các quý vị đại biểu, các cụ, các vị và các đồng chí, bạn bè quốc tế mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.
Chúc Đại hội thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn./.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 24.4, tại UBND TP.HCM, ông Nguyễn Lộc Hà, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna cùng đoàn công tác nhằm thúc đẩy hợp tác song phương.
Phát biểu tại buổi gặp mặt, ông Nguyễn Lộc Hà hoan nghênh Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna cùng hơn 10 tập đoàn doanh nghiệp hàng đầu Estonia đến thăm Việt Nam và TP.HCM. Ông Hà cho rằng đây là tín hiệu tích cực, thể hiện sự coi trọng của Chính phủ Estonia nhằm phát triển quan hệ hai nước toàn diện hơn.
Ông Nguyễn Lộc Hà khẳng định Việt Nam luôn coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, trong đó Estonia là đối tác ưu tiên ở khu vực Baltic. Đồng thời, bày tỏ vui mừng khi nhận thấy trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Estonia tiếp tục có những bước phát triển tích cực.
Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM đánh giá cao việc Estonia tích cực ủng hộ Việt Nam trong quan hệ với Liên minh châu Âu và đề nghị Estonia thúc đẩy các nước EU còn lại sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA); khuyến khích các doanh nghiệp Estonia hợp tác đầu tư với Việt Nam và TP.HCM trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng, logistics số hóa, giải pháp công nghệ mới cho pin ô tô điện, y sinh…
Từ ngày 1.7.2025, TP.HCM đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Sau khi sáp nhập hành chính với hai tỉnh Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM mới có diện tích hơn 6.700 km2, dân số hơn 14 triệu người; là nơi hội tụ của 3 cực tăng trưởng năng động nhất cả nước. TP.HCM hết sức chú trọng hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh đồng bộ. Đặc biệt, TP.HCM đang đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển mới.
Chính vì vậy, ông Nguyễn Lộc Hà tin rằng với định hướng phát triển, TP.HCM có nhiều điểm tương đồng và tính bổ trợ rõ rệt với nền kinh tế Estonia, quốc gia đi đầu thế giới về chuyển đổi số và hợp tác trong các lĩnh vực trên.
Cũng phát biểu tại buổi gặp, Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna cho rằng hai nước có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, cùng trải qua những giai đoạn khó khăn và luôn đề cao các giá trị tự do. Dù khoảng cách địa lý không gần nhau nhưng hai nước vẫn chia sẻ những giá trị chung, tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy hợp tác.
Theo Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna, kể từ khi giành lại độc lập vào năm 1991, Estonia đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực số. Hiện 100% dịch vụ công của nước này được cung cấp trực tuyến và an ninh mạng thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Estonia có hệ sinh thái doanh nghiệp đa dạng, từ công nghệ thông tin, năng lượng đến sản xuất và đổi mới sáng tạo, với 11 startup kỳ lân dù dân số chỉ khoảng 1,3 triệu người. Một trong những sáng kiến nổi bật là chương trình "e-residency", cho phép công dân toàn cầu, trong đó có người Việt Nam, có thể tham gia môi trường kinh doanh tại Estonia từ xa.
Ông Margus Tsahkna vui mừng khi Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển công nghệ và năng lượng xanh, đồng thời khẳng định Estonia sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình này. Ngoài ra, Estonia là thành viên EU và mong muốn đóng vai trò cầu nối giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường châu Âu, đồng thời coi Việt Nam là cửa ngõ vào khu vực.
Ông khẳng định Việt Nam đang trở thành ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Estonia, và hai bên sẽ hướng tới các hoạt động hợp tác cụ thể, lâu dài trong thời gian tới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao VN thể hiện sự coi trọng cao của VN đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới.
Ngay sau Lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Anutin Charnvirakul cùng đoàn đại biểu cấp cao hai nước tiến hành hội đàm.
Tại hội đàm, Thủ tướng Anutin Charnvirakul nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm chính thức Thái Lan; nhấn mạnh chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026), đồng thời thể hiện sự tin cậy chính trị cao giữa hai quốc gia.
Chân thành cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, chu đáo, thắm tình hữu nghị của Thủ tướng Anutin Charnvirakul, Chính phủ và nhân dân Thái Lan dành cho đoàn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định VN luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Thái Lan không ngừng phát triển. Trong bối cảnh thế giới đứng trước nhiều thách thức về địa chính trị - kinh tế toàn cầu, Thái Lan và VN vẫn duy trì ổn định và phát triển, khẳng định vai trò và vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Tại hội đàm, hai nhà lãnh đạo đánh giá cao các bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện và thực chất của quan hệ song phương thời gian qua: tin cậy chính trị được củng cố, hợp tác quốc phòng - an ninh ngày càng đi vào chiều sâu và trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ hai nước; hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tăng trưởng tích cực; hợp tác địa phương, văn hóa, giáo dục, du lịch và giao lưu nhân dân được mở rộng, với nhiều hình thức phong phú, thực chất.
Trao đổi về phương hướng làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian tới, hai nhà lãnh đạo bày tỏ sẵn sàng đồng hành, cùng hỗ trợ nhau phát triển. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường tin cậy chính trị thông qua duy trì tiếp xúc cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh; nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có; nhất trí tổ chức kỳ họp lần thứ năm Nội các chung VN - Thái Lan, Thái Lan - VN tại Thái Lan; sớm tổ chức kỳ họp Ủy ban hỗn hợp hợp tác song phương giữa hai bộ trưởng ngoại giao.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy, làm sâu sắc hơn nữa hợp tác quốc phòng - an ninh, tăng cường phối hợp phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, ma túy và hợp tác bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị hai bên tiếp tục đề cao và thực hiện cam kết của lãnh đạo cấp cao hai nước không cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để hoạt động chống lại nước kia; sớm tiến tới đàm phán và ký kết Hiệp định Dẫn độ và Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự.
Trong lĩnh vực kinh tế, hai nhà lãnh đạo nhất trí đẩy mạnh hợp tác, kết nối kinh tế theo hướng bổ trợ lẫn nhau, với những đột phá mới và phát triển mới về chất; phấn đấu sớm đưa kim ngạch thương mại song phương từ mức 22 tỉ USD hiện nay lên mức 25 tỉ USD theo hướng cân bằng, bền vững, đẩy nhanh các thủ tục cấp phép, mở cửa thị trường cho một số sản phẩm nông nghiệp tiềm năng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên nhanh chóng thành lập nhóm công tác chung để xây dựng kế hoạch, thúc đẩy triển khai hiệu quả Chiến lược "Ba kết nối" quan trọng, bao gồm kết nối chuỗi cung ứng; kết nối doanh nghiệp, địa phương; và kết nối các chiến lược phát triển bền vững. Tăng cường kết nối giao thông, logistics; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo và chuyển dịch năng lượng công bằng.
Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường giao lưu nhân dân, hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch và địa phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên chia sẻ thông tin và kinh nghiệm phát triển du lịch, thúc đẩy hợp tác liên kết phát triển sản phẩm du lịch, kết nối điểm đến giữa hai nước, đặc biệt trong các mảng có thế mạnh chung như du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch ẩm thực.
Hai bên nhất trí tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người VN tại Thái Lan và cộng đồng người Thái Lan tại VN; tăng cường việc giảng dạy tiếng Việt tại Thái Lan và tiếng Thái tại VN để tăng cường hiểu biết lẫn nhau; bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử, văn hóa gắn với quan hệ hữu nghị giữa hai nước, trong đó có các khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan.
Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN và củng cố đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Kông. Hai bên đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương triển khai các kết quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm, đưa quan hệ VN - Thái Lan phát triển thực chất và hiệu quả trong thời gian tới.
Sau cuộc hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul đã chứng kiến lễ ký Chương trình Hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện VN - Thái Lan giai đoạn 2026 - 2031 và trao các văn kiện hợp tác trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và giáo dục. Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Anutin Charnvirakul đã cùng ấn nút khai trương Logo kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao VN - Thái Lan.
*Cùng ngày, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul đã gặp gỡ báo chí thông báo kết quả hội đàm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết lãnh đạo hai nước đã có cuộc hội đàm rất thành công và đạt được nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất. Hai bên đánh giá cao những bước phát triển tích cực của quan hệ VN - Thái Lan trong thời gian vừa qua. Trong đó sự tin cậy chính trị giữa hai nước không ngừng được củng cố; hợp tác quốc phòng, an ninh được tăng cường; hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư tiếp tục là điểm sáng; giao lưu nhân dân diễn ra sôi động; phối hợp tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong ASEAN ngày càng chặt chẽ.
Trên nền tảng đó, hai bên đã trao đổi sâu rộng về các phương hướng, biện pháp nhằm đưa quan hệ VN - Thái Lan ngày càng phát triển mạnh mẽ, bền vững và hiệu quả hơn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh hai bên sẽ đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực tiềm năng như năng lượng sạch, kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo, nông nghiệp công nghệ cao, đẩy mạnh kết nối hạ tầng giao thông và logistics, tận dụng hiệu quả các hành lang kinh tế trong tiểu vùng Mê Kông, nhất là hành lang kinh tế Đông Tây, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước và trong khu vực.
Về hợp tác giữa các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết sẽ tăng cường hơn hiệu quả hợp tác, đẩy mạnh quảng bá du lịch, kết nối văn hóa, giáo dục, tăng cường giao lưu nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, qua đó làm sâu sắc hơn sự hiểu biết và gắn bó giữa hai dân tộc. Đánh giá cao sự quan tâm và hỗ trợ của Chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng người VN đang sinh sống, học tập và làm việc tại Thái Lan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định đây là cầu nối quý báu trong quan hệ hai nước, một phần không thể thiếu trong nỗ lực gìn giữ và phát triển tình hữu nghị, gắn bó giữa nhân dân hai nước.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định tầm quan trọng của việc giữ vững đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN, nhất trí tăng cường phối hợp lập trường trong các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; hoan nghênh việc Thái Lan và Campuchia thực hiện nghiêm túc lệnh ngừng bắn và mong muốn hai nước duy trì đối thoại, giải quyết các tranh chấp biên giới bằng biện pháp hòa bình về lâu dài của cả hai bên và của cả khu vực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ tin tưởng với quyết tâm chung của lãnh đạo và nhân dân hai nước, quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện VN - Thái Lan sẽ tiếp tục được phát triển mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn nữa, đáp ứng được lợi ích của nhân dân hai nước và đóng góp tích cực cho hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Cùng ngày, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch Hạ viện Thái Lan Sophon Saram.
Chủ tịch Quốc hội Sophon Saram nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần đầu tiên thăm Thái Lan trên cương vị mới và đánh giá cao chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đúng dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Chúc mừng kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Anutin Charnvirakul, Chủ tịch Quốc hội Sophon Saram bày tỏ tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Hai nhà lãnh đạo vui mừng sau 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ VN - Thái Lan không ngừng phát triển mạnh mẽ và thực chất trên mọi lĩnh vực; nhấn mạnh việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025 phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao và quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc đưa hợp tác song phương bước sang giai đoạn phát triển mới. Hai bên cũng đánh giá cao vai trò cùng những đóng góp tích cực của Quốc hội hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và giám sát triển khai hiệu quả các thỏa thuận song phương.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định mong muốn quan hệ hai nước nói chung và quan hệ giữa Quốc hội hai nước sẽ ngày càng tốt đẹp, nhất là trong bối cảnh hai nước cùng bước vào giai đoạn phát triển mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội Thái Lan tiếp tục quan tâm, ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, trong đó có Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2026 - 2031 vừa được ký kết tại cuộc hội đàm với Thủ tướng Anutin Charnvirakul, với nhiều nội dung hợp tác quan trọng trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, kết nối hạ tầng, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân...
Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chuyển lời thăm hỏi và lời mời của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mời Chủ tịch Quốc hội Thái Lan sớm thăm VN vào thời gian phù hợp. Chủ tịch Quốc hội Thái Lan cảm ơn và bày tỏ mong muốn sớm thăm VN.
Tin Gốc: Thanh Niên

