Sáng 29.5, hơn 24.800 thí sinh tại Khánh Hòa hoàn thành bài thi môn tiếng Anh trong thời gian 60 phút theo hình thức kết hợp trắc nghiệm và tự luận, khép lại kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT công lập kéo dài 2 ngày trên địa bàn tỉnh.
Trước đó, ngày 28.5, thí sinh dự thi môn ngữ văn theo hình thức tự luận trong 120 phút và môn toán trong 120 phút với cấu trúc gồm 70% câu hỏi trắc nghiệm, 30% câu hỏi tự luận. Đây là năm đầu tiên môn toán được tổ chức theo hình thức này.
Đề thi môn toán tại kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tỉnh Khánh Hòa
ẢNH: BÁ DUY
Kết thúc các môn thi, đa số thí sinh nhận xét đề thi vừa sức, bám sát chương trình học và cấu trúc đề minh họa của Sở GD-ĐT.
Với môn ngữ văn, đề được thiết kế theo hướng mở, câu hỏi gần gũi với đời sống; câu nghị luận xã hội nêu vấn đề về việc giúp bạn trẻ biết trân quý vẻ đẹp cảnh sắc quê hương được nhiều thí sinh đánh giá là ấn tượng.
Sau khi hoàn thành bài thi môn toán, em Phương Linh, học sinh Trường THCS Âu Cơ (phường Nha Trang), cho biết đề thi vừa sức, cấu trúc quen thuộc nên em làm bài khá tốt.
Theo nhận định của nhiều giáo viên tại Khánh Hòa, dù đây là năm đầu tiên môn toán được tổ chức theo hình thức kết hợp 70% trắc nghiệm và 30% tự luận, phần lớn thí sinh không bỡ ngỡ do đã được ôn tập, làm quen từ trước. Đề thi được đánh giá có tính phân loại, phù hợp để tuyển chọn học sinh khá, giỏi.
Đối với môn tiếng Anh, giáo viên nhận xét đề thi bám sát chương trình THCS, tập trung chủ yếu vào kiến thức lớp 9, đồng thời có một số câu hỏi mang tính phân loại học sinh khá, giỏi.
Đề thi môn ngữ văn tại kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tỉnh Khánh Hòa
Theo Sở GD-ĐT Khánh Hòa, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm nay diễn ra nghiêm túc, an toàn và đúng quy chế. Trong suốt kỳ thi, có 163 thí sinh vắng mặt ở môn ngữ văn, 171 thí sinh vắng mặt ở môn toán và 183 thí sinh vắng mặt ở môn tiếng Anh.
Đáng chú ý, trong buổi thi môn toán, 2 thí sinh bị đình chỉ thi do mang điện thoại vào phòng thi.
Tại điểm thi Trường THPT Tháp Chàm (phường Bảo An) và Trường THPT Đoàn Thị Điểm (xã Suối Dầu), 2 thí sinh bị gãy tay được bố trí thi tại phòng riêng. Các em được hỗ trợ ghi bài theo đúng quy chế, bảo đảm quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành bài thi.
Chiều 29.5, 1.897 thí sinh đăng ký dự tuyển vào 2 trường THPT chuyên của tỉnh tiếp tục tham gia kỳ thi với các môn chuyên theo hình thức tự luận. Riêng môn chuyên tin học được tổ chức theo hình thức lập trình trực tiếp trên máy tính, thời gian làm bài 150 phút.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia: Biến dạng bản chất do 'hành chính hóa'

Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề về tính trung thực và liêm chính khoa học cần có giải pháp hiệu quả.
Trước năm 2012, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật (KHKT) của học sinh (HS) phổ thông ở VN chủ yếu mang tính phong trào, tự phát, thiếu chuẩn mực khoa học và chưa gắn với chương trình học chính khóa.
Giai đoạn 2009 - 2012, Bộ GD-ĐT bắt đầu tiếp cận mô hình Intel International Science and Engineering Fair (ISEF) thông qua các hội thảo tại Hà Nội và TP.HCM, đồng thời cử HS tham dự với tư cách dự thi độc lập. Bước ngoặt xuất hiện từ năm học 2012 - 2013 khi cuộc thi nghiên cứu KHKT cấp quốc gia chính thức được tổ chức theo mô hình này. Đây không chỉ là sự tiếp thu kỹ thuật tổ chức mà còn là bước đi chiến lược, giúp HS VN tiếp cận sớm với chuẩn mực nghiên cứu quốc tế.
Từ đó, cuộc thi từng bước hoàn thiện với hệ thống lĩnh vực đa dạng, quy trình tuyển chọn 3 cấp (trường, tỉnh, quốc gia) và cơ chế hướng dẫn bài bản.
Từ năm 2022 đến nay, trong bối cảnh triển khai Chương trình GDPT 2018, cuộc thi KHKT ngày càng gắn chặt với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Hoạt động nghiên cứu KHKT trở thành một phương thức học tập, thông qua các dự án học tập (project-based learning).
Do đó, cuộc thi có những giá trị không thể phủ nhận như đã góp phần hình thành văn hóa nghiên cứu trong trường phổ thông - điều vốn thiếu trước đây; tạo ra một sân chơi học thuật có tính hội nhập; góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và là kênh phát hiện, bồi dưỡng HS có năng khiếu nghiên cứu. Không ít HS trưởng thành từ cuộc thi đã tiếp tục theo đuổi con đường KHKT, trở thành nguồn nhân lực tiềm năng cho tương lai.
Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề bất cập. Trước hết là sự chênh lệch vùng miền. Các trường ở đô thị với cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tốt có lợi thế rõ rệt, trong khi HS nông thôn, miền núi thiếu thiết bị, thiếu người hướng dẫn và môi trường nghiên cứu. Khoảng cách này ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng của cuộc thi.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là hiện tượng làm thay. Không ít đề tài vượt quá khả năng thực tế của HS. Khi giáo viên, phụ huynh hoặc chuyên gia can thiệp quá sâu, ý nghĩa giáo dục bị bóp méo: HS không học cách nghiên cứu mà chỉ trình diễn sản phẩm.
Bên cạnh đó, nhiều đề tài thiếu tính mới, trùng lặp hoặc chạy theo xu hướng to tát để đoạt giải, làm suy giảm tính sáng tạo. Áp lực thành tích cũng khiến cuộc thi ở một số nơi trở thành cuộc đua danh hiệu. Trong khi đó, quy chế đã quy định rõ về liêm chính học thuật. Do vậy vấn đề không nằm ở quy định mà ở việc thực thi và xây dựng văn hóa trung thực. Những trường hợp bị thu hồi giải gần đây cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về sự minh bạch và kiên trì với liêm chính khoa học.
Trước nhiều lùm xùm của cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia, có ý kiến cho rằng nên bỏ cuộc thi này. Tuy vậy, vấn đề không phải là bỏ hay giữ mà là làm thế nào để trả lại đúng bản chất của nó.
Để làm được điều này, cần tách cuộc thi khỏi áp lực thi đua hành chính. Khi giải thưởng không còn là chỉ tiêu thì động cơ tham gia sẽ trở nên trong sáng hơn. Kế đến, cần chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một dự án chưa hoàn chỉnh nhưng trung thực có giá trị hơn một sản phẩm hoàn hảo nhưng giả tạo.
Cần siết chặt cơ chế kiểm chứng: bắt buộc nhật ký nghiên cứu, yêu cầu cung cấp dữ liệu thô, tăng cường phỏng vấn trực tiếp, mời chuyên gia độc lập phản biện đề tài... Ngoài ra, cũng cần minh bạch hóa vai trò của người hướng dẫn. Giáo viên và chuyên gia chỉ nên đóng vai trò định hướng, không làm thay. Mức độ hỗ trợ cần được quy định rõ ràng, và sự tham gia của các bên liên quan phải được công khai.
Cuối cùng là xây dựng văn hóa liêm chính khoa học trong nhà trường. Khi HS hiểu rằng trung thực quan trọng hơn giải thưởng, thì cuộc thi sẽ tự điều chỉnh lành mạnh.
Cuộc thi không chỉ là sân chơi mà là tấm gương phản chiếu cách chúng ta hiểu giáo dục. Nếu vẫn thi để lấy giải thì mô hình tiên tiến cũng khó hiệu quả. Ngược lại, nếu nuôi dưỡng tinh thần khoa học - trung thực là nền tảng, sáng tạo là mục tiêu - cuộc thi có thể trở thành điểm sáng. Vấn đề cốt lõi không phải HS có gian lận hay không, mà là môi trường đã đủ tốt để không có gian lận.
Trong giáo dục, bất kỳ mô hình nào nếu mất đi niềm tin xã hội đều khó tồn tại lâu dài. Nhưng điều đáng nói là những vụ việc bị phát hiện và xử lý cũng cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh.
Một hệ thống không có sai phạm không phải là hệ thống tốt. Một hệ thống biết phát hiện và sửa sai mới là hệ thống có khả năng phát triển.
Cuộc thi KHKT dành cho HS trung học tại Mỹ, tiêu biểu là Regeneron International Science and Engineering Fair (ISEF), ra đời năm 1950 trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh giáo dục khoa học sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Từ quy mô phong trào, ISEF nhanh chóng phát triển thành sự kiện KHKT lớn nhất thế giới dành cho HS. Sau hơn 70 năm, ISEF trở thành biểu tượng của văn hóa khoa học thế giới.
Tại VN, cuộc thi KHKT cấp quốc gia (ViSEF) được Bộ GD-ĐT triển khai từ năm 2012 dựa trên mô hình ISEF. Từ thí điểm ban đầu, cuộc thi nhanh chóng mở rộng toàn quốc, trở thành sân chơi thường niên và kênh tuyển chọn HS dự thi quốc tế. Như vậy, cùng một mô hình nhưng tại VN lại vấp tranh cãi gian lận, thu hồi giải, niềm tin suy giảm.
Bản thân cuộc thi ViSEF không có lỗi. Tinh thần cốt lõi của các sân chơi này là tạo cơ hội để HS học cách làm khoa học - đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, tiến hành thử nghiệm, phân tích dữ liệu và bảo vệ kết quả của mình trước phản biện. Do đó, cuộc thi không phải là cuộc trình diễn sản phẩm mà là quá trình học tập thông qua nghiên cứu. VN đưa mô hình này vào giáo dục là bước đi đúng. Nhưng giáo dục không phải là câu chuyện của mô hình mà là môi trường học tập và trung thực.
Ở Mỹ, HS tham gia thi phần lớn xuất phát từ đam mê hoặc định hướng nghề nghiệp. Các cuộc thi như ISEF là nơi để các em thử sức, cọ xát, và nếu có thành tích, đó là kết quả tự nhiên của quá trình nghiêm túc. Trong khi đó, tại VN, cuộc thi nhanh chóng được gắn vào hệ thống thi đua. Thành tích của HS không còn là chuyện cá nhân mà trở thành của nhà trường, địa phương, thậm chí liên quan đến đánh giá giáo viên. Khi đó, áp lực không còn nằm ở việc HS học được gì, mà là phải có giải. Và khi có giải trở thành mục tiêu thì mọi phương tiện đều có nguy cơ được biện minh.
Chính sự hành chính hóa này đã làm biến dạng bản chất của cuộc thi. Một sân chơi học thuật bị kéo về logic của phong trào: thi để đạt chỉ tiêu, để đạt thành tích.
Giáo Dục
UTH khẳng định vai trò nòng cốt trong đào tạo nhân lực đường sắt tốc độ cao

Ngày 10.4, tại UTH, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tổ chức tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học về đường sắt, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia về phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Tiếp theo hoạt động khảo sát để hoàn thiện Đề án "Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045" ngày 3.10.2025 tại UTH, sự kiện là bước triển khai quan trọng để thực hiện Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg. Đồng thời, Tọa đàm ghi nhận vai trò tiên phong của UTH trong việc sẵn sàng và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án đường sắt quy mô lớn của quốc gia.
Tọa đàm do TS Đặng Văn Huấn - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) - chủ trì, với sự tham dự của PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH; đại diện lãnh đạo, chuyên gia đến từ 15 cơ sở giáo dục đại học và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, giao thông vận tải. Việc UTH được lựa chọn đăng cai tổ chức Tọa đàm một lần nữa khẳng định uy tín, năng lực của nhà trường trong đào tạo, nghiên cứu các lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt hiện đại, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao - những lĩnh vực then chốt trong hiện thực hóa khát vọng phát triển hạ tầng chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Phát biểu khai mạc, TS Đặng Văn Huấn nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Chuẩn chương trình đào tạo đồng bộ, hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, nhất là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và hệ thống đường sắt đô thị tại các trung tâm kinh tế - xã hội lớn. Theo ông, việc chuẩn hóa chương trình đào tạo không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực đường sắt, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện hiệu quả các định hướng chiến lược được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển hạ tầng.
Theo báo cáo tại tọa đàm, dự thảo chuẩn chương trình đào tạo ngành đường sắt được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bám sát thực tiễn trong nước và định hướng liên ngành, tích hợp các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, công nghệ thông tin và khai thác vận tải. Nội dung đào tạo chú trọng cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tăng cường thí nghiệm, thực tập, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp - mô hình mà UTH đã triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua, qua đó tạo tiền đề để nhanh chóng hình thành đội ngũ kỹ sư có thể tham gia ngay vào các dự án đường sắt tốc độ cao khi được triển khai. Tại phiên thảo luận, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần tiếp cận ngành đường sắt như một hệ thống tích hợp đa lĩnh vực, trong đó nhân lực phải có năng lực tổng hợp về kỹ thuật, công nghệ và quản lý, phù hợp với yêu cầu vận hành các tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại.
Đóng góp ý kiến, TS Lê Anh Uyên Vũ - Phó viện trưởng Viện Cơ khí UTH - cho biết các chương trình đào tạo hiện nay của UTH về đường sắt được xây dựng theo định hướng liên ngành, chuẩn đầu ra cơ bản tương thích với dự thảo chuẩn đang xây dựng, cho thấy định hướng đào tạo của UTH phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của ngành. TS Uyên Vũ cũng đề xuất Hội đồng xây dựng chuẩn CTĐT có thể tham khảo chương trình mà UTH đang triển khai như một hướng tiếp cận hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đường sắt hiện đại và đường sắt tốc độ cao.
Các đại biểu cũng kiến nghị khá tương đồng với ý kiến từ các chuyên gia của UTH về việc cần tinh gọn, giảm số lượng chuẩn đầu ra, tăng tỷ trọng thực hành, đẩy mạnh học kỳ doanh nghiệp, đồng thời bổ sung các nội dung về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, an toàn hệ thống - những yêu cầu công nghệ cốt lõi của đường sắt tốc độ cao. Nhiều ý kiến thống nhất rằng chương trình đào tạo cần linh hoạt, gắn với thực tiễn, nhu cầu thị trường lao động và các lộ trình, quy hoạch phát triển đường sắt mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong các văn kiện chiến lược.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH - khẳng định UTH luôn chủ động, tiên phong trong đón đầu các xu hướng phát triển nguồn nhân lực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Hiệu trưởng nhấn mạnh UTH đã và đang từng bước hoàn thiện các chương trình đào tạo, tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thực hành, mô phỏng… để sẵn sàng đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong đào tạo kỹ sư đường sắt tốc độ cao, góp phần hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng về phát triển hạ tầng chiến lược, chuyển đổi cơ cấu vận tải theo hướng hiện đại, bền vững. Ông khẳng định UTH sẵn sàng đồng hành cùng Bộ GD-ĐT và các đối tác trong việc hoàn thiện, triển khai chuẩn CTĐT; chia sẻ về các CTĐT về đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị đang triển khai tại trường.
Với định hướng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải phía Nam, UTH đang từng bước khẳng định vai trò trụ cột trong đào tạo nguồn nhân lực đường sắt chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, xu thế phát triển công nghệ và định hướng mở rộng mạng lưới đường sắt tốc độ cao của đất nước. Các đại biểu của UTH tham dự Tọa đàm góp ý cho dự thảo theo thực tiễn các CTĐT của UTH luôn được cải tiến kịp thời để theo kịp định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các chương trình đào tạo của UTH được cải tiến ưu tiên đào tạo kiến thức nền tảng, đào tạo sinh viên phát triển tư duy, cách học, cách giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và ứng dụng hiệu quả AI và dữ liệu lớn vào học tập và thực tiễn.

Suốt hai năm nay, trừ những kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, tháng nào trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng xét và cấp bằng cho ít nhất 16 sinh viên, nhiều nhất hơn 2.300 em.
"Nếu chỉ 1-2 sinh viên có nhu cầu, nhà trường vẫn tổ chức", PGS. TS Nguyễn Văn Thụ, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nói.
Cách làm này thuộc diện hiếm, bởi các trường đại học thường có 1-4 đợt xét tốt nghiệp mỗi năm, phổ biến là hai đợt.
Ông Thụ cho biết lý do là lịch tuyển dụng của các cơ quan khác nhau. Cụ thể là ngành Sư phạm, mỗi tỉnh, thành hay trường học có lịch riêng theo nhu cầu chứ không cố định.
"Việc cấp bằng tốt nghiệp kịp thời giúp sinh viên có thể nộp hồ sơ tuyển dụng ngay", ông Thụ đánh giá. Bên cạnh đó, sinh viên có nguyện vọng học lên thạc sĩ, tiến sĩ cũng kịp thời tham gia xét tuyển.
Nguyễn Phúc Sơn, giáo viên tại Tây Ninh, tốt nghiệp xuất sắc ngành Sư phạm Tiếng Anh, năm ngoái, cho biết nộp hồ sơ xét tốt nghiệp vào tháng 9 thì đến tháng 10 nhận được chứng nhận tốt nghiệp tạm thời. Một tháng sau, Sơn có bằng chính thức.
Nếu đợi nhận bằng vào lễ tốt nghiệp, nam sinh có thể phải chờ thêm 7 tháng nữa, sang tháng 6 của năm sau. Nhờ sự linh hoạt trong xét và cấp bằng tốt nghiệp của trường, Sơn thuận lợi rải đơn xin việc.
Theo ông Thụ, dù thuận lợi nhưng cách làm trên khiến thầy cô vất vả hơn khi phải "gánh" thêm nhiều việc. Mỗi tháng, trường đều phải thành lập hội đồng xét tốt nghiệp để rà soát các điều kiện, xét các chuẩn đầu ra...
"Các dữ liệu phải cập nhật liên tục, đảm bảo chính xác tuyệt đối, kịp tiến độ xét tốt nghiệp hàng tháng", ông Thụ nói.
Động lực của trường là những phản hồi tích cực từ phụ huynh và sinh viên. Ông Thụ kể có phụ huynh đến trường để cảm ơn, ôm chầm lấy hiệu trưởng khi gặp ở sân trường. Có người mẹ mắc bệnh hiểm nghèo, mong mỏi được nhìn thấy bằng tốt nghiệp đại học của con trước khi mất.
"Việc nhận bằng kịp thời giúp sinh viên thực hiện được mong muốn, phụ huynh rất cảm động", ông chia sẻ.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trong các trường đào tạo giáo viên chủ chốt của cả nước. Ngoài khối ngành này, trường có một số ngành ngôn ngữ, kỹ thuật, công nghệ thông tin, mỗi năm khoảng 1.000-3.000 sinh viên tốt nghiệp.
Tin Gốc: Vnexpress

