Bởi đây không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật của một dự án hạ tầng, mà còn là câu chuyện về cách ứng xử của xã hội hôm nay đối với những giá trị mà người xưa để lại.
Tháp Hòa Lai (ở xã Thuận Bắc, trước đây thuộc Ninh Thuận) là một quần thể kiến trúc Chăm có niên đại hơn 1.000 năm. Trải qua bao biến động của lịch sử, thời gian và thiên nhiên, công trình ấy vẫn hiện diện như một chứng nhân văn hóa của vùng đất Nam Trung bộ.
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, những công trình như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, phát triển không đồng nghĩa với việc phải đánh đổi các giá trị di sản.
Thực tế cho thấy, đây không phải lần đầu tiên các cơ quan chức năng lựa chọn giải pháp hài hòa giữa phát triển và bảo tồn. Trước đó, khi nâng cấp QL25 qua khu vực Phú Hòa (Phú Yên, nay thuộc Đắk Lắk), cơ quan chức năng cũng đã điều chỉnh hướng tuyến để tránh 3 cây sộp cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Những cây sộp này không chỉ là cây xanh đơn thuần mà là một phần ký ức, một phần lịch sử của cộng đồng cư dân địa phương.
Điều đáng quý trong cả hai câu chuyện chính là sự trân trọng đối với những giá trị không thể tái tạo. Một tuyến đường có thể làm lại, một cây cầu có thể xây mới, nhưng một ngôi tháp nghìn năm tuổi hay một di sản văn hóa đã mất đi thì không thể phục dựng nguyên vẹn như ban đầu.
Mặc dù sự điều chỉnh ấy có thể làm phát sinh chi phí, thêm công sức khảo sát, thêm những tính toán kỹ thuật; nhưng đổi lại là sự gìn giữ được những giá trị văn hóa vô giá và quan trọng hơn là tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội.
Đường sắt tốc độ cao rồi sẽ đưa đất nước đi nhanh hơn. Nhưng sự phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi trên hành trình ấy, những giá trị nghìn năm vẫn được gìn giữ và tôn trọng. Và cách ứng xử có văn hóa với di sản như vậy rất cần được nhân rộng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị mới, và cũng đúng vào dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, nhận được sự kỳ vọng cao từ cả Chính phủ lẫn giới học giả Ấn Độ.
Không phải ngẫu nhiên mà trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Việt Nam trước chuyến thăm, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Tshering W. Sherpa nhiều lần nhấn mạnh quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là mối quan hệ mà "bầu trời không phải là giới hạn".
Chính vì "không có trần giới hạn", quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ không dừng lại ở tầm mức Đối tác chiến lược toàn diện, mà còn hướng tới một không gian hợp tác rộng mở hơn, sâu hơn và thực chất hơn trong bối cảnh mới.
"Chính phủ Ấn Độ đặc biệt coi trọng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Sự hiện diện của nhà lãnh đạo cao nhất Đảng, Nhà nước Việt Nam tại Ấn Độ và các cuộc gặp của ông với các lãnh đạo cấp cao Ấn Độ sẽ tạo thêm động lực cho quan hệ song phương vốn đã rất mạnh mẽ và năng động", Đại sứ Tshering W. Sherpa khẳng định.
Ông dẫn chứng thương mại song phương tăng gấp đôi trong vòng 10 năm, kết nối hàng không từ chỗ gần như không có đã phát triển lên gần 90 chuyến bay mỗi tuần.
Những con số này không chỉ phản ánh tốc độ phát triển, mà còn cho thấy chiều sâu thực chất của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Mặc dù các con số này rất đáng khích lệ, song theo nhìn nhận của ông, hiện trạng này chưa thật sự tương xứng với quan hệ chính trị tốt đẹp và tiềm năng, thế mạnh của mỗi bên.
Giáo sư Reena Marwah (giảng viên Đại học Delhi và là Tổng Thư ký Hiệp hội Các học giả châu Á) đánh giá nền kinh tế Việt Nam và Ấn Độ có tính bổ trợ cao, đồng thời vẫn còn rất nhiều dư địa hợp tác, theo TTXVN.
Việt Nam sở hữu vị trí địa chiến lược quan trọng, đường bờ biển dài, là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Kinh nghiệm của Việt Nam trong phát triển cảng biển, logistics và hội nhập kinh tế quốc tế được cho là phù hợp với nhu cầu phát triển hạ tầng và kết nối của Ấn Độ.
Ấn Độ có lợi thế về công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (AI), dịch vụ số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc kết hợp năng lực sản xuất, vị trí chiến lược và khả năng hội nhập của Việt Nam với công nghệ, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Ấn Độ có thể tạo ra động lực tăng trưởng mới cho cả hai nền kinh tế.
Đặc biệt việc Việt Nam thể hiện quyết tâm phát triển khoa học - công nghệ, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân qua nghị quyết 57 và nghị quyết 68, đã mở ra dư địa hợp tác lớn với Ấn Độ trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, công nghệ phần mềm, đào tạo nhân lực công nghệ cao, cũng như các ngành mới như đất hiếm, khoáng sản chiến lược, pin và công nghiệp 4.0 - 5.0...
Việt Nam, trong cách nhìn của Ấn Độ như Đại sứ Tshering W. Sherpa chia sẻ, không chỉ là một đối tác song phương, mà còn là trụ cột quan trọng trong chính sách "Hành động hướng Đông" và trong tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của New Delhi.
Còn với Việt Nam, chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát đi thông điệp rộng hơn: kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đồng thời chủ động làm sâu sắc quan hệ với những đối tác lớn, đáng tin cậy, có cùng lợi ích chiến lược lâu dài.
Giáo sư Harsh V. Pant, Phó chủ tịch Quỹ Nghiên cứu nhà quan sát, nhấn mạnh chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này không chỉ mang tính biểu tượng, mà còn khẳng định Việt Nam coi trọng và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác với Ấn Độ sau một thập niên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua nhiều biến động và thách thức lớn, việc lãnh đạo cấp cao hai nước trực tiếp trao đổi, tiếp xúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình củng cố lòng tin và định hướng hợp tác.
Nhiệm kỳ hiện tại của Thủ tướng Narendra Modi sẽ kết thúc vào năm 2029, rất gần với cột mốc 2030 mà Việt Nam đã đặt ra cho mục tiêu trở thành nước đang phát triển có nền công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao nhân kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó có niềm tin để hy vọng rằng trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu 100 năm đầu tiên của Việt Nam, Ấn Độ và Thủ tướng Narendra Modi sẽ là đối tác, người bạn đồng hành đáng tin cậy.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Nguồn: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

Các dự án được triển khai nằm trong kế hoạch đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật, xã hội trọng điểm chào mừng 50 năm ngày TP Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026).
Nổi bật nhất là tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành dài gần 48 km, trong đó đoạn qua TP HCM khoảng 11,5 km và Đồng Nai hơn 36 km. Toàn tuyến dự kiến có 19 ga, gồm 2 ga ngầm và 17 ga trên cao. Công trình được kỳ vọng kết nối trung tâm TP HCM với sân bay Long Thành và tạo động lực phát triển khu Đông.
Dự án được nghiên cứu sơ bộ với tổng vốn khoảng 84.000 tỷ đồng. TP HCM, đặt mục tiêu hoàn thành năm 2030. Hiện Công ty cổ phần Đầu tư địa ốc Đại Quang Minh, thuộc Thaco, đã đề xuất tham gia.
Cầu, hầm vượt biển nối Cần Giờ với Bà Rịa - Vũng Tàu, tổng vốn hơn 93.000 tỷ đồng cũng đang hoàn thiện thủ tục để khởi công dịp này. Tổng chiều dài toàn tuyến hơn 14 km. Trong đó, phần cầu vượt biển dài hơn 8 km, hầm vượt biển dài gần 3,9 km, còn lại là đường dẫn.
Điểm đầu kết nối đường Biển Đông 2 trong Khu đô thị biển Cần Giờ, điểm cuối nối vào tuyến quy hoạch Sao Mai - Bến Đình, thuộc TP Vũng Tàu cũ. Công trình có quy mô 6 làn xe, theo hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao). Nhà đầu tư tự thu xếp vốn, bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng; đổi lại, nhà nước thanh toán bằng quỹ đất kết hợp ngân sách.
Một dự án giao thông khác là cao tốc kết nối Hồ Tràm với sân bay Long Thành. Tuyến cao tốc dài hơn 42 km, điểm đầu kết nối Vành đai 4 TP HCM và đường ĐT.991 (khu vực phường Tân Thành), điểm cuối nối ĐT.994 - trục ven biển Vũng Tàu - Bình Châu (xã Xuyên Mộc). Công trình có quy mô 8 làn xe, vận tốc thiết kế 100 km/h, kèm đường song hành, sử dụng gần 400 ha đất.
Nhà đầu tư dự kiến là Công ty cổ phần Masterise Hạ tầng cao tốc Long Thành - Hồ Tràm. Việc thanh toán hợp đồng BT kết hợp bằng quỹ đất và ngân sách, trong đó hơn 38.000 tỷ đồng từ đất, gần 6.300 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước.
Trong lĩnh vực chỉnh trang đô thị, cùng với dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội đã khởi công dịp 30/4 vừa qua, đợt này TP HCM sẽ mở rộng đường Nguyễn Tất Thành dài khoảng 2,1 km lên 8-10 làn xe, xây hầm chui Hoàng Diệu, cầu Tân Thuận 1-2 và ba cầu đi bộ qua sông.
Ngoài ra, thành phố cũng khởi công cầu Thủ Thiêm 4 với tổng vốn hơn 5.000 tỷ đồng bằng nguồn vốn đầu tư công. Công trình dài 2,16 km, điểm đầu tại đường Nguyễn Văn Linh (khu vực cầu Tân Thuận 2, quận 7 cũ) và điểm cuối tại đường Nguyễn Cơ Thạch, Khu đô thị mới Thủ Thiêm (TP Thủ Đức cũ). Cầu có 8 làn xe (6 làn cơ giới, 2 làn hỗn hợp), vận tốc thiết kế 60 km/h.
Song song với hạ tầng giao thông, TP HCM sẽ triển khai thêm nhiều dự án an sinh xã hội như các khu nhà ở xã hội tại Định Hòa, Việt Sing và dự án cải thiện môi trường nước Bình Dương.
Trong lĩnh vực giáo dục, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành và đưa vào sử dụng 70 dự án với 1.251 phòng học mới và khởi công thêm 100 dự án khác, dự kiến bổ sung 1.514 phòng học.
Trước đó, tiếp xúc cử tri, Bí thư Thành ủy TP HCM Trần Lưu Quang cho rằng việc đầu tư hạ tầng liên kết vùng là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh mới. Các công trình trọng điểm này sẽ góp phần thay đổi diện mạo giao thông, đô thị TP HCM và tăng khả năng kết nối sau khi thành phố sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu.
"Có kết nối mới phát huy hết giá trị, quy mô rộng lớn mà TP HCM đang có. Loạt dự án này sẽ tạo nền tảng phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới", ông nói.
Tin Gốc: Vnexpress

