Nhân Ngày Môi trường thế giới (5.6) và Ngày Đại dương thế giới (8.6), chúng ta cùng nhau suy ngẫm sâu sắc hơn về một vấn đề hệ trọng của thời đại, đó là quan hệ giữa con người với thiên nhiên đang đứng trước những chuyển biến lớn, đòi hỏi cách tiếp cận mới về phát triển, trách nhiệm và hành động. Môi trường an toàn và đại dương hòa bình, bền vững là vấn đề trung tâm của phát triển, an ninh, hòa bình, công bằng, đạo đức và sự trường tồn của các quốc gia dân tộc.
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc chưa từng có về môi trường sinh thái. Trái đất nóng lên liên tục, thời tiết cực đoan, băng tan, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường biển và đại dương đang tác động trực tiếp đến mọi châu lục. Sự mất cân bằng ấy cho thấy giới hạn của tự nhiên đang bị đẩy đến mức nguy hiểm.
Những thách thức đó đặt ra một câu hỏi lớn cho nhân loại: sự phát triển có bền vững không nếu nền tảng sinh thái nuôi dưỡng sự sống bị bào mòn? Trong nhiều thế kỷ, con người đã tạo nên những thành tựu vĩ đại về công nghiệp, khoa học, công nghệ, thương mại và đô thị hóa. Nhưng mô hình phát triển dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu thụ năng lượng hóa thạch, sản xuất tuyến tính và văn hóa tiêu dùng lãng phí cũng để lại những hệ quả nặng nề về môi trường sinh thái.
Từ nhận thức đó, bảo vệ môi trường phải được nhìn nhận như một nội dung cốt lõi của an ninh quốc gia và an ninh con người. Một quốc gia có thể có tăng trưởng cao, nhưng nếu người dân phải sống trong ô nhiễm và suy thoái môi trường thì chưa thể coi là phát triển bền vững. Một xã hội hiện đại và thịnh vượng phải là xã hội biết làm giàu trong giới hạn sinh thái, sử dụng tài nguyên với trách nhiệm, xem thiên nhiên là điều kiện tồn tại, là tài sản quốc gia và là di sản của các thế hệ mai sau.
Đại dương càng cho thấy rõ hơn tính liên thông tác động lẫn nhau của nhân loại. Biến động khí hậu hay bất ổn ở một vùng đại dương có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực, thương mại, năng lượng và sinh kế của nhiều quốc gia. Vì vậy, bảo vệ đại dương không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà còn là yêu cầu của hòa bình, hợp tác, luật pháp quốc tế, công bằng phát triển và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.
Đối với Việt Nam, những vấn đề đó có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Việt Nam là quốc gia biển, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Hơn 3.260 km bờ biển, hai đồng bằng lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều đô thị ven biển, nơi hàng triệu ngư dân và cộng đồng sinh sống, nên đất nước ta dễ bị tổn thương trước tình trạng nước biển dâng, bão lũ, xâm nhập mặn, sạt lở, ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi và biến động sinh thái, cũng như sự khai thác quá mức thiên nhiên.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã thể hiện trách nhiệm mạnh mẽ trước cộng đồng quốc tế thông qua cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng, giảm rác thải nhựa đại dương, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo tồn đa dạng sinh học và thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Những cam kết ấy không phải là nghĩa vụ bên ngoài đưa lại, mà là nhu cầu tự thân của đất nước. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững, trở thành quốc gia có thu nhập cao phải thực hiện đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái.
Truyền thống văn hóa các vùng, miền và làng quê Việt Nam từ lâu đã chứa đựng tinh thần hòa hợp với thiên nhiên. Trong thời đại mới, truyền thống ấy cần được nâng lên thành hệ giá trị phát triển hiện đại: tôn trọng tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên, tiêu dùng có trách nhiệm, sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh hơn, quản trị minh bạch hơn và công bằng hơn giữa các thế hệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa rộng, từ rất sớm đã đặt con người, thiên nhiên và tương lai dân tộc trong một chỉnh thể thống nhất. Người căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trong tư tưởng ấy, “trồng cây” là hành động thiết thực để gây dựng môi trường sống; “trồng người” là sự nghiệp căn bản để xây dựng chủ thể phát triển có tri thức, đạo đức và trách nhiệm. Người cũng viết: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Đó là lời kêu gọi giản dị mà vượt thời gian, mỗi cây xanh được trồng xuống là một niềm hy vọng vào tương lai, mỗi hành động bảo vệ thiên nhiên là một cách làm cho đất nước thêm bền vững, tươi đẹp và nhân văn.
Đối với biển, đảo, Người từng căn dặn đồng bào Cát Bà, Cát Hải: “…rừng là vàng, biển là bạc. Rừng biển là của ta, do nhân dân ta làm chủ, phải ra sức khai thác, bảo vệ …”. Câu nói ấy chứa đựng một quan điểm phát triển sâu sắc, quyền làm chủ tài nguyên luôn đi liền với trách nhiệm gìn giữ, khai thác phải gắn với bảo vệ, phát triển hôm nay phải nghĩ đến ngày mai. Biển không chỉ là nguồn lợi kinh tế mà còn là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền, không gian văn hóa, không gian kết nối và không gian chiến lược của dân tộc Việt Nam.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu của thời đại, chúng ta cần xác lập một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt rằng phát triển xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ đại dương và ứng phó biến đổi khí hậu phải trở thành một trụ cột của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây không phải là việc riêng của ngành tài nguyên và môi trường mà là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, từng địa phương, từng gia đình và mỗi người dân.
Muốn vậy, trong thời gian tới, cần tập trung vào sáu nhóm nhiệm vụ lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện tư duy phát triển và thể chế quản trị môi trường theo hướng coi thiên nhiên là nền tảng của phát triển bền vững. Mọi chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển phải được đặt trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái, khả năng thích ứng khí hậu và yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân. Cần thay đổi tư duy từ xử lý ô nhiễm sau phát triển sang phòng ngừa ô nhiễm ngay từ thiết kế phát triển. Đổi mới phương thức quản trị môi trường và tài nguyên theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Mở rộng thước đo phát triển, không dừng ở sản lượng hay tốc độ tăng trưởng mà bao gồm chất lượng sống, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức phát thải, năng lực chống chịu khí hậu và công bằng xã hội. Thể chế phải bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí, người bảo vệ thiên nhiên phải được hưởng lợi, địa phương phát triển xanh phải được khuyến khích, doanh nghiệp đổi mới xanh phải được hỗ trợ, còn hành vi hủy hoại môi trường phải bị xử lý nghiêm minh.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng, cơ cấu năng lượng, sản xuất, tiêu dùng và đô thị hóa. Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với an ninh hệ thống, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy công nghiệp ít phát thải, nông nghiệp sinh thái, giao thông công cộng, công trình xanh, vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, bởi chính doanh nghiệp là nơi đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi cung ứng, tạo việc làm xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế. Nhà nước cần có chính sách tài chính xanh, tín dụng xanh, mua sắm công xanh, tiêu chuẩn phát thải, cơ chế định giá các-bon và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường.
Thứ ba, phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ chủ quyền, sinh kế nhân dân và hòa bình trên biển. Việt Nam coi gìn giữ môi trường biển, bảo vệ các hệ sinh thái biển, phát triển kinh tế biển bền vững phải đi liền với giữ vững hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982; kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, và cùng xây dựng Biển Đông thành vùng biển của hợp tác, trách nhiệm và phát triển bền vững. Việt Nam sẽ xác lập mô hình phát triển kinh tế biển hiện đại hơn dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu biển, bảo tồn hệ sinh thái; phát triển hệ thống cảng biển xanh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp sinh học biển, du lịch sinh thái biển đảo, dịch vụ hàng hải, v.v… Cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác hải sản bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nâng cao đời sống ngư dân.
Thứ tư, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên và xây dựng năng lực thích ứng khí hậu như một hạ tầng chiến lược của quốc gia. Đầu tư cho thiên nhiên là đầu tư cho tương lai. Tích cực phòng chống thiên tai, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng và ổn định sinh kế. Cần ưu tiên phục hồi rừng đầu nguồn, rừng ven biển, rừng ngập mặn. Bảo vệ nghiêm các hệ sinh thái nhạy cảm; kiểm soát khai thác cát, nước ngầm, tài nguyên ven bờ. Xây dựng các đô thị thích ứng với khí hậu, tái thiết không gian sông, hồ, kênh rạch; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và quản trị rủi ro thiên tai. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung ven biển, miền núi phía bắc và các đô thị lớn, thích ứng khí hậu phải trở thành nội dung cốt lõi của quy hoạch phát triển, đầu tư công và bảo đảm an sinh.
Thứ năm, xây dựng nền quản trị môi trường dựa trên khoa học, dữ liệu, công nghệ số và sự tham gia của xã hội. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về phát thải, chất lượng nước, không khí, rác thải, đa dạng sinh học, tài nguyên biển, sạt lở, xâm nhập mặn, rủi ro khí hậu và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp. Công nghệ vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, cảm biến môi trường, bản đồ số, cơ sở dữ liệu biển đảo, mô hình dự báo thiên tai và nền tảng phản ánh của người dân cần được ứng dụng rộng rãi. Người dân có quyền được biết về chất lượng môi trường nơi mình sống, doanh nghiệp có nghĩa vụ minh bạch tác động môi trường, cơ quan nhà nước phải ra quyết định dựa trên bằng chứng và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cùng với đó, cần thúc đẩy giáo dục môi trường trong trường học, cộng đồng và xã hội; truyền thông khoa học, lối sống xanh, phân loại rác tại nguồn, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần và xây dựng văn hóa công dân sinh thái trong toàn xã hội.
Thứ sáu, bảo đảm công bằng trong chuyển đổi xanh và tăng cường hợp tác quốc tế vì khí hậu, môi trường và đại dương. Chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi đó là quá trình công bằng, bao trùm và nhân văn. Những người nghèo, lao động trong các ngành phát thải cao, cộng đồng ven biển, phụ nữ, trẻ em và các nhóm dễ tổn thương cần được hỗ trợ về sinh kế, đào tạo nghề, tài chính, bảo hiểm rủi ro, hạ tầng thích ứng và tiếp cận dịch vụ xã hội. Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh; tạo sinh kế bền vững cho người dân bảo vệ môi trường sinh thái.
Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, thực hiện đầy đủ và thực chất hơn các cam kết về tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ thích ứng, bồi đắp năng lực quản trị và mở rộng thị trường cho các sản phẩm xanh của các nước đang phát triển. Các nước công nghiệp phát triển đã đi trước trong quá trình công nghiệp hóa, đã tích lũy của cải trong một thời gian dài dựa trên mức phát thải lớn hơn và có năng lực tài chính, công nghệ vượt trội hơn. Vì vậy, trách nhiệm của họ trong ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đại dương và phục hồi hệ sinh thái toàn cầu phải tương xứng với năng lực hiện tại và trách nhiệm lịch sử. Một trật tự xanh công bằng phải giúp các nước đang phát triển không bị bỏ lại phía sau, không biến các tiêu chuẩn môi trường thành rào cản thương mại mới.
Các nước đang phát triển cần quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện các cam kết xanh. Nhưng lộ trình chuyển đổi phải phù hợp với trình độ phát triển, năng lực công nghệ, điều kiện ngân sách, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
Việt Nam sẵn sàng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong các nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm ô nhiễm nhựa, bảo vệ đại dương, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng và xây dựng nền kinh tế xanh. Chúng ta mong muốn cùng các đối tác phát triển một khuôn khổ hợp tác thực chất hơn, trong đó tài chính xanh đến được với những nơi cần nhất, công nghệ sạch được chia sẻ rộng rãi hơn, tri thức quản trị được lan tỏa nhanh hơn, và lợi ích của chuyển đổi xanh được phân bổ công bằng hơn giữa các quốc gia, các cộng đồng và các thế hệ.
Sáu nhóm nhiệm vụ trên đây phải được triển khai bằng tinh thần hành động thực chất với sự chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội. Mỗi địa phương phải có chương trình hành động phù hợp với đặc điểm sinh thái và mô hình phát triển của mình. Mỗi bộ, ngành phải tích hợp mục tiêu xanh vào chính sách chuyên ngành. Mỗi doanh nghiệp phải coi tuân thủ môi trường là tiêu chuẩn tồn tại và đổi mới xanh là điều kiện cạnh tranh. Mỗi người dân phải biến tình yêu thiên nhiên, yêu biển đảo, yêu quê hương thành hành động cụ thể hằng ngày.
Ngày Môi trường thế giới và Ngày Đại dương thế giới nhắc chúng ta ngưỡng chịu đựng của trái đất có giới hạn, đại dương đang bị tổn thương và hành động trách nhiệm của nhân loại. Chúng ta đứng trước sứ mệnh kiến tạo một Việt Nam xanh, trách nhiệm và bền vững trong thế kỷ XXI; một mô hình phát triển thịnh vượng, nhân văn, hiện đại và hài hòa với thiên nhiên; xây dựng đất nước giàu mạnh mà môi trường vẫn trong lành, biển đảo vẫn bình yên, dòng sông vẫn xanh, cánh rừng vẫn đại ngàn và mỗi người dân được sống an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc.
Mỗi người Việt Nam hãy bắt đầu từ một việc cụ thể: trồng và chăm một cây xanh, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần, tiết kiệm năng lượng, phân loại rác, bảo vệ nguồn nước, giữ sạch bãi biển, lan tỏa một thói quen sống xanh, hãy hành động vì tương lai của Việt Nam luôn mãi xanh tươi và bền vững.
Chiều 9.4, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố quyết định về đặc xá năm 2026 của Chủ tịch nước, nhân dịp 51 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài cho biết, năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển tiếp sang một giai đoạn phát triển mới của đất nước, gắn với nhiều sự kiện chính trị có tầm vóc chiến lược.
Trong bối cảnh đó, theo đề nghị của Chính phủ, ngày 7.4 - ngày làm việc đầu tiên của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký quyết định về đặc xá năm 2026.
Ông Tài cho biết thêm, những năm qua, các đợt đặc xá được triển khai chặt chẽ, đúng quy định, đạt hiệu quả tích cực trên nhiều phương diện cả về chính trị, pháp lý, xã hội và đối ngoại.
Riêng năm 2025, hơn 22.000 phạm nhân được đặc xá tha tù trước thời hạn nhưng vẫn bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đa số người được đặc xá đã nhanh chóng ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, được người dân đồng tình và dư luận quốc tế ghi nhận.
Quyết định đặc xá năm 2026 tiếp tục khẳng định rõ quan điểm nhất quán: bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, có điều kiện; việc xem xét đặc xá được thực hiện thận trọng, đúng đối tượng, gắn với yêu cầu giữ vững kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội.
Theo quyết định đặc xá năm 2026, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải đáp ứng đủ nhiều điều kiện.
Trong đó, phải có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Đã chấp hành án phạt tù ít nhất 1/3 thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù...
Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí; đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng...
Người có đủ các điều kiện nêu trên nhưng không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp: bị kết án phạt tù về phản bội Tổ quốc, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gián điệp, xâm phạm an ninh lãnh thổ...
Sáng 6.4, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI khai mạc. Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội khóa XV Trần Thanh Mẫn cho biết, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã thành công tốt đẹp. Đây là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, tổ chức bài bản, chuyên nghiệp và sự ủng hộ, đồng thuận rất cao của cử tri và nhân dân cả nước.
Cùng với thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, kết quả của cuộc bầu cử tiếp tục khẳng định niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đồng thời góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Theo Chủ tịch Quốc hội, sau 40 năm đổi mới, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm.
Quy mô nền kinh tế đạt 514 tỉ USD, đứng thứ 32 nền kinh tế thế giới; tăng trưởng bình quân 5 năm gần đây đạt 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%; thu nhập bình quân đầu người 5.026 USD; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn 1,3%...
Nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược được triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, tạo động lực và không gian phát triển; việc điều chỉnh địa giới hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, tạo những chuyển biến quan trọng trong tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước.
Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực được quan tâm, có nhiều chuyển biến tích cực.
Theo Chủ tịch Quốc hội, để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.
Mới đây là Kết luận số 18, ngày 2.4.2026, Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".
Trong bối cảnh đó, Quốc hội và đại biểu Quốc hội khóa XVI cần tiếp tục kế thừa, phát huy thành tựu của các nhiệm kỳ trước; nêu cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, lập trường kiên định, tư duy quản trị hiện đại, phản biện sâu sắc, khách quan trên tinh thần xây dựng.
Đồng thời, có kỹ năng lập pháp và tầm nhìn dài hạn, có khả năng phân tích và năng lực tiếp cận những vấn đề mới, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ; đảm bảo hiệu quả pháp luật không chỉ "tốt trong văn bản" còn phải "tốt trong cuộc sống".
Chủ tịch Quốc hội cho biết, Quốc hội đã thông qua chương trình kỳ họp thứ nhất gồm những nội dung quan trọng.
Tổng Bí thư Tô Lâm sẽ có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng; đây cũng là định hướng chiến lược của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới.
Quốc hội sẽ nghe Hội đồng bầu cử quốc gia trình bày báo cáo tổng kết cuộc bầu cử; kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội khóa XVI trúng cử; báo cáo của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; xem xét kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
Cùng đó là xem xét, quyết định cơ cấu tổ chức và bầu, phê chuẩn nhân sự cấp cao của bộ máy nhà nước. Đây là nội dung trọng tâm của kỳ họp, có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong cả nhiệm kỳ.
Kỳ họp cũng sẽ xem xét các báo cáo về kinh tế - xã hội, tài chính, ngân sách nhà nước; trong đó, việc đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, đề xuất các giải pháp có tính đột phá, khả thi trước bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, nhất là những tác động do xung đột tại khu vực Trung Đông, nhằm hoàn thành mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 ngay từ năm đầu nhiệm kỳ.
Đồng thời, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024; xem xét, quyết định các kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn.
Một nội dung quan trọng khác là xem xét, thông qua 8 luật và 1 nghị quyết quy phạm pháp luật, Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2027, Nghị quyết về thành lập Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội và Nghị quyết chung kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay quân sự Villamor Airbase có Bộ trưởng Nông nghiệp Philippines Tiu Laurel Jr., Đại sứ Philippines tại Việt Nam Francisco Noel R. Fernandez III, Đại sứ Việt Nam tại Philippines Lại Thái Bình và phu nhân, cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Philippines.
Việt Nam và Philippines là hai quốc gia Đông Nam Á có quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp, cùng chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực, ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất hơn.
Năm 2015, hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, là dấu mốc quan trọng, tạo nền tảng để thúc đẩy hợp tác toàn diện trong giai đoạn mới. Trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam - Philippines tiếp tục duy trì đà phát triển tích cực, trong đó nổi bật là sự gia tăng tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác kinh tế và tăng cường phối hợp trên các vấn đề khu vực và quốc tế.
Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Philippines lần này có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tới Philippines, diễn ra trong bối cảnh hai nước đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và Philippines đang đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2026.
Chuyến thăm thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ hữu nghị và hợp tác với Philippines cũng như đối với ASEAN và khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm đưa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Philippines phát triển mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.
Cùng ngày, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Philippines, tại thủ đô Manila, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã có buổi gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng, doanh nghiệp, chuyên gia người Việt Nam tại Philippines.
Tại cuộc gặp gỡ, Đại sứ Việt Nam tại Philippines Lại Thái Bình bày tỏ vui mừng được đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao nước ta; nhấn mạnh chuyến thăm lần này mang ý nghĩa lịch sử, diễn ra trong dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và là lần đầu tiên lãnh đạo cấp cao nhất của hai nước có cuộc gặp chính thức.
Đại sứ cho biết cộng đồng người Việt tại Philippines luôn đoàn kết, chăm chỉ, ngày càng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động thương mại, giáo dục, giao lưu nhân dân giữa hai nước. Bà con luôn hướng về quê hương, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, chủ động tìm kiếm cơ hội đóng góp tích cực cho các mục tiêu phát triển của đất nước thông qua hoạt động kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp hai nước tìm kiếm cơ hội kinh doanh.
Trong không khí ấm cúng, thân tình, đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Philippines bày tỏ vui mừng trước những thành quả đổi mới, phát triển của đất nước và mong muốn được đóng góp bằng năng lực chuyên môn, uy tín cá nhân, vị trí công việc của mình. Bà con kỳ vọng việc tăng cường hợp tác giữa hai nước có thể tạo hành lang thông thoáng về chính sách cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Việt Nam tại Philippines.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm biểu dương nỗ lực của cộng đồng người Việt tại Philippines trong việc hòa nhập vào xã hội sở tại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, có các hoạt động thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước; hoan nghênh vai trò kết nối, hỗ trợ cộng đồng của Ban liên lạc cộng đồng người Việt tại Philippines.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ về những định hướng phát triển của đất nước và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao nhằm nâng cao năng lực tự chủ, tự cường, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thông báo một số kết quả nổi bật trong chuyến thăm tới Thái Lan và Singapore, trong đó phát biểu dẫn đề của Việt Nam tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 ở Singapore ngày 29.5 vừa qua được quốc tế đặc biệt quan tâm, đề cao vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong khu vực. Qua đó, Việt Nam khẳng định đã vươn lên mạnh mẽ sau hơn 80 năm xây dựng, phát triển và 40 năm Đổi mới, trở thành một trong những nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, quốc gia có uy tín, có trách nhiệm với các vấn đề của khu vực và thế giới.
Về quan hệ Việt Nam - Philippines, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam hiện là Đối tác chiến lược duy nhất của Philippines trong khu vực Đông Nam Á. Thời gian qua, quan hệ song phương phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Hai nước đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác thương mại song phương, với mục tiêu sớm đưa kim ngạch trao đổi thương mại đạt 10 tỉ USD, để khai thác những tiềm năng hợp tác còn rộng mở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng và Nhà nước nhất quán quan điểm cộng đồng người Việt ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam; luôn quan tâm, kịp thời có các chính sách chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, ổn định cuộc sống, hòa nhập vào xã hội sở tại; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc; khuyến khích và tạo điều kiện để bà con đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thời gian qua, một số chính sách tiếp tục được sửa đổi nhằm tạo điều kiện cho đồng bào ta ở nước ngoài đầu tư, học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp, dạy tiếng Việt, chuyển giao tri thức, tham gia các hoạt động văn hóa, đối ngoại nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn cộng đồng người Việt tại Philippines tiếp tục đoàn kết, giúp đỡ nhau hòa nhập và chấp hành tốt pháp luật sở tại, tích cực tham gia các hoạt động, có đóng góp thiết thực cho quê hương và thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines tiếp tục quan tâm và làm tốt hơn nữa công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, thường xuyên kết nối với bà con, duy trì, củng cố sự kết nối giữa bà con với trong nước, vận động bà con chấp hành tốt pháp luật sở tại, làm tốt công tác bảo hộ công dân, hỗ trợ tích cực các hoạt động của cộng đồng.
Cũng trong ngày 31.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tiếp đại diện một số tổ chức, doanh nghiệp tại Philippines.
Tại cuộc tiếp ông Masato Kanda, Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hợp tác với ADB và mong muốn tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác này trong giai đoạn phát triển mới.
Ghi nhận Việt Nam và ADB có quan hệ đối tác phát triển lâu dài, tin cậy và hiệu quả thông qua sự hỗ trợ tài chính, kinh nghiệm, chính sách, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn ADB tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tăng cường khả năng chống chịu các thách thức toàn cầu và từng bước thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh các sáng kiến của ADB trong các lĩnh vực như kết nối năng lượng, phát triển thị trường vốn, hội nhập kinh tế số, chuyển đổi xanh và tài chính, phù hợp với nhu cầu phát triển của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, góp phần bổ sung nguồn lực, tri thức và kinh nghiệm quốc tế cho quá trình tăng trưởng bền vững, bao trùm và có khả năng chống chịu cao hơn. Việt Nam cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi và duy trì trao đổi thường xuyên với ADB để thúc đẩy triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác trong giai đoạn tới.
Tiếp ông Saia Ma'u Piukala, Giám đốc khu vực Tây Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao vai trò của WHO ở cấp toàn cầu và khu vực trong việc hỗ trợ các quốc gia nâng cao năng lực y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong đó có Việt Nam; trân trọng cảm ơn WHO đã ghi nhận những nỗ lực và kết quả của Việt Nam trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Để từng bước thực hiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng tốt hơn, tăng cường năng lực ứng phó các tình huống y tế khẩn cấp trong tương lai, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ chuyên môn và tư vấn kỹ thuật của WHO để nâng cao hiệu quả xây dựng chính sách và tổ chức hệ thống y tế phù hợp với bối cảnh mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị WHO giới thiệu và phổ biến y học cổ truyền Đông y của Việt Nam bên cạnh y học hiện đại để tăng thêm nguồn lực, phương pháp trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân khu vực và trên thế giới.
Tiếp ông Tristan Aboitiz, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn Aboitiz Foods, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá cao việc tập đoàn có nhiều hoạt động trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến nhu cầu phát triển của Việt Nam như năng lượng, thực phẩm - nông nghiệp, hạ tầng, tài chính, bất động sản công nghiệp và dữ liệu - trí tuệ nhân tạo, đã góp phần bổ sung một kênh hợp tác kinh tế thực chất giữa Việt Nam và Philippines.
Đánh giá các lĩnh vực Tập đoàn Aboitiz Foods quan tâm đầu tư tại Việt Nam gắn trực tiếp với những ưu tiên lớn của Việt Nam trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khuyến khích tập đoàn nghiên cứu hợp tác trong các lĩnh vực: năng lượng theo hướng ổn định, bền vững, phát thải thấp, có khả năng chống chịu và phù hợp điều kiện thực tế Việt Nam; triển khai các mô hình hợp tác thúc đẩy nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, chuỗi giá trị thực phẩm bền vững và an ninh lương thực khu vực ASEAN.
Tiếp bà Chin Yin Ong, Đồng chủ tịch, Tổng giám đốc Năng lực tổ chức Tập đoàn Grab, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao những hoạt động và đóng góp của Tập đoàn Grab tại Việt Nam, đặc biệt trong việc phát triển thương mại điện tử và thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ cho người dân và các đơn vị kinh doanh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh những định hướng phát triển của Grab phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển của Việt Nam; khuyến khích Grab tham gia đầu tư vào lĩnh vực đô thị thông minh, phát triển hệ thống giao thông công cộng ở Việt Nam hướng tới xây dựng hệ thống giao thông xanh, thông minh; quảng bá du lịch, ẩm thực Việt Nam trên nền tảng Grab, góp phần cải thiện kỹ năng số của người dân.