Đây là thông tin được các chuyên gia chia sẻ tại tại tọa đàm “Chiến lược chăm sóc cho phụ nữ mang thai: Mẹ chủ động – con được bảo vệ” do Hội Phụ sản Việt Nam tổ chức ngày 26-7 tại Hà Nội.
Chia sẻ tại tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng bộ môn Nhi Trường đại học Y Hà Nội, Trưởng khoa Nhi Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết RSV là nguyên nhân hàng đầu gây viêm tiểu phế quản và viêm phổi ở trẻ nhỏ.
Tại Việt Nam, vi rút RSV cũng liên quan khoảng 25% các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ em.
Bác sĩ Thúy giải thích tiểu phế quản của trẻ sơ sinh có đường kính dưới 2 mm.
Khi RSV xâm nhập, niêm mạc đường thở bị viêm, phù nề và tiết nhiều dịch nhầy khiến lòng đường thở nhanh chóng bị thu hẹp.
Chỉ một lượng dịch tiết nhỏ cũng đủ cản trở lưu thông không khí, làm trẻ thở nhanh, rút lõm lồng ngực, thậm chí ngừng thở.
Điều đáng lo ngại là RSV không chỉ gây bệnh trong giai đoạn cấp tính. Hai năm đầu đời là giai đoạn hệ hô hấp của trẻ tiếp tục hoàn thiện, nên viêm tiểu phế quản do RSV có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của phổi, làm tăng nguy cơ khò khè tái diễn, nhiễm trùng hô hấp nhiều lần và hen phế quản sau này.
“Những trẻ thường xuyên mắc bệnh hô hấp có xu hướng sử dụng kháng sinh nhiều hơn, kéo theo nguy cơ rối loạn hệ vi sinh đường ruột, ảnh hưởng đến dinh dưỡng, sự phát triển thể chất và chất lượng cuộc sống lâu dài”, bác sĩ Thúy nói.
Nhiều người cho rằng RSV chủ yếu nguy hiểm với trẻ sinh non, mắc tim bẩm sinh hoặc có bệnh nền. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, nhiều trẻ nhập viện vì RSV lại là những trẻ hoàn toàn khỏe mạnh trước đó.
GS.TS Nguyễn Viết Tiến, chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, nguyên thứ trưởng Bộ Y tế, cho rằng Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu lớn trong phòng chống bệnh truyền nhiễm nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng. Các bệnh như uốn ván sơ sinh, bại liệt, bạch hầu, ho gà đã được kiểm soát hiệu quả.
Tuy nhiên, RSV đang đặt ra một thách thức mới. Có những trẻ sinh ra hoàn toàn khỏe mạnh nhưng khi nhiễm RSV lại diễn tiến rất nặng, thậm chí tử vong dù được điều trị tích cực tại bệnh viện tuyến cuối.
Theo GS Tiến, trong 6 tháng đầu đời, hệ miễn dịch của trẻ còn non nớt nên khả năng tự bảo vệ trước tác nhân gây bệnh rất hạn chế. Trẻ chủ yếu dựa vào lượng kháng thể được truyền từ mẹ trong thời kỳ mang thai và thông qua sữa mẹ sau sinh.
“Chính vì vậy, đối với những bệnh như RSV, việc bảo vệ trẻ ngay từ trước khi chào đời và trong những tháng đầu đời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”, ông nhấn mạnh.
Ung thư mắt có thể khởi phát ngay trong mắt (ung thư mắt nguyên phát) hoặc lan đến mắt từ các cơ quan khác trong cơ thể (ung thư mắt thứ phát). Đây là bệnh ít gặp nhưng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị lực và sức khỏe nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Nguyên nhân chính xác của ung thư mắt chưa được xác định. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh gồm:
Ở trẻ em, u nguyên bào võng mạc có thể liên quan đến đột biến gene RB1 được di truyền từ cha mẹ hoặc xuất hiện ngẫu nhiên.
Ung thư mắt giai đoạn đầu thường không gây triệu chứng rõ rệt. Nhiều trường hợp được phát hiện tình cờ khi khám mắt định kỳ.
Khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể gặp các dấu hiệu như:
Ở trẻ mắc u nguyên bào võng mạc, dấu hiệu điển hình là đồng tử có ánh trắng bất thường khi chụp ảnh bằng đèn flash, mắt lé hoặc giảm thị lực.
Tùy vị trí xuất hiện, ung thư mắt được chia thành nhiều dạng khác nhau.
U hắc tố nội nhãn
Đây là loại ung thư mắt nguyên phát phổ biến nhất ở người lớn. Khối u phát triển từ các tế bào sắc tố (melanocyte) trong lớp màng bồ đào của mắt, bao gồm mống mắt, thể mi và hắc mạc.
U lympho nội nhãn
Xuất phát từ các tế bào lympho của hệ miễn dịch, thường gặp ở người lớn tuổi hoặc người suy giảm miễn dịch.
U nguyên bào võng mạc
Đây là là loại ung thư mắt thường gặp nhất ở trẻ em, hình thành từ các tế bào võng mạc chưa trưởng thành. Bệnh thường xuất hiện trước 5 tuổi.
Ung thư kết mạc
Khối u phát triển tại lớp màng mỏng trong suốt phủ bề mặt nhãn cầu và mặt trong mí mắt.
Ung thư hốc mắt và phần phụ của mắt
Các khối u có thể xuất hiện ở mí mắt, tuyến lệ, cơ vận nhãn hoặc các mô quanh mắt.
Bác sĩ có thể chỉ định nhiều phương pháp để xác định bệnh gồm:
Ngoài việc xác định loại ung thư, bác sĩ cũng đánh giá kích thước khối u và mức độ lan rộng để lựa chọn phương án điều trị phù hợp.
Phương pháp điều trị phụ thuộc vào loại ung thư, kích thước khối u, vị trí tổn thương và tình trạng sức khỏe của người bệnh.
Theo dõi
Một số khối u nhỏ chưa ảnh hưởng đến thị lực có thể được theo dõi định kỳ trước khi quyết định can thiệp.
Xạ trị
Xạ trị là một trong những phương pháp điều trị phổ biến đối với ung thư mắt. Bức xạ được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư hoặc làm chậm sự phát triển của khối u.
Laser
Điều trị bằng laser có thể được áp dụng với một số khối u nhỏ nhằm phá hủy tế bào ung thư hoặc cắt nguồn máu nuôi khối u.
Phẫu thuật
Bác sĩ có thể cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ khối u. Trường hợp bệnh tiến triển nặng cần phải cắt bỏ nhãn cầu để ngăn ung thư lan rộng.
Bé trai người Ghana xuất hiện vàng da ngay sau sinh và tiến triển rất nhanh sau 20 giờ tuổi. Tại bệnh viện địa phương, trẻ được xác định vàng da nặng, đã được chiếu đèn tích cực và làm nhiều xét nghiệm nhưng chưa tìm được nguyên nhân, tình trạng không cải thiện.
Ngày 27-5, trẻ được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng vàng da toàn thân. Kết quả xét nghiệm cho thấy bilirubin tăng nhanh, huyết sắc tố giảm còn 98 g/L, biểu hiện của tan máu nặng.
Điều đặc biệt là cả mẹ và bé đều có nhóm máu O Rh+, loại trừ nguyên nhân bất đồng nhóm máu ABO và Rh thường gặp. Trẻ được chỉ định thay máu cấp cứu để kiểm soát vàng da và thiếu máu.
Ngay trong đêm, các bác sĩ đối chiếu nhóm máu O Rh+ của trẻ với toàn bộ đơn vị máu cùng nhóm tại bệnh viện nhưng không tìm được mẫu phù hợp. Mẫu máu sau đó được chuyển đến Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương để xét nghiệm chuyên sâu và xác định trẻ mang kháng thể Anti Fy3 - kháng thể cực hiếm thuộc hệ nhóm máu Duffy-null.
Trong thời gian chờ kết quả, trẻ được chiếu đèn tích cực và sử dụng thuốc nhằm làm chậm quá trình tan máu, tăng sức bền hồng cầu.
Sau khi xác định nguyên nhân, các bác sĩ huy động bố mẹ trẻ làm xét nghiệm để tìm nguồn máu tương thích.
Tuy nhiên, nhóm máu của người bố không phù hợp, còn người mẹ vừa sinh mổ, bị thiếu máu (huyết sắc tố chỉ 88 g/L) nên không đủ điều kiện hiến máu.
Trong khi đó, tình trạng thiếu máu của trẻ ngày càng nặng, có nguy cơ dẫn đến suy tim, suy hô hấp, ngừng thở và suy đa cơ quan. Trung tâm Sơ sinh đã hội chẩn liên chuyên khoa và báo cáo ban giám đốc bệnh viện.
Bệnh viện khẩn trương kêu gọi người hiến máu nhóm O trong cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng gốc người châu Phi tại Việt Nam - nhóm có khả năng tương thích cao nhất. Sau hai ngày tìm kiếm, từ 25 người tình nguyện hiến máu (3 người Việt Nam và 22 người gốc châu Phi), các bác sĩ đã tìm được 2 người châu Phi có nhóm máu phù hợp.
Máu hiến được lấy, theo dõi an toàn nghiêm ngặt, sau đó xử lý, tách hồng cầu và sàng lọc kỹ lưỡng để hạn chế tối đa nguy cơ phản ứng miễn dịch.
Đến ngày thứ 3 sau nhập viện, trẻ được truyền máu. Sau điều trị, tình trạng cải thiện rõ rệt: vàng da giảm, da hồng hào, tỉnh táo, bú tốt và được xuất viện sau 7 ngày.
Theo các bác sĩ, ngoài hai hệ nhóm máu ABO và Rh quen thuộc, hiện đã xác định thêm 46 hệ nhóm máu khác, trong đó có hệ Duffy.
Hệ Duffy gồm 5 kháng nguyên chính (Fya, Fyb, Fy3, Fy5 và Fy6), được điều hòa bởi gene ACKR1 trên nhiễm sắc thể số 1. Kháng thể Anti Fy3 chỉ xuất hiện ở người mang nhóm máu Duffy-null - tức thiếu đồng thời hai kháng nguyên Fya và Fyb. Đây là nhóm máu cực hiếm ở người châu Á và châu Âu, nhưng gặp khá phổ biến ở người châu Phi (68-90%).
Theo bác sĩ Vũ Thị Huê - Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương, đây là ca bệnh đặc biệt vì nguyên nhân tan máu không thuộc các căn nguyên thường gặp.
Bệnh có thể được phát hiện trước sinh bằng xét nghiệm sàng lọc kháng thể bất thường trong máu mẹ. Tuy nhiên, khác với bất đồng nhóm máu Rh, hiện chưa có thuốc dự phòng vàng da tan máu do bất đồng hệ Duffy trong thai kỳ. Vì vậy, phát hiện sớm và xử trí kịp thời sau sinh có ý nghĩa quyết định.
Trẻ từ 2 - 12 tuổi, phụ nữ và người lớn tuổi dễ bị say tàu xe hơn, với các triệu chứng thường gặp như khó chịu toàn thân, buồn nôn, nôn, đau đầu, vã mồ hôi, chóng mặt.
“Trước đây, say tàu xe được cho là do xung đột giữa thị giác, tai trong và các giác quan khác. Hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân còn đến từ sự ‘lệch pha’ giữa cách não bộ dự đoán về chuyển động của cơ thể và những gì thực sự xảy ra”, bác sĩ Richard Lewis, chuyên gia thần kinh về rối loạn thăng bằng tại Massachusetts Eye and Ear (thuộc Harvard, Mỹ), cho biết.
Dưới đây là một số mẹo được các chuyên gia đề xuất để giảm cơn say xe, mọi người có thể thử áp dụng trong các chuyến đi xa ngày lễ, theo Harvard Health Publishing và Hartford HealthCare (Mỹ).
Bên cạnh đó, nếu tình trạng say tàu xe nặng, có thể dùng thuốc hoặc miếng dán sau tai để phòng hoặc giảm buồn nôn. Ngoài ra, mọi người cũng có thể phòng say tàu xe ngay từ trước chuyến đi bằng cách sau:
Chọn chỗ ngồi hợp lý: Ghế phụ phía trước ô tô hoặc khu vực gần cánh máy bay ít rung lắc nhất. Còn trên tàu thuyền, vị trí giữa tàu thường ít lắc hơn. Trên xe buýt, tàu hỏa, nên chọn ghế quay mặt về phía trước.
Ăn uống nhẹ nhàng: Trước chuyến đi, nên uống đủ nước, ăn các món dễ tiêu, tránh đồ nhiều dầu mỡ. Không nên uống rượu và không ăn quá no trước khi đi.