Ngày 22/6, bác sĩ Nguyễn Văn Trọng, Trưởng khoa Ngoại Tiết niệu – Nam học, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La, cho biết đây là trường hợp hiếm gặp khi vòng tránh thai chữ T di lệch, một phần nằm trong ổ bụng còn một phần xuyên qua nằm trong lòng bàng quang. Bác sĩ phẫu thuật nội soi qua niệu đạo để tán sỏi và lấy dị vật.
Sau mổ, bệnh nhân tỉnh táo, cho biết đã đặt và tháo vòng tránh thai tại trạm y tế khoảng 5 tháng trước, nên không nghĩ các triệu chứng hiện tại liên quan đến vòng. Hiện cô chưa rõ tại sao đã tháo nhưng vòng vẫn còn trong cơ thể và đi lạc vào bàng quang.
Vòng tránh thai là dụng cụ nhỏ, thường có hình chữ T hoặc cánh cung, được đặt trong tử cung để ngừa thai lâu dài. Đây là biện pháp tránh thai phổ biến nhờ hiệu quả cao, chi phí thấp và có thể sử dụng trong nhiều năm. Trong một số trường hợp, vòng tránh thai có thể gây vài biến chứng như rong kinh, đau thắt lưng, đi lạc chỗ, làm chảy máu, thủng ruột hay viêm phúc mạc.
Bác sĩ khuyến cáo dị vật bàng quang lâu ngày gây bám sỏi xung quanh, viêm đường tiết niệu và có thể dẫn đến hình thành ổ áp xe hoặc nhiễm khuẩn huyết nguy hiểm. Phụ nữ đặt vòng tránh thai cần tuân thủ lịch hẹn tái khám của bác sĩ. Khi có các dấu hiệu bất thường như đau bụng kéo dài, tiểu buốt, tiểu ra máu… cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được khám kịp thời.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 29-5, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế phát đi thông báo cập nhật về tình hình dịch bệnh do vi rút Ebola trong bối cảnh ca mắc ghi nhận tại một số quốc gia tăng nhanh.
Cụ thể, theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dịch Ebola tại Cộng hòa dân chủ Congo và Uganda đang tiếp tục diễn biến phức tạp, số ca mắc gia tăng, có sự mở rộng về địa bàn và ghi nhận nguy cơ lây truyền qua biên giới.
Ngày 17-5, dịch Ebola do chủng Bundibugyo đã được WHO công bố là "Sự kiện y tế công cộng gây quan ngại quốc tế" (PHEIC).
Tính đến ngày 27-5, Congo ghi nhận 1.077 ca nghi nhiễm, trong đó có 238 ca tử vong nghi ngờ; 121 ca xác định với 17 ca tử vong. Uganda ghi nhận 7 ca xác định, trong đó một người tử vong. Tổng cộng hai quốc gia đã có 128 ca xác định và 18 ca tử vong.
WHO đánh giá nguy cơ dịch tại Cộng hòa dân chủ Congo ở mức rất cao và nguy cơ ở cấp khu vực (bao gồm Uganda) ở mức cao do còn có lây truyền trong cộng đồng.
Nguy cơ tồn tại các chuỗi lây truyền chưa được phát hiện, gia tăng số ca liên quan đến di chuyển qua biên giới và mạng lưới người tiếp xúc mở rộng; và nguy cơ ở cấp toàn cầu hiện ở mức thấp. Trong khi đó, hiện chủng Bundibugyo chưa có vắc xin hay phương pháp điều trị đặc hiệu được phê duyệt.
Trước diễn biến của dịch bệnh, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đã phối hợp với WHO, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (US.CDC), các bộ, ngành liên quan và các chuyên gia tổ chức đánh giá nguy cơ bệnh xâm nhập vào Việt Nam.
Theo đánh giá hiện nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh và nguy cơ bệnh xâm nhập vào Việt Nam ở mức thấp.
Tuy nhiên không loại trừ khả năng ghi nhận ca bệnh xâm nhập, nhất là trong bối cảnh giao lưu đi lại quốc tế tiếp tục gia tăng.
Thời gian qua, Bộ Y tế đã chủ động triển khai các hoạt động phòng chống dịch từ sớm, từ xa; tổ chức cập nhật các hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật, tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyên môn cho các tỉnh, thành phố về giám sát, xét nghiệm, phát hiện sớm, điều tra, truy vết, quản lý trường hợp bệnh nghi ngờ.
Đồng thời các địa phương đã tăng cường giám sát người nhập cảnh, đặc biệt là người đi về từ khu vực đang có dịch; rà soát phương án đáp ứng, chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật tư, hóa chất, trang thiết bị, khu vực cách ly và điều trị khi cần thiết, nhằm phát hiện sớm, xử lý kịp thời, không để dịch bệnh lây lan tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và trong cộng đồng.
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh Ebola, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đề nghị người dân:
- Không hoang mang, cần chủ động cập nhật thông tin từ các nguồn chính thống; khi có biểu hiện nghi ngờ sau khi đi về từ khu vực đang có dịch hoặc có tiếp xúc với trường hợp nghi ngờ, cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và xử trí kịp thời.
- Hạn chế các chuyến đi không cần thiết đến những khu vực bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
- Đối với những công dân buộc phải đến các khu vực này, cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa như tránh tiếp xúc với người bị bệnh hoặc có triệu chứng như sốt, nôn ói hoặc tiêu chảy.
Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với WHO, US.CDC và các tổ chức quốc tế để cập nhật tình hình, đánh giá nguy cơ thường xuyên và triển khai các biện pháp phòng chống dịch phù hợp với diễn biến thực tế.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
Đang làm vườn, người đàn ông đứt lìa bàn chân, được phẫu thuật nối lại thành công

Sáng 28.4, thông tin từ Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị cho biết vừa phẫu thuật nối lại bàn chân trái bị đứt lìa cho một bệnh nhân gặp tai nạn lao động.
Trước đó, vào khoảng 8 giờ sáng 21.4, anh H.V.C (41 tuổi, ở xã A Dơi) đang cắt cỏ thì lưỡi máy cắt bị gãy văng, chém đứt lìa cổ chân trái.
Vết thương nghiêm trọng khiến anh C. mất nhiều máu, bất tỉnh, được người nhà nhanh chóng đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Hướng Hóa.
Trong tình trạng mất máu nhanh, để tránh nguy cơ hoại tử, các bác sĩ vừa hồi sức vừa lập tức kích hoạt quy trình cấp cứu khẩn cấp liên viện với Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị để tiếp nhận hướng dẫn chuyên môn trực tiếp. Phần chi bị đứt lìa được xử lý đúng quy trình để giữ cơ hội nối lại chi.
Ngay sau đó, anh C. được chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, tại đây báo động đỏ được kích hoạt. Đội ngũ y bác sĩ phẫu thuật, phòng mổ, trang thiết bị được chuẩn bị sẵn sàng, chỉ sau 10 phút nhập viện, bệnh nhân được đưa vào phòng mổ.
Ca phẫu thuật kéo dài trong suốt 4 - 5 giờ đồng hồ. Các bác sĩ đã tiến hành xử lý đầu chi đứt lìa, làm sạch và xử lý các mô dập nát; cố định xương tạm thời bằng đinh Kirschner; khâu nối các bó mạch chính bao gồm bó mạch chày trước, chày sau để tái lập tuần hoàn; khâu nối hệ thống gân cơ và thần kinh nhằm duy trì chức năng bàn chân sau này.
Sau khi tái lập dòng máu, bàn chân đã hồng ấm trở lại, dấu hiệu quan trọng cho thấy tuần hoàn đã được phục hồi, ca phẫu thuật đã thành công bước đầu. Một tuần sau phẫu thuật, bàn chân của bệnh nhân phản hồi mao mạch tốt, các ngón chân có thể vận động nhẹ nhàng.
Theo nhận định của các bác sĩ, phẫu thuật nối lại bàn chân đứt lìa là một kỹ thuật vi phẫu đặc biệt phức tạp, được tiến hành theo nhiều bước chặt chẽ và liên hoàn. Thách thức lớn nhất là phải đồng thời tái tạo nhiều thành phần quan trọng như xương, các động mạch chính gân cơ và hệ thống thần kinh, đòi hỏi độ chính xác vi phẫu rất cao.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bệnh Ebola (EBOD) là một bệnh lý nghiêm trọng, thường dẫn đến tử vong ở người. Bệnh do các virus thuộc chi Orthoebolavirus, họ Filoviridae gây ra.
Đến nay, các nhà khoa học đã xác định được 6 loài Orthoebolavirus, trong đó có 3 loài từng gây ra các đợt bùng phát dịch lớn, bao gồm:
Virus Ebola (EBOV): Gây bệnh virus Ebola (EVD).
Virus Sudan (SUDV): Gây bệnh virus Sudan (SVD).
Virus Bundibugyo (BDBV): Gây bệnh virus Bundibugyo (BVD).
Bệnh Ebola được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1976 trong hai đợt bùng phát đồng thời: một đợt do virus Sudan tại Nzara (nay thuộc Nam Sudan) và đợt còn lại do virus Ebola tại Yambuku (nay thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo). Đợt dịch thứ hai xảy ra tại một ngôi làng gần sông Ebola, đây cũng chính là nguồn gốc tên gọi của căn bệnh này.
Hiện nay, đã có vaccine và liệu pháp điều trị cho bệnh virus Ebola (EVD). Tuy nhiên, các thể bệnh Ebola khác như SVD hay BVD vẫn chưa có vaccine hoặc thuốc điều trị đặc hiệu. Các sản phẩm thử nghiệm vẫn đang trong quá trình phát triển.
Can thiệp bằng các biện pháp chăm sóc hỗ trợ tích cực sớm - bao gồm bù nước và điều trị các triệu chứng đặc hiệu - có thể cải thiện đáng kể khả năng sống sót của bệnh nhân. Tiếp cận y tế kịp thời chính là yếu tố sống còn.
- Các nhà khoa học nhận định rằng dơi quả (họ Pteropodidae) là vật chủ tự nhiên của Orthoebolavirus.
- Virus có thể xâm nhập vào người thông qua việc tiếp xúc gần với máu, chất tiết, cơ quan hoặc dịch cơ thể của các động vật bị nhiễm bệnh.
- Các loài động vật có nguy cơ cao bao gồm dơi quả, tinh tinh, gorilla, khỉ, linh dương rừng hoặc nhím được phát hiện bị bệnh, đã chết hoặc tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới.
- Khi đã xâm nhập vào cộng đồng, virus có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp (qua da bị tổn thương hoặc niêm mạc) với:
Lưu ý:
- Người bệnh không có khả năng lây truyền virus trước khi xuất hiện các triệu chứng. Họ sẽ tiếp tục là nguồn lây nhiễm chừng nào trong máu vẫn còn chứa virus.
- Nhân viên y tế và hộ lý là nhóm thường xuyên bị lây nhiễm trong quá trình điều trị cho bệnh nhân Ebola. Tình trạng này xảy ra do tiếp xúc gần với người bệnh khi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn không được thực hiện một cách nghiêm ngặt.
- Các nghi lễ mai táng có hành vi tiếp xúc trực tiếp với thi thể người quá cố cũng là một nguyên nhân làm gia tăng tốc độ lây lan của bệnh.
Thời gian ủ bệnh (khoảng thời gian từ khi nhiễm virus đến khi khởi phát triệu chứng) dao động từ 2 đến 21 ngày.
- Các triệu chứng của bệnh Ebola có thể xuất hiện đột ngột, bao gồm:
- Tiếp sau đó là các biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, phát ban và suy giảm chức năng gan, thận. Việc theo dõi sát sao các triệu chứng này là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các nhân viên y tế.
- Xuất huyết thường được coi là triệu chứng phổ biến trong nhận thức của công chúng, nhưng trên thực tế biểu hiện này ít gặp hơn và chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh. Một số bệnh nhân có thể bị xuất huyết nội và ngoại vi, bao gồm: nôn ra máu, đại tiện ra máu, chảy máu mũi, chảy máu nướu răng và âm đạo. Tình trạng chảy máu tại các vị trí tiêm truyền cũng có thể xảy ra.
- Khi virus tấn công vào hệ thần kinh trung ương, người bệnh có thể rơi vào trạng thái lú lẫn, dễ kích động và hung hăng.
- Ở giai đoạn đầu, phân biệt bệnh Ebola với các bệnh truyền nhiễm khác như sốt rét, thương hàn, nhiễm khuẩn lỵ trực khuẩn (shigellosis), viêm màng não và các bệnh sốt xuất huyết do virus khác trên lâm sàng là rất khó khăn do các triệu chứng có sự tương đồng lớn.
- Để xác định chính xác một ca nhiễm Orthoebolavirus, bác sĩ phải sử dụng các phương pháp chẩn đoán xét nghiệm sau:
- Các mẫu bệnh phẩm thu thập từ bệnh nhân chứa nguy cơ an toàn sinh học cực kỳ cao. Do đó, việc kiểm tra phòng thí nghiệm đối với các mẫu chưa được bất hoạt phải được tiến hành trong điều kiện an toàn sinh học tối đa. Tất cả mẫu sinh học chưa bất hoạt khi vận chuyển trong nước và quốc tế đều phải được đóng gói theo quy trình hệ thống 3 lớp.
Qua nhiều năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các đối tác đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn và tổ chức đào tạo nhằm tối ưu hóa quy trình chăm sóc giúp nâng cao cơ hội sống sót cho bệnh nhân, bất kể họ có được tiếp cận với các phương pháp điều trị đặc hiệu hay không.
Đây được gọi là "Chăm sóc hỗ trợ tối ưu", quy trình này bao gồm việc chỉ định các xét nghiệm liên quan, quản lý cơn đau, đảm bảo dinh dưỡng, điều trị đồng nhiễm (như bệnh sốt rét) và các phương pháp tiếp cận khác nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho bệnh nhân phục hồi.
- Đối với bệnh virus Ebola (EVD):
Hiện có hai loại vaccine đã được phê duyệt: Ervebo (của hãng Merck & Co.) và bộ đôi Zabdeno & Mvabea (của hãng Janssen Pharmaceutica). Vaccine Ervebo được khuyến nghị sử dụng như một phần của hoạt động ứng phó với dịch bệnh (theo khuyến cáo của Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược - SAGE vào tháng 7/2024).
- Đối với các thể bệnh Ebola khác (như SVD):
Một số vaccine thử nghiệm hiện đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Nhằm ứng phó với dịch bệnh, một quy trình chuẩn (CORE protocol) cũng đã được thiết lập để đánh giá tính an toàn, khả năng dung nạp, tính sinh miễn dịch và hiệu quả của các vaccine thử nghiệm này.
- Sự tham gia của cộng đồng là chìa khóa để kiểm soát thành công bất kỳ đợt bùng phát dịch nào. Công tác dập dịch dựa trên một chuỗi các biện pháp can thiệp đồng bộ: chăm sóc lâm sàng, giám sát và truy vết tiếp xúc, dịch vụ xét nghiệm, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở y tế, mai táng an toàn và tôn trọng phong tục, tiêm chủng (chỉ áp dụng cho bệnh virus Ebola) và huy động xã hội.
- Nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp bảo vệ cá nhân là cách hiệu quả để giảm tỷ lệ lây nhiễm sang người. Các thông điệp giảm thiểu rủi ro cần tập trung vào các khuyến cáo sau:
Giảm nguy cơ lây truyền từ động vật hoang dã sang người: Tránh tiếp xúc với dơi quả hoặc khỉ/vượn bị nhiễm bệnh, đồng thời không tiêu thụ thịt sống của chúng.
Giảm nguy cơ lây truyền từ người sang người: Hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh, đặc biệt là với dịch cơ thể của họ. Cần tránh tiếp xúc vật lý gần với bệnh nhân Ebola. Người bệnh phải được cách ly tại trung tâm điều trị chuyên dụng để được chăm sóc sớm và ngăn ngừa lây nhiễm tại nhà.
Minh bạch thông tin: Cộng đồng cần được thông tin đầy đủ về bản chất căn bệnh cũng như các biện pháp kiểm soát dịch. Điều này đạt hiệu quả cao nhất khi người dân tham gia trực tiếp vào công tác ứng phó và có sự thảo luận cởi mở.
Các biện pháp bao vây dập dịch bao gồm: tổ chức mai táng an toàn và tôn trọng người quá cố; xác định những người từng tiếp xúc với người nhiễm Ebola và theo dõi sức khỏe của họ trong vòng 21 ngày; cách ly người lành khỏi người bệnh để ngăn chặn sự lây lan diện rộng và tập trung chăm sóc cho các bệnh nhân đã xác định. Bên cạnh đó, việc duy trì vệ sinh cá nhân và làm sạch môi trường sống cũng đóng vai trò then chốt.
- Nhân viên y tế phải luôn thực hiện các biện pháp phòng ngừa chuẩn khi chăm sóc bệnh nhân, bất kể chẩn đoán ban đầu của họ là gì. Các biện pháp này bao gồm: vệ sinh tay cơ bản, vệ sinh đường hô hấp, sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân (để ngăn chặn các giọt bắn hoặc tiếp xúc với vật liệu nhiễm khuẩn), thực hành tiêm an toàn và quy trình mai táng an toàn, tôn nghiêm.
- Khi chăm sóc cho bệnh nhân nghi nhiễm hoặc đã xác định mắc Ebola, nhân viên y tế cần áp dụng thêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tăng cường để tuyệt đối tránh tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân, cũng như các bề mặt hoặc vật dụng bị ô nhiễm như quần áo, chăn ga gối đệm.
- Nhân viên phòng thí nghiệm cũng là nhóm nguy cơ cao. Tất cả mẫu bệnh phẩm thu thập từ người và động vật để xét nghiệm Orthoebolavirus phải được xử lý bởi đội ngũ nhân sự đã qua đào tạo và tiến hành tại các phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ thiết bị chuyên dụng.
- WHO khuyến cáo không cần cách ly những bệnh nhân đã phục hồi và có kết quả xét nghiệm máu âm tính với Orthoebolavirus.
Tuy nhiên, người khỏi bệnh có thể phải chịu đựng các di chứng cả về mặt lâm sàng lẫn tâm lý. WHO khuyến khích các quốc gia bị ảnh hưởng xem xét thành lập chương trình chăm sóc y tế để giảm nhẹ di chứng, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, tư vấn tâm lý và thực hiện các xét nghiệm sinh học cần thiết.
- Khoa học chứng minh rằng Orthoebolavirus vẫn có thể tồn tại ở một số cơ quan đặc quyền miễn dịch trên cơ thể của một số người đã phục hồi. Những vị trí này bao gồm tinh hoàn, bên trong nhãn cầu và não bộ.
- Y học đã ghi nhận những trường hợp tái phát triệu chứng lâm sàng mà không phải do tái nhiễm ở người đã khỏi bệnh. Nguyên nhân của hiện tượng này hiện vẫn chưa được thấu hiểu một cách trọn vẹn.
- Lây truyền virus Ebola qua tinh dịch của người nhiễm bệnh đã được ghi nhận kéo dài tới 15 tháng sau khi phục hồi lâm sàng. Để giảm thiểu nguy cơ này, một chương trình xét nghiệm tinh dịch cần được triển khai nhằm mục tiêu:
- Trong trường hợp không có chương trình xét nghiệm tinh dịch, nam giới đã khỏi bệnh cần tuyệt đối tuân thủ các biện pháp tình dục an toàn trong vòng 12 tháng.
- Ngoài ra, Orthoebolavirus có thể tồn tại trong nhau thai, nước ối và thai nhi của những phụ nữ bị nhiễm bệnh khi đang mang thai, cũng như trong sữa mẹ của phụ nữ đang cho con bú. Do đó, các chương trình chăm sóc người sống sót cần phải bao gồm cả việc chăm sóc toàn diện cho phụ nữ mang thai và cho con bú sau khi họ phục hồi.
Tin Gốc: Vnexpress

