Ngày 11-5, Công an xã Đại Thanh (Hà Nội) đang xác minh, làm rõ việc thành viên ban quản trị chung cư bị tát, hành hung. Nguyên nhân nghi do nhắc nhở cư dân về việc đeo rọ mõm cho chó.
Theo phản ánh của người dân, ngày 10-5, ban quản trị tòa nhà CT8 chung cư Đại Thanh nhận được phản ánh về việc một cư dân tại tầng 22 đưa chó kích thước lớn vào trong khu vực thang máy và hành lang chung cư.
Hình ảnh trích xuất từ camera cho thấy chó không được đeo rọ mõm, không có biện pháp kiểm soát an toàn.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, ban quản trị đã kiểm tra, trích xuất camera an ninh và xác định phản ánh của cư dân là có cơ sở.
Một tổ công tác gồm thành viên ban quản trị, đội an ninh, đại diện tổ dân cư đã trực tiếp đến làm việc với chủ căn hộ, nhắc nhở thực hiện đúng quy định quản lý vật nuôi tại khu chung cư.
Tuy nhiên hình ảnh từ camera giám sát cho thấy một người đàn ông liên tiếp cãi vã. Đáng chú ý, người này còn bất ngờ lao vào tát, hành hung một thành viên ban quản trị.
Thành viên ban quản trị bị hành hung sau đó phải cần tới sự kiểm tra của nhân viên y tế.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngày 28/5, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố bị can với Nguyễn Thị Hiền, 33 tuổi, trú phường Đông Quang và Trịnh Đình Nam, 32 tuổi, trú phường Hạc Thành về tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, theo Điều 226 Bộ luật Hình sự.
Theo nhà chức trách, qua rà soát hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội, trinh sát phát hiện nhiều tài khoản thường xuyên livestream, đăng video quảng cáo các sản phẩm "hàng hiệu giá rẻ", "full box", "xả kho", "sale thanh lý" với giá thấp bất thường.
Ngày 16/5, Phòng Cảnh sát kinh tế phối hợp Đội Quản lý thị trường số 9 kiểm tra kho hàng của Nguyễn Thị Hiền tại phố Tây Sơn, phường Đông Quang, phát hiện hơn 3.000 sản phẩm túi xách, khăn, kính... mang nhãn hiệu Louis Vuitton, Dior, Chanel, Gucci... có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam.
Tại thời điểm kiểm tra, toàn bộ số hàng không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Hàng hóa đã được đóng gói, phân loại sẵn để giao cho khách thông qua các đơn vị chuyển phát nhanh.
Làm việc với công an, Hiền khai từ đầu năm 2025 đã nhập hàng giả thông qua mạng xã hội để bán kiếm lời do nhận thấy nhu cầu mua hàng hiệu giá rẻ tăng cao. Các giao dịch chủ yếu thực hiện qua Facebook, TikTok, Zalo.
Một ngày sau, lực lượng chức năng tiếp tục kiểm tra cửa hàng Nam Vũ Luxury trên đường Đinh Công Tráng, phường Hạc Thành do Trịnh Đình Nam làm chủ.
Tại đây, công an phát hiện nhiều sản phẩm quần áo, giày dép, dây thắt lưng giả mạo các thương hiệu Gucci, Hermès, Louis Vuitton, Dior, Nike, Adidas... Toàn bộ số hàng không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.
Tổng cộng, lực lượng chức năng thu hơn 4.000 sản phẩm gồm quần áo, túi xách, giày dép, kính, dây lưng... giả mạo nhiều thương hiệu nổi tiếng như Louis Vuitton, Dior, Gucci, Chanel, Hermès, Adidas, Nike... Giá trị hàng hóa đã bán ước tính hơn 30 tỷ đồng.
Theo cơ quan điều tra, các bị can biết rõ các nhãn hiệu trên được bảo hộ tại Việt Nam nhưng vẫn cố tình kinh doanh hàng giả nhằm thu lợi bất chính, gây ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và quyền lợi người tiêu dùng.
Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hóa nhận định, tình trạng lợi dụng mạng xã hội để buôn bán hàng giả, hàng nhái đang diễn biến phức tạp với thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Tin Gốc: Vnexpress

Tại Hà Nội, Văn phòng Bộ Công an vừa chủ trì, phối hợp với Cục Truyền thông Công an nhân dân tổ chức tọa đàm chính sách về một số văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Công an chủ trì xây dựng trong năm 2026.
Thượng tá Ngô Đức Thắng, Phó Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an, cho biết quá trình tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự cho thấy, bên cạnh những kết quả quan trọng, việc áp dụng bộ luật này vẫn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc lớn.
Theo Thượng tá Thắng, các vướng mắc có thể khái quát thành 7 nhóm vấn đề chủ yếu.
Trước hết, một số quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chưa bao quát hết các tình huống mới phát sinh trong thực tiễn.
Đáng chú ý là các trường hợp rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, đổi mới sáng tạo, mô hình sản xuất, kinh doanh mới; hoặc trường hợp cá nhân, tổ chức có vi phạm nhưng không vụ lợi, không tham nhũng và đã chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả.
Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng nghiêm minh nhưng nhân văn, khuyến khích khắc phục hậu quả và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Nhóm vấn đề thứ hai là một số quy định mang tính nguyên tắc, nền tảng về tội phạm, đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các chế định về trách nhiệm hình sự còn có cách hiểu khác nhau, chưa thật sự đầy đủ để áp dụng thống nhất trong điều tra, truy tố, xét xử.
Thứ ba, hệ thống quy định về hình phạt còn bất cập. Trong đó, phạm vi áp dụng hình phạt tử hình còn rộng; ở một số tội danh, mức phạt tiền, phạt tù chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; hình phạt tiền chưa theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ tư, một số dấu hiệu định tội, định khung chưa rõ, chưa thống nhất, còn phụ thuộc nhiều vào cách hiểu và đánh giá của cơ quan áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, một số tình tiết định lượng không còn phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ năm, một số hành vi nguy hiểm mới chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự, dẫn đến việc chưa bảo đảm tính bao quát, toàn diện trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một số quy định cũng chưa kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng, chưa nội luật hóa đầy đủ các điều ước, thỏa thuận, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Thứ sáu, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại hiện mới giới hạn ở 33 tội, chủ yếu thuộc nhóm tội về môi trường, kinh tế. Qua tổng kết, Bộ Công an nhận thấy các nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm; một số tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai cũng cần được nghiên cứu quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.
Cuối cùng, một số quy định trong Bộ luật Hình sự còn chưa thống nhất với nhau, chồng chéo hoặc trùng lặp với pháp luật chuyên ngành và pháp luật tư pháp hình sự. Một số quy định chưa logic, chưa bảo đảm tính khoa học, còn lỗi về kỹ thuật trình bày.
Thượng tá Ngô Đức Thắng đánh giá, 7 nhóm vướng mắc trên cho thấy yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự không chỉ xuất phát từ một vài bất cập đơn lẻ, mà là yêu cầu hoàn thiện tổng thể chính sách hình sự.
Mục tiêu là xây dựng một Bộ luật Hình sự nghiêm minh, nhân đạo, hiện đại, thống nhất, dễ áp dụng, đủ sức xử lý các loại tội phạm mới, đồng thời tạo môi trường pháp lý an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Tin Gốc: Dân Trí

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi, trong đó có đề xuất thay đổi tiêu chuẩn về trình độ học vấn.
Cụ thể, dự thảo đề xuất tiêu chuẩn "có bằng từ cử nhân luật trở lên", còn luật hiện hành quy định luật sư phải "có bằng cử nhân luật".
Hiện nay, hệ thống giáo dục Việt Nam cho phép người có bằng cử nhân ở các ngành khác vẫn được học tiếp và lấy bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật.
Điều này đồng nghĩa, theo dự thảo, những người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn có thể đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ học vấn để trở thành luật sư. Nhưng nó không đồng nghĩa với việc người chưa từng được đào tạo luật có thể hành nghề luật sư.
Nhiều người băn khoăn có nên mở rộng đối tượng hành nghề đối với những người đã được đào tạo luật ở trình độ sau đại học nhưng không xuất phát từ bậc cử nhân luật hay không.
Hai mô hình đào tạo luật sư phổ biến trên thế giới
Các quốc gia có ngành luật phát triển trên thế giới hiện không lựa chọn một mô hình chung mà phân hóa thành hai hướng tiếp cận khác nhau. Một bên coi luật là ngành nghề đòi hỏi nền tảng chuyên môn được xây dựng từ sớm và bài bản. Bên còn lại xem luật là nghề nghiệp có thể tiếp nhận nhân lực từ nhiều lĩnh vực khác nhau, miễn người học vượt qua được quá trình đào tạo và sát hạch chuyên nghiệp.
Với mô hình thứ nhất, coi luật sư phải được đào tạo luật từ gốc, Đức là ví dụ điển hình.
Theo mô hình chủ đạo tại quốc gia này, để trở thành luật sư (hoặc thẩm phán hay công tố viên), sinh viên phải trải qua chương trình đào tạo luật kéo dài khoảng 5 năm, sau đó trở thành "luật gia tập sự" trong 2 năm và tiếp tục vượt qua hai kỳ thi quốc gia nổi tiếng khắt khe.
Con đường này gần như không dành cho người "rẽ ngang". Hệ thống được thiết kế trên quan điểm rằng kiến thức pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, cần được tích lũy từ những môn học nền tảng như luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, tố tụng, triết học pháp luật, lịch sử pháp luật... trước khi tiến đến hành nghề.
Ưu điểm của mô hình này là bảo đảm tính hệ thống trong kiến thức pháp lý. Luật sư được đào tạo bài bản từ đầu, hạn chế nguy cơ xuất hiện những "lỗ hổng nền tảng".
Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm. Con đường trở thành luật sư dài, tốn kém và tương đối khép kín. Những người có chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khác như công nghệ, tài chính, y tế hay kỹ thuật sẽ gặp nhiều rào cản nếu muốn chuyển sang nghề luật.
Với mô hình thứ hai, không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật, Mỹ là ví dụ tiêu biểu.
Muốn vào trường luật, ứng viên chỉ cần có bằng đại học ở bất kỳ ngành nào. Một sinh viên vật lý, kỹ sư, nhà kinh tế học hay thậm chí nghệ sĩ đều có thể nộp đơn học luật.
Sau đó, họ theo học chương trình Juris Doctor (JD) kéo dài khoảng 3 năm trước khi tham gia kỳ thi luật sư theo quy định của từng bang.
Điều quan trọng không phải người học xuất phát từ đâu mà là họ có đủ năng lực để hoàn thành chương trình đào tạo luật chuyên nghiệp và vượt qua kỳ sát hạch hay không.
Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là sự đa dạng. Những người từng học công nghệ thông tin có thể trở thành chuyên gia về pháp luật dữ liệu và an ninh mạng. Người có nền tảng tài chính có thể làm luật sư chứng khoán hoặc mua bán - sáp nhập doanh nghiệp. Các bác sĩ có thể tham gia lĩnh vực pháp luật y tế và trách nhiệm nghề nghiệp.
Nhiều hãng luật quốc tế đánh giá đây là lợi thế quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp ngày càng phức tạp và mang tính liên ngành.
Tuy nhiên, mô hình này cũng đối mặt với lo ngại rằng người học có thể thiếu kiến thức nền tảng pháp lý nếu chương trình đào tạo chuyển đổi không đủ sâu hoặc quá thiên về kỹ năng hành nghề.
Do đó, cuộc tranh luận thực chất không nằm ở việc có hay không có bằng cử nhân luật. Dù xuất phát từ mô hình nào, vấn đề cốt lõi vẫn là xây dựng được cơ chế bảo đảm năng lực hành nghề đủ chặt chẽ.
Các hệ thống đào tạo luật sư trên thế giới không quá đặt nặng tên gọi của tấm bằng, nhưng đặc biệt coi trọng việc người hành nghề đã được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật cốt lõi hay chưa.
"Đào tạo cử nhân luật đóng vai trò nền tảng khi hành nghề"
Theo luật sư Phạm Thanh Bình, Phó giám đốc Công ty Luật Bảo Ngọc (Hà Nội), đề xuất này có nhiều điểm tích cực khi góp phần thúc đẩy đội ngũ luật sư có nền tảng đa ngành.
Việc cho phép người có bằng đại học ngoài ngành luật học tiếp cao học luật và có thể trở thành luật sư sẽ tạo nên đội ngũ luật sư am hiểu sâu sắc các lĩnh vực chuyên biệt như tài chính, sở hữu trí tuệ, y tế...
Quy định này cũng bắt nhịp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên, để áp dụng tại Việt Nam, cần cân nhắc nhiều khía cạnh.
Theo luật sư Bình, chương trình đào tạo cử nhân luật vẫn giữ vai trò nền tảng chuyên môn cốt lõi đối với người hành nghề luật sư.
Chương trình này không chỉ cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện về các lĩnh vực pháp luật cơ bản mà còn hình thành tư duy pháp lý, phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết, trình bày và tranh luận - những năng lực được xem là "xương sống" của nghề luật sư.
Đặc biệt, nghề luật sư liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, chương trình đào tạo luật sư cần được xây dựng trên nền tảng kiến thức pháp luật toàn diện.
Từ các quan điểm trên, luật sư Bình cho rằng dù đề xuất có nhiều điểm tích cực, việc mở rộng điều kiện hành nghề đối với người không có bằng cử nhân luật vẫn có thể làm phát sinh nguy cơ thiếu hụt kiến thức nền tảng nếu không được thiết kế cơ chế kiểm soát phù hợp.
Các luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại và người liên quan trong "đại án đăng kiểm". Ảnh: Thanh Tùng
"Chương trình thạc sĩ luật hiện nay thường chỉ kéo dài từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm, chủ yếu tập trung vào chuyên ngành chuyên sâu hoặc mang tính nghiên cứu", luật sư đánh giá.
Chưa kể, nếu không có cơ chế triển khai hợp lý, đề xuất này có thể dẫn đến nguy cơ quá tải đối với hệ thống đào tạo. Sự gia tăng đột biến về số lượng học viên sẽ tạo áp lực lớn lên cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và nguồn học liệu vốn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu hiện nay.
Luật sư Bình đề xuất, nếu mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư theo hướng trên, cần xây dựng cơ chế đánh giá và bổ sung kiến thức nền tảng tương đương chương trình cử nhân luật.
Đối với người không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật, cần quy định họ phải hoàn thành số lượng tín chỉ cốt lõi của chương trình đại học luật, như luật dân sự, luật hình sự, tố tụng..., trước khi được công nhận đủ điều kiện học nghề luật sư.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đào tạo chuyển đổi, cung cấp các chứng chỉ hoặc chương trình bổ sung kiến thức pháp luật đại cương cho nhóm đối tượng này.
Tin Gốc: Vnexpress

