Báo cáo tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 1/4, Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết sang năm 2026, tình hình thế giới biến động nhanh, khó lường, ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam. Đặc biệt, theo Bộ trưởng, xung đột Trung Đông kéo dài hơn một tháng tác động mạnh tới nguồn cung, giá dầu, dự báo ảnh hưởng rất phức tạp trong nước thời gian tới.
Báo cáo đánh giá bổ sung của Chính phủ cũng chỉ ra rằng xung đột quân sự giữa Israel, Mỹ và Iran từ ngày 28/2 leo thang phức tạp, gây thiệt hại cho các bên và ảnh hưởng tới nhiều nền kinh tế. Với Việt Nam, biến động này dự báo tác động lớn, trên nhiều mặt.
Trước hết, giá dầu thế giới tăng mạnh khiến giá xăng dầu trong nước qua các kỳ điều hành gần đây tăng khá cao so với trước khi xảy ra xung đột. Điều này gây áp lực lên lạm phát, chi phí sinh hoạt của người dân và sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, tình hình cũng tiềm ẩn rủi ro với an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô. Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, du lịch, thu hút FDI, thị trường tài chính – tiền tệ và tăng trưởng kinh tế đều có thể chịu tác động.
Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp ứng phó. Chẳng hạn, Nghị quyết 36, 55 được ban hành với các giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu, an ninh năng lượng. Thủ tướng cũng lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời triển khai các hoạt động ngoại giao để tìm kiếm thêm nguồn cung xăng dầu từ các đối tác, bảo đảm nguồn cung trong mọi tình huống.
Cùng với đó, các bộ ngành và địa phương được yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp nhằm hạn chế tác động của giá năng lượng quốc tế tới giá xăng dầu trong nước, kiểm soát lạm phát. Các cơ quan liên quan tăng quản lý thị trường, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, đầu cơ, găm hàng.
Xung đột Trung Đông kéo dài hơn một tháng qua, cùng tình trạng tắc nghẽn eo biển Hormuz khiến giá năng lượng tăng cao, gián đoạn chuỗi cung ứng và thương mại toàn cầu. Cuối tháng trước, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra 3 kịch bản về tác động của xung đột này tới tăng trưởng, lạm phát các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Với 3 kịch bản này, theo ADB, nhóm các quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á chịu thiệt hại nặng nề nhất, giảm khoảng 0,6-2,3% GDP. Các nước này gồm Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Myanmar, Timor-Leste, Brunei, Campuchia và Lào.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn giữ mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn tới, để trở thành nước thu nhập cao vào 2045. Theo Tổng thư ký Quốc hội Lê Quang Mạnh, Việt Nam cần tận dụng thời cơ vàng như cơ cấu dân số vàng, vị thế quốc gia được nâng cao, tỷ lệ nợ công và nợ Chính phủ đang ở mức thấp, dư địa tài khóa tốt.
Ông Mạnh cho rằng nếu không vượt qua được bẫy thu nhập trung bình đến 2035, Việt Nam sẽ bỏ lỡ mọi điều kiện thuận lợi và có nguy cơ “vĩnh viễn trở thành một quốc gia hạng hai, không thể đứng vào nhóm các nước phát triển”.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ rà soát, đánh giá tác động của xung đột Trung Đông theo nhiều kịch bản để xác định các ngành, lĩnh vực còn dư địa tăng trưởng và giải pháp ứng phó phù hợp.
Đồng thời, nhà điều hành tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, điều hành linh hoạt chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô. Chính phủ cũng đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, giải ngân đầu tư công để dẫn dắt đầu tư tư nhân, phát triển các động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Góp ý thêm về giải pháp, đại biểu Lê Quang Mạnh cho rằng nhà điều hành cần xây dựng một kịch bản và kế hoạch cụ thể. Ông chỉ ra một thực trạng là chỉ số ICOR về hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam không cải thiện trong 10 năm qua. Điều này cho thấy tăng trưởng hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào việc “bơm thêm vốn”, tăng tổng đầu tư toàn xã hội, không phải dựa trên tăng năng suất. Nếu Việt Nam vẫn tiếp tục cách thức này, theo ông Mạnh, sẽ khó đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trong 5 năm tới, chưa nói tới 10 năm.
Trước mắt, ông cho rằng Việt Nam cần tiếp tục duy trì và tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội (gồm đầu tư tư nhân, FDI), tháo gỡ các dự án treo trên cả nước để giữ đà tăng trưởng 8-10%. Về dài hạn, nhà điều hành cần tập trung vào việc tăng năng suất quốc gia và đảm bảo sự đồng bộ trong triển khai chính sách.
Đại biểu lưu ý về sự đồng bộ giữa quy hoạch tổng thể quốc gia và các dự án đầu tư công rất lớn như Sân bay Long Thành hay Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Ông nhấn mạnh nếu không tính toán kỹ hiệu quả, những dự án này trong 10 năm tới khi chưa đi vào hoạt động sẽ không đóng góp được vào hiệu suất tăng trưởng chung.
Phiên họp thường niên của Công ty Chứng khoán SSI chiều nay được lấp kín bởi hơn 1.550 cổ đông, con số kỷ lục của doanh nghiệp này. Ghế liên tục được xếp thêm vào phòng họp lớn tại Dinh Độc Lập, hàng chục cổ đông thiếu chỗ ngồi. Một số chấp nhận đứng dọc lối đi và bên ngoài, chờ đến phần chất vấn Chủ tịch HĐQT Nguyễn Duy Hưng.
Trong một giờ thảo luận, cổ đông đặt hơn 20 câu hỏi cho ông Hưng, trong đó tập trung nhiều vào lý do không theo đuổi kế hoạch lập sàn tài sản số và cuộc đua thị phần môi giới chứng khoán. Một số khác cho biết nắm giữ cổ phiếu SSI nhiều năm và đề nghị ông Hưng có giải pháp để thị giá tăng bằng lần như Vingroup.
Ngồi một mình ở bàn chủ tọa, ông Hưng chậm rãi trả lời từng câu hỏi. Ông cũng đề nghị nhiều thành viên trong ban điều hành giải đáp thắc mắc chuyên môn cho cổ đông.
Liên quan việc SSI không có tên trong danh sách 5 doanh nghiệp đủ điều kiện thí điểm sàn tài sản mã hóa, ông Hưng cho biết quy trình xét và cấp phép triển khai hiện nay rất khác một năm trước. Càng đào sâu, công ty càng chưa thấy cơ hội cũng như khả năng vận hành an toàn, kinh doanh hiệu quả. Công ty chưa mường tượng được mô hình phát triển lĩnh vực này thế nào.
"Đó là lý do vì sao SSI chủ động không hoàn thiện hồ sơ để đi tiếp. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa chúng tôi dừng quan tâm tài sản mã hóa", ông Hưng nói. Ông khẳng định chắc chắn sẽ tham gia thị trường này ở thời điểm nào thấy rõ cơ hội, để không tụt hậu so với công ty khác.
Ông Hưng từng chia sẻ bản thân giống nhiều người xem tài sản số không mang lại giá trị gì. Từ khi Chính phủ một số nước cân nhắc đưa tiền kỹ thuật số vào quỹ dự trữ quốc gia tương tự vàng, ông thay đổi quan điểm. Ông nói đây là xu thế tất yếu, có thể đóng góp lớn cho kinh tế đất nước và không thể cưỡng lại được.
SSI từng cử người tham gia cùng Bộ Tài chính để nghiên cứu lập sàn giao dịch tài sản số. Bản thân ông xem đây như bước đầu tìm hiểu, còn tham gia hay không và mức độ như thế nào là câu chuyện tương lai. Ông đặt mục tiêu phải hiểu biết tinh tường để xác định giá trị tài chính ở đâu và rủi ro chỗ nào, trước khi quyết định thời điểm tham gia.
Cuộc đua thị phần môi giới chứng khoán cũng làm nóng phiên họp thường niên, bởi con số này của SSI trong quý đầu năm sụt nhẹ so với cuối 2025, xuống 11,1%. Ít nhất bốn cổ đông chất vấn ông Hưng và ban lãnh đạo về kế hoạch giành lại thị phần từ các đối thủ cùng ngành.
Theo ông Hưng, công ty không cạnh tranh thị phần môi giới bằng phí, mà tập trung vào chất lượng dịch vụ. Việc con số này tăng năm quý, giảm một quý không nói lên xu hướng mất thị phần vào tay doanh nghiệp khác.
Ông Bùi Thế Tân, Giám đốc khối bán lẻ SSI, cho hay bên cạnh giữ kênh truyền thống, công ty cũng tăng tốc dần ở kênh trực tuyến. Ông ví dụ đội ngũ môi giới "livestream trên mạng xã hội từ sáng đến khuya" để tiếp cận khách hàng đại chúng. Đối với thị phần môi giới tổ chức, công ty ước tính đang chiếm khoảng 30%, đứng đầu thị trường và đặt mục tiêu tiếp tục tăng trưởng khoảng 20%.
SSI đặt mục tiêu năm nay thu 15.660 tỷ đồng và lãi trước thuế 5.838 tỷ đồng, lần lượt tăng 19% và 15% so với năm ngoái. Một số cổ đông đánh giá tỷ lệ này không lớn trong bối cảnh chứng khoán được dự báo bùng nổ khi FTSE Russell xác nhận nâng hạng thị trường vào cuối tháng 9/2026.
Tổng giám đốc Nguyễn Đức Thông phân trần tỷ lệ tăng không nhiều, nhưng giá trị tuyệt đối biến động lớn, đặc biệt khi đây là mức tăng so với kỷ lục doanh thu và lợi nhuận vừa thiết lập năm ngoái. Quý đầu năm, SSI ghi nhận doanh thu 3.295 tỷ đồng và lãi trước thuế 1.593 tỷ đồng, nằm trong nhóm đầu ngành chứng khoán.
Ban lãnh đạo cho hay dư nợ cho vay ký quỹ (margin) của công ty đã có thời điểm lên 43.000 tỷ đồng. Công ty dự kiến năm nay sẽ giải ngân tối thiểu 45.000 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu vào để phục vụ margin được ban lãnh đạo đánh giá không khó, do có quan hệ với nhiều ngân hàng trong nước và định chế tài chính nước ngoài.
Tại phiên họp thường niên, SSI thông qua phương án chia cổ tức tiền mặt 10% và cổ tức cổ phiếu 20%. Đây là năm thứ 20 liên tiếp doanh nghiệp này chia cổ tức tiền mặt. Đây được xem là kỷ lục hiếm có ở Việt Nam, nơi thị trường chứng khoán mới giao dịch hơn 25 năm.
Thị trường kim loại quý vừa trải qua một phiên rung lắc mạnh khi giá vàng bất ngờ quay đầu giảm sâu ngay sau khi chạm đỉnh cao nhất trong ba tuần. Áp lực bán xuất hiện trên diện rộng sau khi dữ liệu lạm phát mới của Mỹ vượt kỳ vọng, làm thay đổi nhanh chóng kỳ vọng của giới đầu tư về lộ trình lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Theo dữ liệu từ Reuters, giá vàng giao ngay giảm 0,8% xuống còn 4.698 USD/ounce sau khi trước đó leo lên mức cao nhất kể từ ngày 21/4. Hợp đồng vàng tương lai giao tháng 6 cũng mất 0,5%, lùi về quanh 4.706 USD/ounce.
Không chỉ vàng, bạc cũng chịu áp lực chốt lời mạnh. Theo Kitco, giá bạc giao ngay giảm gần 3%, xuống còn khoảng 83,45 USD/ounce sau cú tăng hơn 6% trong phiên liền trước.
Tâm điểm của thị trường hiện nằm ở bài toán lạm phát và năng lượng. Giá dầu thô tiếp tục tăng mạnh do căng thẳng tại eo biển Hormuz, tuyến vận tải dầu mỏ chiến lược của thế giới, khiến nguy cơ gián đoạn nguồn cung toàn cầu leo thang. Giá dầu WTI hiện đã vượt 101 USD/thùng, trong khi dầu Brent tiến sát mốc 107 USD/thùng. Đà tăng của năng lượng nhanh chóng phản ánh vào dữ liệu kinh tế Mỹ.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 của Mỹ tăng 3,8% so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn mức dự báo 3,7% của thị trường. Dữ liệu này làm dấy lên lo ngại rằng lạm phát vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn, đặc biệt khi giá năng lượng tiếp tục leo thang. Ông Ole Hansen, Giám đốc chiến lược hàng hóa tại Saxo Bank, nhận định đà tăng của dầu đang kéo lợi suất trái phiếu Mỹ và đồng USD đi lên, tạo áp lực trực tiếp lên giá vàng.
Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng lên vùng cao nhất một tuần quanh 4,4%, trong khi chỉ số USD Index tăng thêm 0,4%. Đồng USD mạnh khiến vàng và các hàng hóa định giá bằng USD trở nên đắt đỏ hơn với nhà đầu tư quốc tế.
Thông thường, vàng được xem là công cụ phòng ngừa lạm phát. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, lạm phát cao lại khiến thị trường lo ngại Fed sẽ duy trì lãi suất ở mức cao lâu hơn. Đây là yếu tố đặc biệt bất lợi với vàng bởi kim loại quý không tạo ra lợi suất. Khi trái phiếu và USD hấp dẫn hơn, dòng tiền có xu hướng rời khỏi tài sản trú ẩn như vàng và bạc.
Thị trường hiện gần như đã loại bỏ khả năng Fed giảm lãi suất trong năm 2026. Theo công cụ FedWatch của CME Group, giới đầu tư thậm chí đang định giá khoảng 36% khả năng Fed có thể tăng lãi suất vào tháng 3/2027.
Trong khi đó, căng thẳng địa chính trị vẫn tiếp tục phủ bóng lên thị trường. Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết thỏa thuận ngừng bắn với Iran đang “thoi thóp” sau khi Tehran bác bỏ đề xuất từ Washington. Nhà đầu tư hiện cũng dồn sự chú ý vào chuyến thăm Trung Quốc kéo dài hai ngày của ông Trump, nơi hồ sơ Trung Đông được dự báo sẽ trở thành chủ đề trọng tâm.
Dưới góc độ kỹ thuật, giới phân tích cho rằng vàng vẫn đang trong giai đoạn tích lũy nhưng áp lực điều chỉnh ngắn hạn đang gia tăng rõ rệt. Theo Saxo Bank, vùng hỗ trợ quan trọng của vàng hiện nằm phía trên mốc 4.500 USD/ounce, trong khi kháng cự mạnh là đường trung bình động 50 ngày quanh vùng 4.757 USD.
Phân tích từ Kitco cho thấy phe bán đang nhắm mục tiêu kéo giá vàng xuống dưới ngưỡng 4.686 USD. Nếu mốc này bị phá vỡ, giá vàng có thể tiếp tục lùi về vùng 4.652 USD. Ở chiều ngược lại, để khôi phục đà tăng, vàng cần vượt qua các vùng cản quan trọng quanh 4.715 USD và 4.722 USD/ounce.
Đối với bạc, vùng 84,70 USD hiện là ngưỡng then chốt. Nếu không thể bứt phá trở lại, giá bạc có nguy cơ giảm sâu về vùng hỗ trợ 82,5 USD và 82,12 USD/ounce.
Đó là khẳng định của ThS Nguyễn Thị Xuân Thúy, khoa kinh tế chính trị Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), khi trao đổi với Tuổi Trẻ xung quanh đề xuất loại ngành ô tô ra khỏi ngành kinh doanh có điều kiện.
Bà Thúy nói: Những năm gần đây, ngay cả những nền kinh tế từng đề cao tự do thương mại cũng bắt đầu áp đặt chính sách bảo hộ chiến lược, đặc biệt trong ngành ô tô và xe điện.
* Vậy theo bà, chúng ta có nên cắt giảm thủ tục, điều kiện kinh doanh hay tiếp tục duy trì cách quản lý như trước?
- Sau gần ba thập niên phát triển, Việt Nam đã có được ngành công nghiệp ô tô với năng lực lắp ráp nhất định, hình thành mạng lưới các nhà cung cấp tuy chưa thực sự lớn mạnh nhưng cũng đã phát triển, đồng hành cùng các nhà lắp ráp, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động.
Nhưng nhìn một cách khách quan, mức độ nội địa hóa ở nhiều phân khúc vẫn còn thấp, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, năng lực xuất khẩu còn hạn chế và giá trị gia tăng nội địa chưa cao.
Đây cũng là lý do khiến nhiều ý kiến đặt câu hỏi: Liệu việc duy trì các điều kiện kinh doanh và hàng rào bảo hộ thời gian qua đã thực sự tạo ra năng lực công nghiệp đủ mạnh hay chưa?
Thực tế, nếu tiếp tục duy trì mô hình bảo hộ mà không tạo ra áp lực nâng cấp công nghệ và năng lực cạnh tranh, ngành ô tô trong nước cũng khó có thể phát triển bền vững.
Bảo hộ quá lâu nhưng không gắn với đổi mới công nghệ, nội địa hóa thực chất hay năng lực xuất khẩu có thể khiến doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trường được bảo vệ thay vì nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ngược lại, nếu mở hoàn toàn trong khi năng lực công nghiệp hỗ trợ còn yếu, Việt Nam có nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ thay vì trung tâm sản xuất. Khi đó, các doanh nghiệp có thể lựa chọn nhập khẩu nguyên chiếc hoặc chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản từ các trung tâm sản xuất lớn trong khu vực như Thái Lan hay Indonesia.
* Những hệ lụy nào xảy ra nếu chúng ta "mở cửa" quá mức khi cắt giảm hết các điều kiện, thủ tục, thưa bà?
- Nếu cắt bỏ những điều kiện, thủ tục..., nhóm chịu tác động lớn nhất có thể không phải các tập đoàn lớn, mà là mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang từng bước tham gia chuỗi cung ứng cho ngành ô tô.
Các doanh nghiệp cơ khí, cao su, nhựa, dây điện, khuôn mẫu hay gia công kim loại phụ thuộc đáng kể vào hoạt động sản xuất và lắp ráp trong nước. Nếu chuyển mạnh sang nhập khẩu nguyên chiếc hoặc chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản, cơ hội tích lũy năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp này sẽ bị thu hẹp đáng kể.
Đây cũng là điểm cần được nhìn nhận đầy đủ hơn khi đánh giá vai trò của ngành ô tô. Không nhiều ngành công nghiệp tại Việt Nam hiện nay có khả năng tạo ra hệ sinh thái sản xuất rộng như ô tô, với sự tham gia của các ngành cơ khí, điện - điện tử, cao su, nhựa, vật liệu, khuôn mẫu, tự động hóa hay logistics công nghiệp.
Giá trị của ngành ô tô vì thế không chỉ nằm ở sản lượng xe bán ra hay số lượng nhà máy lắp ráp cuối cùng, mà còn ở khả năng hình thành nền tảng sản xuất trong nước, tích lũy năng lực chế tạo và tạo không gian phát triển cho mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh.
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng nhấn mạnh mục tiêu tự chủ, tự cường và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế, câu chuyện ngành ô tô cũng cần được nhìn rộng hơn dưới góc độ năng lực sản xuất quốc gia.
Một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu các sản phẩm công nghệ và công nghiệp chế tạo sẽ khó nâng cao tính tự chủ trong dài hạn, đặc biệt khi cạnh tranh địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và xu hướng bảo hộ đang gia tăng trên toàn cầu.
Về dài hạn, điều đáng lo không chỉ là chuyện thị phần xe nhập khẩu, mà là nguy cơ suy yếu nền tảng sản xuất công nghiệp trong nước trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.
* Vậy làm thế nào để vừa tạo thuận lợi, thông thoáng cho môi trường đầu tư kinh doanh, nhưng cũng góp phần thúc đẩy phát triển ngành ô tô bền vững?
- Theo tôi, cần chuyển từ bảo hộ bằng các biện pháp hành chính sang chính sách công nghiệp thế hệ mới. Theo đó, giảm dần các cơ chế xin - cho và tiền kiểm mang tính hành chính.
Thay vào đó, cần tăng cường các công cụ chính sách hiệu quả hơn như tiêu chuẩn kỹ thuật, ưu đãi gắn với tỉ lệ nội địa hóa thực chất, hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu phát triển, phát triển hệ sinh thái xe điện và thúc đẩy xuất khẩu.
Kinh nghiệm cho thấy các quốc gia thành công trong ngành ô tô thường không dựa chủ yếu vào giấy phép kinh doanh để bảo vệ thị trường, mà tập trung xây dựng năng lực công nghiệp thông qua các chính sách có điều kiện rõ ràng và định hướng dài hạn.
Chính sách phát triển ngành ô tô cần tránh không chỉ là bảo hộ kéo dài, mà còn là nguy cơ đánh mất nền tảng sản xuất công nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.