Theo biểu lãi suất huy động trực tuyến mới cập nhật, NCB giảm 0,1 điểm phần trăm lãi suất các kỳ hạn từ 6-12 tháng. Cụ thể, lãi suất tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ hiện được niêm yết ở mức 4,7%/năm cho kỳ hạn 1 tháng; 4,75%/năm cho kỳ hạn 2-5 tháng; 6,2%/năm cho kỳ hạn 6-11 tháng; 6,4%/năm cho kỳ hạn 12 tháng; 6,5%/năm cho kỳ hạn 13 tháng; 6,6%/năm cho kỳ hạn 15 tháng và 6,7%/năm cho kỳ hạn 18 tháng.
Mức lãi suất cao nhất vẫn được NCB duy trì ở 6,8%/năm, áp dụng cho khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến các kỳ hạn từ 24-60 tháng.
Đối với tiền gửi tại quầy, NCB cũng giảm 0,1 điểm phần trăm lãi suất ở các kỳ hạn từ 6-12 tháng. Hiện lãi suất niêm yết dao động từ 4,6-6,7%/năm tùy kỳ hạn, trong đó mức cao nhất 6,7%/năm được áp dụng cho các khoản tiền gửi từ 24-60 tháng.
Ngoài ra, NCB điều chỉnh giảm lãi suất đối với một số sản phẩm tiền gửi khác. Với sản phẩm Tiết kiệm Rút gốc linh hoạt, lãi suất kỳ hạn 6-11 tháng giảm còn 6%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng còn 6,2%/năm. Đối với sản phẩm Tiết kiệm tích lũy, lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng lần lượt giảm xuống 6,4%/năm và 6,7%/năm.
Trước đó, ngày 10/4, NCB đã giảm 0,1 điểm phần trăm lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 6-60 tháng. Với động thái mới nhất, NCB trở thành ngân hàng thứ 4 hạ lãi suất tiền gửi trong tháng 6, sau LPBank, VIB và VPBank.
Theo khảo sát biểu lãi suất huy động trực tuyến ngày 22/6, ở kỳ hạn 1 tháng, mặt bằng lãi suất dao động từ 3,6% đến 4,75%/năm. Mức cao nhất 4,75%/năm đang được nhiều ngân hàng áp dụng, trong đó có nhóm Big4 (gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank). Trong khi đó, GPBank niêm yết mức thấp nhất là 3,6%/năm. Tại kỳ hạn 3 tháng, lãi suất huy động phổ biến quanh vùng 4,5-4,75%/năm. Mức cao nhất tiếp tục là 4,75%/năm và được nhiều ngân hàng duy trì.
Đối với kỳ hạn 6 tháng, khoảng cách lãi suất giữa các ngân hàng bắt đầu nới rộng. ACB dẫn đầu với mức 7,1%/năm, theo sau là MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 6,6%/năm, thấp hơn khoảng 0,4-0,5 điểm phần trăm so với nhóm dẫn đầu.
Ở kỳ hạn 9 tháng, ACB tiếp tục giữ vị trí cao nhất với lãi suất 7,2%/năm. MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm, trong khi PGBank đạt 6,9%/năm và LPBank ở mức 6,8%/năm. Mặt bằng lãi suất trên thị trường tập trung chủ yếu trong khoảng 6-7%/năm.
Tại kỳ hạn 12 tháng, ACB niêm yết mức cao nhất thị trường là 7,3%/năm. Theo sau là Saigonbank với 7,2%/năm; MBV, VCBNeo, VIB và PGBank cùng áp dụng mức từ 7%/năm trở lên. Trong khi đó, nhóm Big4 duy trì mức 6,8%/năm.
Đối với kỳ hạn 18 tháng, mức lãi suất cao nhất hiện thuộc về Saigonbank và nhóm ngân hàng MBV, VCBNeo với 7%/năm. LPBank niêm yết 6,95%/năm, Nam A Bank 6,9%/năm, trong khi các ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ mức 6,8%/năm.
Đây là những thông số về sự suy giảm "sức khỏe" của hộ kinh doanh trong năm 2025 vừa được Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố trong báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.
VCCI cho rằng trong cấu trúc kinh tế tư nhân tại Việt Nam, khu vực hộ kinh doanh không chỉ là những đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, mà còn là một bộ phận có ý nghĩa nền tảng đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Ước tính đến hết năm 2025 cả nước có khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, các hộ đang tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động, đóng góp ngân sách khoảng 32,8 ngàn tỉ đồng.
Kết quả khảo sát được VCCI thực hiện từ tháng 2 đến 4-2026 với 1.001 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố trên cả nước cho thấy khu hộ kinh doanh bước vào giai đoạn 2025-2026 với nhiều áp lực do thị trường biến động và yêu cầu quản lý ngày càng hoàn thiện.
Về kết quả kinh doanh trong năm 2025, có 73,7% hộ cho biết kinh doanh lãi ít, 12,9% hòa vốn, 9,3% lỗ ít, 2,2% lỗ lớn và chỉ 1,9% đạt lợi nhuận như kỳ vọng.
Điều này cho thấy đa số hộ kinh doanh vẫn duy trì được hoạt động nhưng lợi nhuận mỏng, dư địa tích lũy để tái đầu tư hạn chế.
Cũng trong năm 2025 có 23% hộ kinh doanh được khảo sát cho biết doanh thu giảm mạnh, 58,5% doanh thu giảm nhẹ.
Ngoài ra 20,6% hộ kinh doanh cho biết lượng khách hàng giảm mạnh, 54,8% hộ có lượng khách hàng giảm nhẹ.
Doanh thu và lượng khách hàng giảm trên diện rộng trong năm vừa qua cho thấy khó khăn của hộ kinh doanh không đến từ quy mô nhỏ, mà còn từ sức cầu thị trường đang trong quá trình điều chỉnh, VCCI nhận định.
Cũng theo kết quả khảo sát của VCCI thì xu hướng kinh doanh của khu vực hộ kinh doanh trong 2 năm tới cũng cón nhiều tín hiệu cần quan tâm.
Có 60,8% hộ kinh doanh dự kiến duy trì hoạt động, 33% có xu hướng thu hẹp phạm vi kinh doanh, 4,4% dự kiến giải thể và chỉ 1,8% có ý định mở rộng.
Những con số này theo nhóm nghiên cứu của VCCI thể hiện xu hướng chủ đạo của hộ kinh doanh trong thời gian tới là duy trì hoạt động và quản trị rủi ro hơn là mở rộng kinh doanh.
Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2025 cũng chỉ ra loạt khó khăn của khu vực hộ kinh doanh hiện nay, đó là khó khăn về nguồn lực, thị trường, đầu vào sản xuất và khung pháp lý đầu tư kinh doanh.
Vấn đề tuân thủ nghĩa vụ thuế, hóa đơn điện tử cũng là những khó khăn đa số hộ kinh doanh gặp phải, có tới 71,2% hộ kinh doanh cho biết khó thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử, 67,6% gặp khó khăn khi hạch toán chi phí được trừ, 62,3% gặp khó khăn trong kê khai và nộp thuế.
Khảo sát của VCCI cũng chỉ ra rằng các hộ kinh doanh rất cần sự hỗ trợ trong khâu xuất hóa đơn điện tử.
Trong khâu xuất hóa đơn điện tử, có 35,3% hộ kinh doanh cho biết gặp lỗi kỹ thuật, 54,8% không biết sửa hóa đơn sai, 31,1% thiếu thiết bị, 9,6% gặp khó khăn khác, chỉ 13,6% cho biết không gặp khó khăn trong xuất hóa đơn điện tử.
Một điểm đáng lưu ý trong khảo sát của VCCI là mức độ khó khăn của hộ kinh doanh có xu hướng tăng theo quy mô doanh thu. Điều này ít nhiều ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi của hộ kinh doanh lên doanh nghiệp.
Có 15,6% hộ kinh doanh tham gia khảo sát cho biết có ý định chuyển thành doanh nghiệp trong 2 năm tới, trong khi 84,4% chưa có kế hoạch. Điều này cho thấy đa số hộ kinh doanh chưa có ý định chuyển thành doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Sở Xây dựng Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của HĐND về thí điểm quản lý, sử dụng vỉa hè, lòng đường để kinh doanh, phát triển kinh tế đô thị, kinh tế đêm. Hoàn Kiếm là một trong hai phường được đề xuất thí điểm giai đoạn đầu, với mức thuê dự kiến 45.000 đồng mỗi m2 một tháng.
Nhà mặt tiền của chị Thương nằm trên phố Hàng Bồ, phường Hoàn Kiếm, cạnh con ngõ hẹp với chục hộ gia đình sinh sống. Chính sách dự kiến cho thuê vỉa hè mở ra cơ hội kinh doanh trên "đất vàng" chỉ với 100.000-200.000 đồng mỗi tháng cho không gian 2-4 m2, nhưng chị băn khoăn "cơ hội này dành cho ai".
"Tôi muốn nới thêm chỗ ngồi cho quán, người ở nơi khác tới thuê, họ lại tính mở bán bún, phở. Cơ quan chức năng giải quyết mâu thuẫn này ra sao?", chị đặt vấn đề.
Tương tự, gia đình bà Xuân đang cho thuê cửa hàng bán đồ lưu niệm trên phố Hàng Gai. Bà ủng hộ việc thành phố cho thuê vỉa hè để kinh doanh, song băn khoăn về tiêu chí xác định hộ nào được thuê, kinh doanh mặt hàng gì, thế nào.
Bà Xuân lo ngại sẽ phát sinh cảnh "khách Tây vào mua đồ lưu niệm, phải bước qua gánh bún riêu". Bởi lẽ, kinh doanh hàng ẩm thực vỉa hè sẽ phát sinh các công đoạn nấu nướng, dọn rửa, xả thải... dễ gây nguy cơ ô nhiễm và mất mỹ quan đường phố.
Ngoài phần diện tích trên vỉa hè, hộ kinh doanh cũng có thể được thuê một phần lòng đường để buôn bán, làm nơi đỗ xe. Theo chị Thương, thực tế không gian đỗ xe dễ nảy sinh xung đột kiểu "khách anh, khách tôi" giữa chủ cửa hàng mặt phố và người thuê vỉa hè. Chị cho hay quy ước "ngầm hiểu" của giới buôn bán là chủ xe không dừng, đỗ trước mặt bằng kinh doanh nếu không mua hàng.
"Một số người vẫn đỗ, với lập luận 'vỉa hè này của nhà anh, chị à'. Người kinh doanh sẽ có tiếng nói hơn khi họ được thuê vỉa hè một cách chính thống", chị Thương nêu.
Để tránh mâu thuẫn với người thuê vỉa hè, một số chủ nhà phố cho biết họ sẽ đăng ký thuê từ chính quyền, rồi cân nhắc nhượng lại. Việc này sẽ giúp họ kiểm soát tốt hơn người thuê lẫn hoạt động kinh doanh trước cửa nhà. Và việc hợp pháp hóa quyền thuê vỉa hè được kỳ vọng sẽ chấm dứt tình trạng đỗ xe tùy tiện trước cửa hàng.
Ở khía cạnh này, PGS. TS Lưu Đức Hải, nguyên Cục trưởng Phát triển Đô thị (Bộ Xây dựng), cho rằng nhà quản lý nên ưu tiên sinh kế tại chỗ. Bên cạnh cấp phép cho chính hộ dân sở hữu nhà mặt phố, cơ quan chức năng có thể cân nhắc cho phép hộ nghèo, lao động tự do kinh doanh lâu năm tại khu vực được thuê vỉa hè, lòng đường... tránh tình trạng đầu cơ không gian công cộng.
"Việc xác định người được thuê cần minh bạch, triệt tiêu cơ chế "xin - cho" và tạo sự đồng thuận trong xã hội", ông góp ý.
Hộ kinh doanh chỉ được thuê vỉa hè có trả phí khi ít nhất 50% hộ gia đình, kinh doanh có quyền sử dụng nhà ở đồng thuận. Chị Thương cho rằng tỷ lệ trên khó đạt, bởi người kinh doanh nhìn vào lợi ích. Dù phí không cao, việc thêm một khoản chi chưa rõ hiệu quả sẽ khiến họ chần chừ. Thêm vào đó, nếu không đạt tỷ lệ đồng thuận cần thiết (50%), vỉa hè đơn giản là được lập lại trật tự cũ. "Việc không ai được thuê sẽ công bằng với tất cả, không còn tị nạnh hay tranh cãi", chị nói.
Theo kết quả khảo sát hơn 3.000 độc giả của VnExpress đầu tuần này, hơn 60% người dân không ủng hộ việc cho thuê vỉa hè. PGS. TS Lưu Đức Hải cho rằng sự e ngại của người dân đến từ thực trạng "đâu lại vào đấy" sau mỗi đợt ra quân lập lại trật tự đô thị của nhà chức trách.
"Người dân không phản đối một đô thị sống động. Họ phản đối sự nhếch nhác, mất vệ sinh và vô trật tự", ông Hải nhận định.
Ông đề xuất việc cho thuê cần đi kèm loạt tiêu chí. Trong đó, không gian an toàn cho người đi bộ là "lằn ranh đỏ", không được phép nhân nhượng. Các tiêu chí như vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, mỹ quan đường phố cần được đảm bảo, như người thuê phải dọn dẹp sạch sẽ, trả lại mặt bằng thông thoáng ngay sau khi hết thời gian được phép hoạt động trong ngày.
Bên cạnh đó, nguyên Cục trưởng Phát triển Đô thị khuyến nghị cơ quan chức năng ứng dụng công nghệ trong quản lý cho thuê. Chẳng hạn, mỗi vị trí vỉa hè cho thuê có thể được cấp một mã QR công khai tại cửa hàng. Người dân hoặc lực lượng chức năng chỉ cần quét mã là biết rõ người thuê cùng thông tin diện tích, ngành hàng và thời hạn thuê kinh doanh.
Ba thập kỷ tăng giá liên tục đã biến bất động sản thành "tín ngưỡng" của người Anh. Mua nhà không chỉ là nhu cầu ở, mà đó là chiến lược tích lũy tài sản, là thước đo địa vị, là kế hoạch hưu trí. Nhưng niềm tin đó đang rạn nứt, và những vết rạn ngày càng khó che đậy.
Những con số đã xác nhận điều đó. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), kể từ năm 1982, giá nhà (sau khi điều chỉnh theo lạm phát) tại Anh tăng không dưới 300% - tốc độ tăng trưởng không có đối thủ trong nhóm G7. Nhưng đà tăng đó đã đảo chiều.
Theo dữ liệu của Nationwide, giá nhà thực tế đã giảm gần như liên tục kể từ đầu năm 2022 và hiện mất 17,4%, đưa giá nhà về xấp xỉ mức của năm 2003. Kể từ năm 2022, Anh ghi nhận mức giảm giá nhà theo giá trị thực lớn thứ ba trong nhóm G7.
Nhu cầu mua nhà đang bị bóp nghẹt từ nhiều phía. Đầu năm 1996, một căn nhà trung bình có giá bằng 2,2 lần lương (tính theo năm) của người mua nhà lần đầu, còn hiện nay tỉ lệ đó đã lên tới 4,7 lần. Lãi suất thế chấp khuếch đại thêm áp lực đó.
Từ tháng 1-2022 đến tháng 7-2023, lãi suất trung bình của khoản vay thế chấp kỳ hạn hai năm tăng từ 1,64% lên 6,22%, đẩy khoản trả hằng tháng từ 754 bảng lên 1.285 bảng - tương đương 45% thu nhập của một người bình thường. Lãi suất sau đó hạ dần, và đến tháng 2-2026 - trước khi xung đột tại Iran bùng phát - đã xuống còn 3,97%.
Nhưng cuộc xung đột đã đẩy giá năng lượng tăng vọt, làm dấy lên lo ngại về một làn sóng lạm phát mới, kéo lãi suất leo thang trở lại, lên 5%. Điều đó đồng nghĩa người mua nhà phải dành khoảng 37% thu nhập để trả nợ, cao hơn gần 10 điểm phần trăm so với mức 28% trước đại dịch.
Phía cung cũng không kém phần u ám. Doanh số bán nhà tại vùng England giảm 7% trong 12 tháng tính đến tháng 3-2026. Lượng bất động sản đang chào bán hiện ở mức cao nhất trong vòng 11 năm trở lại đây.
Làn sóng chủ nhà cho thuê rút lui khỏi thị trường ngày càng rõ nét, với khoảng 700 căn nhà cho thuê được đưa lên sàn rao bán mỗi ngày, tăng 28% so với hai năm trước.
Tại phân khúc cao cấp, theo dữ liệu của Coutts Bank, chiết khấu tại các khu bất động sản hạng sang ở London đã lên mức cao nhất trong bảy năm: riêng quý 1 năm nay, một nửa số bất động sản cao cấp nhất buộc phải hạ giá chào bán, với mức giảm bình quân 12%.
Savills - một trong những tập đoàn tư vấn và môi giới bất động sản lâu đời nhất thế giới (có trụ sở chính tại Anh) cho biết giá nhà tại những khu vực đắt đỏ nhất thủ đô đã mất khoảng 25% so với đỉnh năm 2014.
Các tổ chức không còn giữ được giọng lạc quan. Deutsche Bank cảnh báo giá nhà danh nghĩa có thể giảm từ 3 - 5% trong năm nay. Savills vừa hạ dự báo từ mức tăng 2% xuống mức giảm 2% do tác động của cuộc xung đột tại Iran.
Tại London, nơi khả năng chi trả bị thắt chặt nhất, mức giảm ước lên tới 4%. Ông Lucian Cook, Trưởng bộ phận nghiên cứu nhà ở của Savills, lý giải: "Đó là phản ánh trực tiếp của triển vọng tăng trưởng kinh tế yếu hơn trong năm nay, tác động đến tâm lý người tiêu dùng, cộng với lãi suất thế chấp cao hơn dự kiến và khả năng lãi suất cơ bản của Ngân hàng Trung ương Anh sẽ tiếp tục tăng".
Oxford Economics dự báo giá nhà tăng 1,2% năm nay và 0,8% năm tới, nhưng nhà kinh tế Adam Slater chỉ ra rằng tính theo giá trị thực, đó vẫn là mức giảm 5% trong hai năm.
Hệ quả kinh tế vĩ mô mới là điều thực sự đáng lo. Bất động sản không chỉ là nơi ở, mà là trụ cột của toàn bộ cấu trúc tiêu dùng và tín dụng của nền kinh tế Anh. Các hộ gia đình nắm giữ khoảng 5.500 tỉ bảng bất động sản sau khi trừ nợ thế chấp - chiếm 40% tổng tài sản, gấp ba lần tài sản tài chính như cổ phiếu và trái phiếu.
Một nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương Anh phân tích hàng triệu khoản vay thế chấp cho thấy lãi suất giảm một điểm phần trăm đẩy giá nhà lên 6%, và kéo tiêu dùng tăng 3% trong sáu tháng tiếp theo.
Ông Paul Cheshire, giáo sư tại Trường Kinh tế London (LSE), chỉ ra căn nguyên: động lực chính của nhu cầu nhà ở là thu nhập tăng, nhưng thu nhập tại Anh thực sự không tăng kể từ năm 2008. Ông cũng lưu ý rằng giá trị đất chiếm tới 70% giá trị nhà tại Anh, tỉ lệ cao nhất trong OECD.
Và chính cấu trúc đó, theo ông John Muellbauer, nhà kinh tế tại Đại học Oxford, đã khiến nền kinh tế "vô cùng kém hiệu quả" khi dòng vốn bị hút vào bất động sản đầu cơ thay vì các tài sản sản xuất.
Ông Lucian Cook đúc kết: "Khi thị trường bất động sản yếu, nền kinh tế cũng yếu và ngược lại".