Bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa Chang Tsan-hsuan, Bệnh viện Thần Quang, Đài Bắc, cho biết bệnh nhân tụt huyết áp, lơ mơ và mất ý thức. Bác sĩ phát hiện ông mắc bệnh tiểu đường nhưng chưa được chẩn đoán. Nhiễm khuẩn Vibrio vulnificus trên nền bệnh tiểu đường khiến bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn và suy thận cấp, phải lọc máu.
Theo bác sĩ Chang, Vibrio vulnificus là vi khuẩn sống trong môi trường nước biển. Ở người khỏe mạnh, vi khuẩn thường chỉ gây rối loạn tiêu hóa nhẹ. Với người xơ gan, suy thận mạn, tiểu đường, ung thư hoặc suy giảm miễn dịch, vi khuẩn này có thể gây nhiễm trùng, đe dọa tính mạng.
Vi khuẩn lây qua đường tiêu hóa khi ăn hàu sống, sashimi, tôm cua chưa nấu chín, có thể xâm nhập qua các vết thương hở tiếp xúc với nước biển hoặc hải sản sống.
Theo Cleveland Clinic, khi xâm nhập cơ thể, Vibrio vulnificus có thể gây nhiễm trùng máu, sốc nhiễm khuẩn, hình thành các bọng nước lớn và hoại tử mô. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tử vong.
Chuyên gia khuyến cáo nhóm nguy cơ cao nên tránh ăn hải sản sống hoặc tái. Người có vết thương hở cần hạn chế tiếp xúc trực tiếp với nước biển, đeo găng tay chống nước khi chế biến hải sản. Kiểm soát tốt đường huyết và theo dõi chức năng gan, thận định kỳ giúp giảm nguy cơ biến chứng khi nhiễm khuẩn.
Tin Gốc: Vnexpress

Một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí khoa học Journal of Nutrition, đã tìm ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ trứng và tỷ lệ mắc bệnh Alzheimer.
Nghiên cứu do các chuyên gia tại Trường Y Đại học Loma Linda (Mỹ) thực hiện, đã phân tích dữ liệu của 39.498 người tham gia ở độ tuổi trung bình 59, được theo dõi trong hơn 15 năm. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá chế độ ăn uống và lối sống bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm, đồng thời liên kết với hồ sơ y tế để xác định các trường hợp mắc bệnh Alzheimer.
Trong thời gian nghiên cứu, có 2.858 trường hợp mắc bệnh Alzheimer.
Kết quả đã phát hiện hóa ra ăn trứng còn giúp người lớn tuổi tránh được căn bệnh thoái hóa não bộ nguy hiểm ở người lớn tuổi này.
Cụ thể, so với những người không bao giờ hoặc hiếm khi ăn trứng, tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh Alzheimer giảm dần theo tần suất tiêu thụ:
Ngược lại, hoàn toàn không ăn trứng có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer cao hơn đến 22%.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng trứng là nguồn giàu chất dinh dưỡng thiết yếu, cung cấp choline, tiền chất của acetylcholine và phosphatidylcholine rất quan trọng cho trí nhớ. Chúng chứa lutein và zeaxanthin giúp cải thiện hiệu suất nhận thức và giảm căng thẳng oxy hóa. Ngoài ra, trứng còn có protein giàu tryptophan, axit béo omega-3 DHA và vitamin B12 giúp hỗ trợ tính dẻo dai của khớp thần kinh, sự hình thành tế bào thần kinh và tính toàn vẹn của màng tế bào thần kinh. Các chất dinh dưỡng này hoạt động hiệp đồng để hỗ trợ khả năng phục hồi nhận thức.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, tiêu thụ trứng ở mức độ vừa phải, đặc biệt là người lớn tuổi, giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Những phát hiện này cho thấy lợi ích bảo vệ thần kinh tiềm tàng của các chất dinh dưỡng có trong trứng khi được tiêu thụ như một phần của chế độ ăn uống cân bằng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bác sĩ Yoko Okayama tốt nghiệp Đại học Y khoa tỉnh Kyoto năm 1996, từng làm bác sĩ gây mê tại bệnh viện này và Bệnh viện Nishijin trước khi chuyển sang lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại nhà. Năm 2015, bà mở Phòng khám Chăm sóc tại nhà Okayama ở thành phố Kyoto, chuyên hỗ trợ thăm khám tận nơi, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị sa sút trí tuệ. Là một bác sĩ chuyên về chăm sóc cuối đời, bà Okayama không chỉ thực hành y khoa tại cộng đồng mà còn chủ trì các nhóm nghiên cứu về vấn đề này.
Theo bác sĩ, có 11 dấu hiệu báo hiệu một người đang bước vào "những giây phút cuối đời". Vậy những cơ quan nào vẫn tiếp tục duy trì hoạt động cho đến tận giây phút cuối cùng, ngay cả khi mọi chức năng cơ thể dần đình trệ? Bà Okayama đã chia sẻ điều này trong bài viết đăng trên tờ President Online trích từ cuốn sách của bà, do Nhà xuất bản Discover Twenty-One phát hành.
Chuyên gia cho biết cơ thể con người sẽ trải qua những trạng thái biến đổi sinh lý đặc trưng trước khi nhắm mắt xuôi tay. Là bác sĩ đồng hành cùng bệnh nhân ở giai đoạn cuối, bà thường sử dụng những ghi chép chuyên môn để giải thích tình trạng của người bệnh cho gia quyến, giúp họ chuẩn bị tâm lý và tránh rơi vào trạng thái hoảng loạn, sợ hãi hay lo âu quá mức. Những thay đổi này không nhất thiết xảy ra ở mọi người và trình tự có thể khác nhau nhưng là những dấu hiệu phổ biến nhất.
Bà Okayama cho hay một trong những dấu hiệu đầu tiên thường xuất hiện trước khi một người qua đời là chán ăn hoặc ăn uống kém đi đáng kể. Khi một người gần như không còn ăn uống được gì, đó thường là tín hiệu cho thấy sự sống chỉ còn tính bằng ngày.
Tiếp đó, giọng nói của họ sẽ dần mất đi năng lượng và độ vang, đôi khi chỉ còn là những tiếng thào thào, báo hiệu thời gian còn lại thậm chí chỉ có thể tính bằng giờ. Trong giai đoạn này, người bệnh thường rơi vào trạng thái ngủ thiếp đi và thường thức giấc giữa chừng.
Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là thính giác của họ còn rất nhạy bén, vẫn có thể nghe thấy mọi chuyện ngay cả khi trông như đang ngủ sâu, vì vậy gia đình nên tránh nói những điều có thể gây đau lòng.
Về mặt nhận thức, người bệnh dễ bị nhầm lẫn về không gian, thời gian, thậm chí không nhận ra người thân. Đôi khi họ có thể la hét hoặc có những hành động bất thường như cởi đồ do rơi vào trạng thái mê sảng, lúc này cần có sự can thiệp y tế để hỗ trợ.
Về mặt thể chất, phần thân dưới và mu bàn tay của người bệnh có thể xuất hiện tình trạng phù nề, đôi khi có thể được xoa dịu bằng cách massage nhẹ nhàng, chậm rãi. Hiện tượng phù nề thường có xu hướng trầm trọng hơn sau khi bệnh nhân được truyền dịch.
Bên cạnh đó, hơi thở cũng trở nên nặng nề hơn với những tiếng lọc xọc do nước bọt hoặc nước dãi tích tụ trong cổ họng. Nếu bệnh nhân đang được truyền dịch tĩnh mạch, lượng dịch tiết này có thể tăng lên, làm cho tình trạng khó chịu trở nên trầm trọng hơn.
Đồng thời, bàn tay và bàn chân sẽ dần trở nên lạnh và nhợt nhạt do cơ thể ưu tiên đưa máu về các cơ quan nội tạng quan trọng để duy trì sự sống cuối cùng, dẫn đến tình trạng mất nước và giảm thiểu (hoặc mất hẳn) lượng nước tiểu. Cơn sốt cũng có thể xuất hiện trong giai đoạn này và thường không đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường.
Càng gần thời khắc cuối cùng, nhịp thở của người bệnh càng trở nên bất ổn. Có thể xuất hiện kiểu thở Cheyne-Stokes, trong đó nhịp thở chậm dần rồi ngưng hẳn khoảng 30 giây trước khi bắt đầu lại dồn dập. Sau đó là kiểu "thở cơ hàm" (mandibular breathing), dấu hiệu cận tử rõ rệt nhất, khi người bệnh há miệng thở dốc, hàm dưới chuyển động lên xuống. Đây là phản ứng sinh lý tự nhiên diễn ra vài giờ trước khi ra đi.
Khi cái chết thực sự đến, việc xác định "hơi thở cuối cùng" đôi khi khó khăn ngay cả với các chuyên gia y tế nếu không có máy điện tâm đồ (EGC) hỗ trợ. Sau khi tim ngừng đập, máy móc có thể vẫn hiển thị những dạng sóng điện học nhưng đó không phải là dấu hiệu của sự hồi sinh. Một số hiện tượng tự nhiên khác như bài tiết không tự chủ hoặc những âm thanh phát ra khi dịch chuyển thi thể do không khí thoát ra từ phổi cũng có thể xảy ra.
Dù cơ thể có trải qua bao nhiêu biến đổi về mặt sinh lý (như tim ngừng đập, hơi thở lọc xọc hay mất ý thức), thì vẫn có một thứ không hề thay đổi, đó chính là khả năng nghe của người bệnh. Điều này ngụ ý người bệnh vẫn có thể nghe thấy lời nói của người thân ngay cả khi họ có vẻ như đã hôn mê hoặc sắp ra đi.
Nhận định này đồng nhất với nghiên cứu của Đại học British Columbia (Canada) công bố trên tạp chí khoa học Scientific Reports năm 2020. Nghiên cứu sử dụng điện não đồ chứng minh não bộ của bệnh nhân vô thức vẫn ghi nhận phản ứng với âm thanh trong những giờ cuối đời, tương đương với não của người khỏe mạnh.
Vì vậy, thay vì hoảng loạn gọi bác sĩ ngay lập tức khi thấy người thân ngừng thở, gia đình nên dành những khoảnh khắc tĩnh lặng đó để trò chuyện và gửi gắm những lời yêu thương cuối cùng, bởi tiếng nói của những người quen thuộc chính là sự an ủi lớn nhất đối với họ trong hành trình đi về cõi vĩnh hằng.
Tin Gốc: Vnexpress

Trước khi nhập viện 5 ngày, trẻ bắt đầu xuất hiện các triệu chứng nguy hiểm như sốt, nôn nhiều, đau đầu, sợ nước, sợ gió. Tình trạng nhanh chóng diễn biến nặng với biểu hiện kích động, nói nhảm.
Sau khi được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương, trẻ được theo dõi và làm các xét nghiệm chẩn đoán bệnh, kết quả phát hiện dương tính với vi rút dại trong nước bọt và sinh thiết da gáy. Dù được điều trị tích cực nhưng bệnh không cải thiện, trẻ rơi vào hôn mê, nguy cơ tử vong cao.
Theo Bệnh viện Nhi trung ương, hơn 1 tháng qua, bệnh viện đã tiếp nhận 58 trẻ đến tiêm phòng dại, trong đó có nhiều trẻ phải cấp cứu trong tình trạng đa chấn thương toàn thân do bị chó cắn.
Điển hình là bé M.Đ. (4 tuổi, Ninh Bình) đến viện sau khi bị chó nhà hàng xóm cắn vào vùng đầu, mặt. Trẻ có các vết thương rộng và chảy máu nhiều ở vùng trán, đầu, quanh mắt và mi mắt hai bên. Các vết thương đều lóc da, bờ nham nhở, giập nát. Đặc biệt là vết thương xuyên thấu nhãn cầu gây xuất huyết tiền phòng dày đặc, rách da mi mắt, giập nát cơ vùng góc mắt trong.
Các bác sĩ đã khẩn trương làm sạch, cắt lọc tổ chức giập nát, khâu phục hồi vết thương vùng trán theo lớp giải phẫu và xử trí mi mắt. Sau đó trẻ tiếp tục được tiêm huyết thanh và vắc xin phòng dại, đồng thời chuyển Bệnh viện Mắt Trung ương để điều trị chuyên sâu tổn thương mắt.
Các bác sĩ cảnh báo tai nạn do chó cắn có thể xảy ra ngay với chính vật nuôi trong gia đình hoặc hàng xóm.
Nhiều phụ huynh vẫn chủ quan khi nghĩ chó nuôi lâu năm là an toàn, trong khi chỉ một hành động vô tình của trẻ như kéo tai hoặc chạm vào con vật lúc đang ăn hoặc đang ngủ cũng có thể khiến chó phản ứng.
Với trẻ nhỏ, vết cắn thường vào vùng đầu, mặt, cổ vì ngang tầm với con vật. Ngoài tổn thương thể chất, trẻ còn có thể bị các ảnh hưởng về tâm lý, sợ động vật, quấy khóc, mất ngủ sau chấn thương.
Các bác sĩ khuyến cáo phụ huynh tuyệt đối không để trẻ nhỏ chơi một mình với chó, mèo dù là vật nuôi quen thuộc. Cần dạy trẻ cách tiếp xúc an toàn, không trêu chọc, không lại gần khi con vật đang ăn, ngủ hoặc kích động.
Quan trọng nhất, khi bị chó cắn cần xử trí đúng ngay từ đầu để giảm nguy cơ mắc bệnh dại. Khi đã phát bệnh, bệnh dại gần như không có cơ hội cứu chữa.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

