Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc khối phân tích – nghiên cứu, Chứng khoán Agribank (Agriseco), cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quyết định mức lãi suất của Fed mà ở thay đổi cách điều hành chính sách tiền tệ.
Tại cuộc họp ngày 17-6-2026, Fed giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 3,50-3,75%, nhưng thông cáo sau cuộc họp được rút gọn, các tín hiệu định hướng rõ ràng về bước đi lãi suất tiếp theo bị loại bỏ. Ông Kevin Warsh cũng không đưa dự báo cá nhân vào dot plot – biểu đồ thể hiện kỳ vọng lãi suất của từng thành viên Fed.
Đồng thời Fed thông báo sẽ loại bỏ forward guidance (định hướng chính sách tương lai thông qua truyền thông). Trong nhiều năm qua, dot plot và forward guidance là những công cụ quan trọng giúp thị trường dự báo lộ trình lãi suất.
Theo ông Khoa, khi các công cụ này không còn được sử dụng, nhà đầu tư sẽ phải dựa nhiều hơn vào các dữ liệu thực tế như lạm phát, thị trường lao động hay giá hàng hóa để đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ. Điều này có thể khiến mức độ biến động của thị trường tài chính gia tăng trong ngắn hạn do phản ứng của Fed trở nên khó dự báo hơn.
Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Minh Đức, Chuyên viên phân tích Công ty CP Đầu tư FinSuccess, cho biết Fed không chỉ dừng forward guidance, mà còn bắt đầu cải tổ hoạt động nội bộ thông qua 5 nhóm nghiên cứu gồm truyền thông, bảng cân đối kế toán, nguồn dữ liệu, năng suất và việc làm, cùng lạm phát.
Theo ông Đức, ngay cả Chủ tịch Kevin Warsh hiện cũng chưa thể biết cụ thể các thay đổi sẽ diễn ra như thế nào, bởi toàn bộ sẽ do các nhóm này nghiên cứu và đề xuất.
Chuyên gia cho biết có hai điểm gần như chắc chắn.
Thứ nhất, mục tiêu lạm phát 2% vẫn được giữ vững, nhưng cụ thể là sử dụng chỉ tiêu lạm phát nào sẽ cần đợi được công bố.
Thứ hai, Fed sẽ ưu tiên sử dụng real-time data (dữ liệu thời gian thực) thay vì chỉ dựa vào các số liệu công bố định kỳ hằng tháng, vốn có thể được điều chỉnh lại sau đó.
Theo ông Đức, ông Warsh muốn thị trường phải tự dự báo Fed sẽ làm gì thay vì Fed chủ động nói trước cho thị trường biết.
Theo ông Nguyễn Anh Khoa, tác động trước mắt đối với thị trường chứng khoán Việt Nam nghiêng về hướng thận trọng. Việc Fed duy trì lãi suất USD ở mức cao, trong khi một số thành viên FOMC vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất trong năm 2026.
Điều này có thể hỗ trợ đồng USD mạnh lên và tạo thêm áp lực lên tỉ giá USD/VND. Khi áp lực tỉ giá gia tăng, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ trong nước có thể bị thu hẹp.
Trong bối cảnh đó các nhóm ngành nhạy cảm với lãi suất như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng hoặc các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao có thể chịu tác động kém tích cực.
Bên cạnh đó chi phí vốn dài hạn trên thị trường quốc tế cũng có thể tăng khi nhà đầu tư yêu cầu mức bù rủi ro cao hơn do thiếu tín hiệu định hướng từ Fed. Điều này sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp có tỉ trọng vay nợ bằng USD lớn.
Tuy nhiên ông Khoa cho rằng ở góc nhìn trung và dài hạn, tác động từ Fed không hoàn toàn bất lợi. Nếu Fed kiểm soát tốt lạm phát và duy trì ổn định thị trường tài chính toàn cầu, áp lực lên tỉ giá, lãi suất và dòng vốn tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam, sẽ giảm bớt.
Theo ông, tăng trưởng kinh tế, triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp và kỳ vọng nâng hạng thị trường vẫn là những nền tảng quan trọng giúp duy trì dòng vốn nội địa cũng như nâng cao sức hấp dẫn của chứng khoán Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Ông Nguyễn Minh Đức nhận định thị trường tài chính toàn cầu đang bước vào giai đoạn khó dự báo hơn.
Ông lưu ý Fed đang xem xét thay đổi chiến lược quản lý bảng cân đối kế toán – công cụ phản ánh quy mô tài sản mà Fed nắm giữ và được sử dụng để bơm hoặc hút tiền khỏi hệ thống tài chính.
Ông cũng nhắc lại dưới thời cựu Chủ tịch Alan Greenspan – người được ông Warsh nhiều lần nhắc tới như hình mẫu – việc tăng lãi suất nhanh mà không có forward guidance từng dẫn tới sự kiện “thảm sát trái phiếu năm 1994”.
Ông Đức lưu ý nhà đầu tư sẽ phải xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tốt hơn, tìm kiếm nguồn dữ liệu chất lượng hơn để tự trả lời câu hỏi: Fed sẽ làm gì tiếp theo?
CTCP Tư vấn Xây dựng Điện 4 (PECC4, mã chứng khoán: TV4) vừa công bố thông tin bất thường về việc nhiều lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp bị khởi tố, bắt tạm giam.
Theo văn bản công bố ngày 12/6, PECC4 cho biết đã nhận được thông báo về việc bắt bị can để tạm giam đối với Chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) Lê Cao Quyền, Tổng giám đốc Trần Cao Hỷ, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Như Đông và Kế toán trưởng Trần Lê Thanh Bình.
PECC4 cho biết hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác quản trị của công ty hiện vẫn diễn ra bình thường, bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật, điều lệ công ty và quy chế quản trị nội bộ. Doanh nghiệp sẽ tiếp tục công bố thông tin đầy đủ, kịp thời theo quy định nếu phát sinh các diễn biến liên quan.
Về PECC4, công ty có tiền thân là Phân viện Quy hoạch thiết kế điện miền Nam, được thành lập năm 1976. Doanh nghiệp hiện hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tư vấn, khảo sát, thiết kế các công trình nguồn điện và lưới điện. Sau nhiều năm phát triển, PECC4 được xem là một trong những đơn vị tư vấn xây dựng điện có quy mô lớn tại Việt Nam.
Trước PECC4, hàng loạt doanh nghiệp trong lĩnh vực điện và năng lượng cũng đã công bố thông tin lãnh đạo bị khởi tố, bắt tạm giam.
Mới nhất ngày 9/6, PECC3 vừa công bố thông tin ông Nguyễn Như Hoàng Tuấn - Chủ tịch HĐQT, ông Lạc Thái Phước - Tổng giám đốc và ông Phạm Hoàng Vinh - Kế toán trưởng bị khởi tố, bắt tạm giam theo thông báo của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an.
Hay PECC1 (mã chứng khoán: TV1) công bố ông Nguyễn Hữu Chỉnh - Chủ tịch HĐQT - bị khởi tố, bắt tạm giam; còn tại PECC2 (mã TV2), ông Nguyễn Chơn Hùng - Chủ tịch HĐQT và bà Bùi Thị Ngọc Lý - Kế toán trưởng cũng bị khởi tố.
Tại Tập đoàn PC1 (mã chứng khoán: PC1), 7 lãnh đạo cấp cao gồm Chủ tịch HĐQT Trịnh Văn Tuấn, Tổng giám đốc Vũ Ánh Dương cùng một số thành viên HĐQT, phó tổng giám đốc và kế toán trưởng, bị khởi tố. Theo doanh nghiệp, các cá nhân này bị điều tra về hành vi "vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng" và "tham ô tài sản".
Ba ngân hàng quốc doanh Vietcombank, Vietinbank và BIDV vừa công bố kết quả kinh doanh ba tháng đầu năm.
Vietcombank tiếp tục giữ vị trí "quán quân" lợi nhuận của ngành với hơn 11.800 tỷ đồng lãi trước thuế trong quý I. Dù ghi nhận lợi nhuận cao nhất hệ thống song mức tăng trưởng chỉ khoảng 9% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí dự phòng tăng mạnh khi nợ xấu tăng và nhà băng duy trì quan điểm trích lập thận trọng.
Quy mô nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) của Vietcombank tính đến hết quý I cao gấp 7 lần so với đầu năm. Theo quy định, các ngân hàng phải trích lập dự phòng cụ thể lên đến 50% giá trị nợ nhóm 4. Đồng thời, Vietcombank cũng duy trì quan điểm thận trọng khi duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 250% - mức cao nhất hệ thống.
Bám sát Vietcombank, "ông lớn" VietinBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 11.100 tỷ đồng, tăng hơn 60% so với cùng kỳ năm trước và cũng là mức tăng mạnh nhất trong nhóm quốc doanh.
Nhà băng này cho biết quy mô tín dụng bình quân trong quý I tăng hơn 14% so với cùng kỳ. Ngân hàng chủ động tái cơ cấu danh mục, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất theo định hướng của Chính phủ, qua đó giảm phụ thuộc vào các ngành rủi ro như bất động sản. Theo lãnh đạo ngân hàng, khoảng 60% dư nợ Vietinbank tập trung vào mảng bán lẻ, giúp đa dạng hóa nguồn thu và phân tán rủi ro.
Trong khi đó, BIDV ghi nhận lợi nhuận trước thuế khoảng 8.500 tỷ đồng, tăng hơn 15% so với cùng kỳ. Dù duy trì đà tăng trưởng, ngân hàng này vẫn là đơn vị có lợi nhuận thấp nhất trong ba "ông lớn".
Ghi nhận trong ba tháng đầu năm, tăng trưởng huy động vốn tại các ngân hàng đều thấp hơn đáng kể so với tín dụng.
Số dư tiền gửi tại Vietcombank tăng thấp chưa đến 0,6% so với đầu năm trong khi mức tăng trưởng tiền gửi tại Vietinbank khoảng 1,7%.
Tại BIDV, tiền gửi khách hàng thậm chí giảm 3,7% so với đầu năm xuống còn khoảng 2,14 triệu tỷ đồng. Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm mạnh hơn 11% còn tiền gửi có kỳ hạn cũng giảm khoảng 1,7%. Để bù đắp thanh khoản, nhà băng này đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Trong quý I, cả ba ngân hàng đều ghi nhận nợ xấu có xu hướng tăng và dịch chuyển sang các nhóm rủi ro cao hơn.
Ba tháng đầu năm, nợ nhóm 4 tại Vietcombank tăng đột biến gấp 7 lần. Trong khi đó, nợ nhóm 3 tại BIDV và VietinBank đều tăng ít nhất gấp đôi so với đầu năm nay, phản ánh áp lực trả nợ của khách hàng trong bối cảnh kinh tế khó khăn.
BIDV là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất nhóm, ở mức 1,76% và cũng là đơn vị ghi nhận mức tăng mạnh nhất. Ngược lại, VietinBank ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ xuống khoảng 1%, nhờ giảm đáng kể dư nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Tại mùa đại hội năm nay, Chủ tịch Vietcombank, ông Nguyễn Thanh Tùng cũng nhận định diễn biến thị trường đang rất phức tạp, từ tình hình kinh tế vĩ mô đến thị trường quốc tế. Điều này tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế cũng là các lĩnh vực mà ngân hàng đang cấp tín dụng.
Từ góc nhìn của chuyên gia kinh tế từng làm việc trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế và theo dõi quá trình phát triển của Việt Nam nhiều năm, ông Andreas Stoffers nói thách thức lớn hơn là làm sao Trung tâm tài chính ở Việt Nam khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có, từ đội ngũ lao động trong nước đến dòng chất xám hồi hương mang theo kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế.
Khi làm việc tại Deutsche Bank Việt Nam vào năm 2009, ông cho biết đã gặp không ít giao dịch viên ngân hàng người Việt có nền tảng đào tạo và kỹ năng nghề nghiệp khá tốt. Điều đó cho thấy Việt Nam may mắn sở hữu một nguồn nhân lực nội địa dồi dào. Vì vậy, việc dựa chủ yếu vào nguồn lực trong nước khi xây dựng một IFC là "một lựa chọn thực tế và hợp lý".
So với thời điểm năm 2009, lực lượng lao động ngành ngân hàng - tài chính của Việt Nam đã có những chuyển biến rất đáng kể. Thời điểm đó kinh nghiệm quốc tế còn hạn chế, tư duy chiến lược và khả năng xử lý các giao dịch xuyên biên giới phức tạp chưa thực sự rõ nét.
Tuy nhiên qua hơn một thập kỷ, Việt Nam ngày càng có nhiều ngân hàng viên và chuyên gia tài chính năng lực cao, có tư duy quốc tế. Sự phát triển này được hỗ trợ bởi cải thiện chất lượng giáo dục ĐH, đặc biệt là tại các ĐH hàng đầu. Nhiều sinh viên tốt nghiệp từ các trường này giờ đã có thể cạnh tranh ở tầm khu vực.
"Số lượng người lao động, chuyên gia Việt kiều trở về cũng ngày càng tăng. Họ mang theo kinh nghiệm quốc tế, tiêu chuẩn chuyên nghiệp và mạng lưới toàn cầu. Theo tôi, nhóm này là một tài sản chiến lược chưa được khai thác đầy đủ", GS Andreas Stoffers đánh giá.
Theo ông, tiềm năng của lực lượng lao động được đào tạo tại nước ngoài này cần được tích hợp có hệ thống hơn vào giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.
Ngoài việc trở về nước để làm nhà đầu tư hay quản lý, các chuyên gia Việt kiều hay du học sinh có thể trở thành giảng viên, cố vấn, thỉnh giảng hoặc tham gia thiết kế chương trình đào tạo, nhất là hình thức đào tạo thực hành và song hành. Sự tham gia của họ giúp thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn kinh doanh quốc tế.
Bên cạnh nhân lực nội địa, Việt Nam vẫn cần các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đầu và giữa của quá trình phát triển IFC. Sự kết hợp hợp lý giữa nhân lực nội địa và quốc tế sẽ tăng tốc việc học hỏi thể chế qua lại, nâng cao uy tín và giảm rủi ro cho quá trình thử - sai tốn kém.
Phân tích từ quan sát của mình, ông nói trọng thành tích và cầu tiến là đặc điểm ăn sâu trong văn hóa Việt, cũng có thể xem như yếu tố tạo nên điểm mạnh cho lực lượng sinh viên và người lao động Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để người Việt thành công trong những môi trường quốc tế đòi hỏi cao như các trung tâm tài chính.
Bởi các trung tâm này thường tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh, đặc biệt trong giáo dục ĐH, nghiên cứu và đào tạo chuyên môn. Nơi nào dịch vụ tài chính tinh vi phát triển, nhu cầu về giáo dục chất lượng cao sẽ gần như tự động xuất hiện.
"Ý tưởng biến TP.HCM không chỉ thành IFC mà còn trở thành trung tâm giáo dục khu vực là tham vọng nhưng hợp lý về mặt chiến lược", GS Andreas Stoffers nhận định.
Thẳng thắn, ông cho rằng thách thức trước mắt là nhiều trường ĐH vẫn gặp khó khăn về đảm bảo chất lượng, minh bạch, quản trị và tuân thủ. Nếu TP.HCM muốn trở thành trung tâm giáo dục khu vực thực thụ, những cơ sở này cần được nâng cấp một cách hệ thống.
Thêm nữa, mức lương giảng viên cần trở nên cạnh tranh hơn để thu hút các chuyên gia giàu kinh nghiệm từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy và nghiên cứu. Đồng thời cần dẹp bớt rào cản hành chính với các chuyên gia trong quá trình giảng dạy.
Ông cũng đánh giá sinh viên Việt Nam tự tin, năng động và có tư duy quốc tế hơn nhiều so với trước đây. Nhiều bạn chủ động tìm kiếm cơ hội tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế, chương trình liên kết và nghiên cứu ứng dụng. Đây là yếu tố then chốt vì một trung tâm giáo dục không được tạo ra chỉ có cơ sở vật chất hay bảng xếp hạng mà cần có sinh viên, giảng viên sẵn sàng gắn kết và học hỏi từ thế giới.
TP.HCM cũng không cần sao chép Singapore, London hay Frankfurt. Sức mạnh của Việt Nam nằm ở việc phát triển mô hình riêng, kết hợp giáo dục quốc tế hóa với lợi thế nội địa như cơ cấu dân số, văn hóa cầu tiến và hội nhập khu vực. Nếu cải cách được thực thi liên tục, TP.HCM có thể trở thành ngọn hải đăng khu vực về giáo dục, tài chính và đổi mới sáng tạo tương tự các trung tâm như Dubai, Hong Kong hay Singapore.
"Nếu đà cải cách này được duy trì, đi kèm với sự hấp dẫn của sự nghiệp học thuật và mối liên kết chặt chẽ hơn giữa trường ĐH và doanh nghiệp, TP.HCM hoàn toàn có cơ hội trở thành trung tâm giáo dục khu vực cùng với vai trò tài chính và đổi mới sáng tạo", GS Andreas Stoffers nói.