Chiều 7/4, phiên xét xử vụ án chuyển nhượng trái phép hơn 6.000 m2 đất “vàng” ở Bến Vân Đồn, gây thiệt hại hơn 542 tỷ đồng của Nhà nước, diễn ra phần xét hỏi.
HĐXX tập trung làm rõ hành vi của ông Lê Quang Thung, 80 tuổi, nguyên Tổng giám đốc, quyền Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Cao su Việt Nam. Ông này bị xác định có vai trò then chốt trong vụ án, bị truy tố tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí và Nhận hối lộ.
Là người đầu tiên bị thẩm vấn, ông Thung thừa nhận cáo trạng truy tố đúng.
Ông này bị cáo buộc thỏa thuận, thống nhất với Lê Y Linh (Giám đốc Công ty Việt Tín) và Đặng Phước Dừa (Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Việt Tín) về việc Tập đoàn Cao su Việt Nam sẽ chuyển nhượng khu đất 39-39B Bến Vân Đồn cho họ thông qua hình thức góp vốn thành lập Công ty Phú Việt Tín. Đi cùng với việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân là những thỏa thuận lợi ích vật chất khổng lồ.
Thực hiện thỏa thuận, ông Thung đã nhận của Linh 200.000 SGD (thông qua việc trả viện phí cho con) và 300.000 USD tiền mặt tại nhà hàng Palace (quận 1, TP HCM).
Trả lời xét hỏi, ông Thung khai lần đầu nhận tiền là đầu năm 2008, khi con trai sang Singapore chữa bệnh, Lê Y Linh đã trực tiếp nộp 200.000 SGD tiền viện phí. Đến năm 2009, bị cáo “từng đặt vấn đề trả lại khoản tiền này nhưng Linh từ chối”.
Hai bên sau đó thống nhất cấn trừ 200.000 SGD vào tổng số 1,2 triệu USD mà Linh và Dừa phải chi riêng cho cá nhân ông theo thỏa thuận “ngầm” để thâu tóm khu đất. Phần còn lại của gói 1,2 triệu USD được quy đổi ra USD và VNĐ, rồi được Dừa và Linh mang trong các túi quà đến gặp, đưa trực tiếp cho ông Thung.
“Khoản tiền hưởng lợi này bị cáo không chia cho ai, mang đi mua xe”, ông Thung, khai.
Tuy nhiên, bị cáo đề nghị tòa xem xét lại hành vi nhận khoản 200.000 SGD (được cho là trước khi xảy ra hành vi sai phạm), đồng thời cho biết đã nộp khắc phục hậu quả hơn 16,4 tỷ đồng.
Để làm rõ lời khai của ông Thung, tòa gọi Lê Y Linh. Bị cáo cho biết quen ông Thung qua một người bạn trong thời điểm con trai Thung mắc bệnh. Bị cáo đã hỗ trợ đưa cháu sang Singapore chữa trị và thanh toán 200.000 SGD viện phí; khi đó chưa biết đến dự án khu đất 39-39B Bến Vân Đồn, các vấn đề liên quan chỉ phát sinh sau khi việc chữa bệnh kết thúc.
Bị cáo trình bày đây là lần đầu tham gia dự án liên quan tài sản Nhà nước nên không nắm rõ quy định phải đấu giá khi chuyển nhượng. Thông qua Thung, Linh quen bị cáo Đặng Phước Dừa; từ mối quan hệ này, Linh đề nghị được nhận chuyển nhượng khu đất, các bên sau đó bàn bạc, hình thành việc hợp tác.
Về khoản 200.000 SGD, HĐXX nêu việc Thung khai “từng muốn trả lại tiền”. Bị cáo Linh cho biết “đã từ chối ngay khi con trai Thung chữa bệnh xong và trở về”, khẳng định chưa từng có ý định nhận lại.
Theo bà này, nếu có mục đích nhận tiền thì đã nhận ngay thời điểm đó, không cần chờ đến khi phát sinh việc chuyển nhượng dự án; sự việc này diễn ra trước thời điểm xảy ra vụ án. Bị cáo lý giải hành vi, mối quan hệ giữa hai bên “xuất phát từ tình cảm và sự giúp qua giúp lại”.
HĐXX yêu cầu làm rõ “giúp qua giúp lại” là thế nào, lúc này Linh trả lời: “Giúp – là tạo điều kiện để mình được mua khu đất 39-39B Bến Vân Đồn”.
Sáng mai tòa tiếp tục thẩm vấn các bị cáo còn lại, trong đó có bà Nguyễn Thị Như Loan – cựu Tổng giám đốc, nguyên chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai.
Cáo trạng xác định bà Loan thâu tóm khu đất “vàng” thông qua việc mua bán vốn tại Công ty TNHH Phú Việt Tín. Năm 2013, đại diện Quốc Cường Gia Lai ký thỏa thuận nhận chuyển nhượng, sau đó nắm 100% vốn từ các cổ đông và hai doanh nghiệp nhà nước với tổng giá khoảng 460,9 tỷ đồng (đã gồm tiền sử dụng đất).
Khi chưa hoàn tất thủ tục sở hữu, tháng 9/2014, bà tiếp tục ký thỏa thuận chuyển nhượng dự án cho đối tác khác. Đến tháng 11/2014, toàn bộ vốn tại Phú Việt Tín được bán cho hai công ty thuộc Novaland với giá hơn 846 tỷ đồng.
Cơ quan công tố xác định hành vi này gây thiệt hại tài sản Nhà nước hơn 542 tỷ đồng; riêng bà Loan hưởng lợi hơn 297,8 tỷ đồng.
Trong quá trình điều tra, Công an tỉnh An Giang xác định tháng 6-2025 đến tháng 2-2026, ông Đạt nói với nhiều người rằng cần vốn để đáo hạn ngân hàng cho khách quen biết. Ông Đạt hứa trả tiền gốc và lãi suất theo thỏa thuận.
Tin lời, nhiều người dân ở địa phương đã đưa cho ông Đạt số tiền trên 80 tỉ đồng. Ban đầu ông Đạt trả vốn và đóng lãi đầy đủ nhưng sau đó đã bỏ trốn.
Ngày 20-5-2026, Công an tỉnh An Giang ra quyết định truy tìm đối với ông Đạt. Đến ngày 21-5, ông Đạt đã đến công an đầu thú.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang kêu gọi những ai là nạn nhân của Nguyễn Huy Đạt sớm liên hệ với Công an tỉnh An Giang theo địa chỉ: số 507 Nguyễn Chí Thanh, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang.
Ngoài ra nạn nhân của ông Đạt có thể liên hệ qua số điện thoại 0939.735.678 của điều tra viên Nguyễn Văn Tấn để phối hợp giải quyết.
Tôi theo dõi văn bản quy định pháp luật thì chủ hộ hộ kinh doanh chuyển sang phương pháp thuế kê khai sẽ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Trong tháng 1-2026, tôi có trực tiếp đến cơ quan bảo hiểm xã hội để xin hướng dẫn, thì được hướng dẫn ghi tờ khai xin cấp mã đơn vị cho hộ kinh doanh.
Đến cuối tháng 2-2026, tôi được thông báo tra cứu mã đơn vị trên web dichvucongbaohiemxahoi và có mã 2 chữ đầu là KQ, và cán bộ hướng dẫn mua chữ ký số để đăng nhập vào dichvucongbaohiemxahoi để khai tăng giảm.
Do sự cố về sức khỏe, không thể tiếp tục kinh doanh, tôi có xin giải thể hộ kinh doanh vào ngày 6-3-2026. Tôi quay lại bảo hiểm xã hội để xin đóng mã/chi phí (nếu có) thì được cán bộ giải thích không cần đóng mã và do tôi chưa đăng nhập khai tăng giảm nên không đóng chi phí gì.
Tôi có hỏi có cần giấy xác nhận hay không, vì sợ sau này nếu kinh doanh lại thì bị truy thu. Cán bộ xác nhận lại là: không truy thu vì đã nghỉ kinh doanh, chưa khai báo giảm, nghỉ rồi thì thôi. Và cũng không có thủ tục đóng mã/hoặc giấy tờ xác nhận gì.
Xin hỏi cán bộ hướng dẫn đã đúng quy định chưa và sau này tôi không phải bị truy thu/phạt chi phí nào phải không?
Theo luật này, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã được mở rộng, trong đó có chủ hộ kinh doanh theo lộ trình quản lý; tuy nhiên nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội không phát sinh một cách tự động chỉ vì có đăng ký hộ kinh doanh hoặc được cấp mã đơn vị, mà phải gắn với việc đăng ký tham gia và phát sinh hồ sơ đóng cụ thể trên hệ thống của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Về nguyên tắc quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện theo các bước: cấp mã đơn vị, sau đó người tham gia thực hiện kê khai tham gia bảo hiểm xã hội (khai tăng), từ đó hệ thống mới ghi nhận và phát sinh nghĩa vụ đóng.
Như vậy việc anh được cấp mã đơn vị (mã KQ) chỉ là bước quản lý ban đầu, chưa làm phát sinh nghĩa vụ tài chính; nghĩa vụ đóng chỉ hình thành khi anh thực hiện kê khai tham gia và được cơ quan bảo hiểm xã hội ghi nhận.
Đối chiếu với trường hợp cụ thể, anh đã được cấp mã đơn vị nhưng chưa đăng nhập hệ thống, chưa thực hiện khai tăng, chưa phát sinh bất kỳ hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội nào, sau đó đã làm thủ tục giải thể hộ kinh doanh vào ngày 6-3-2026.
Với tình trạng này, về bản chất pháp lý có thể xác định là chưa phát sinh quan hệ tham gia bảo hiểm xã hội, đồng nghĩa với việc chưa phát sinh nghĩa vụ đóng.
Vì vậy việc cán bộ bảo hiểm xã hội hướng dẫn rằng anh không cần đóng chi phí và không bị truy thu do chưa khai tăng là phù hợp quy định và đúng với thực tiễn quản lý hiện nay.
Về lo ngại sau này có bị truy thu hoặc xử phạt hay không, cần lưu ý rằng cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ có căn cứ truy thu khi có dữ liệu thể hiện đã phát sinh nghĩa vụ tham gia nhưng chưa thực hiện.
Trong khi đó trường hợp của anh không có dữ liệu khai tăng trên hệ thống, không có thông báo đóng tiền từ cơ quan bảo hiểm xã hội, đồng thời đã chấm dứt hoạt động hộ kinh doanh, nên không có cơ sở pháp lý để truy thu hay xử phạt.
Việc không có thủ tục "đóng mã" hoặc không cấp giấy xác nhận riêng cũng là thực tế phổ biến, vì khi chưa phát sinh tham gia thì không có nghĩa vụ để phải chấm dứt.
Tuy nhiên để đảm bảo an toàn pháp lý về sau, đặc biệt nếu anh có đăng ký kinh doanh lại, anh nên lưu giữ đầy đủ các tài liệu liên quan như giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, thông tin mã đơn vị đã được cấp và giấy tờ giải thể.
Ngoài ra anh có thể chủ động gửi văn bản đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận tình trạng "chưa phát sinh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội" để làm căn cứ lưu trữ, dù pháp luật không bắt buộc phải có xác nhận này.
Theo Nghị quyết 66.18/2026 của Chính phủ về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, lĩnh vực PCCC và cứu nạn cứu hộ đã cắt giảm thêm 3 thủ tục hành chính.
Ba thủ tục bị bãi bỏ gồm: kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC; nghiệm thu về PCCC đối với công trình, phương tiện giao thông đã được cấp giấy chứng nhận thẩm duyệt thiết kế về PCCC; và phục hồi hoạt động của cơ sở, phương tiện giao thông cơ giới, hộ gia đình, cá nhân.
Cơ quan công an dừng tiếp nhận các thủ tục này từ ngày 20/6. Những hồ sơ đã được tiếp nhận trước thời điểm này tiếp tục được xử lý và trả kết quả đến hết ngày 30/6.
Như vậy, hiện chỉ còn 3 thủ tục hành chính trong lĩnh vực PCCC và cứu nạn cứu hộ thuộc thẩm quyền của Bộ Công an, gồm: thẩm định thiết kế về PCCC; thẩm duyệt thiết kế về PCCC đối với trường hợp điều chỉnh thiết kế trong quá trình thi công công trình đã được cấp giấy chứng nhận thẩm duyệt; và cấp phép lưu thông.
Công trình chỉ còn một thủ tục trước khi vận hành
Theo quy định trước đây, công trình hoặc phương tiện giao thông thuộc diện quản lý về PCCC phải trải qua hai thủ tục nối tiếp là thẩm định thiết kế và kiểm tra công tác nghiệm thu PCCC trước khi chính thức đưa vào khai thác.
Tuy nhiên, Cục Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ (C07, Bộ Công an) cho rằng cả hai thủ tục này đều hướng tới cùng một mục đích là xem xét, đánh giá việc chấp hành các quy định pháp luật, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong xây dựng, thiết kế.
Vì vậy, việc duy trì đồng thời hai thủ tục là không cần thiết. Theo C07, nếu cơ quan chức năng thực hiện tốt khâu thẩm định thiết kế và giao trách nhiệm thực thi cho chủ đầu tư thì mục tiêu quản lý nhà nước vẫn được đảm bảo.
Sau khi cắt giảm, công trình và phương tiện giao thông chỉ phải thực hiện một thủ tục hành chính trước khi vận hành là thẩm định thiết kế về PCCC hoặc thẩm duyệt thiết kế về PCCC trong trường hợp điều chỉnh thiết kế trong quá trình thi công.
Sau khi tự tổ chức thi công và nghiệm thu, chủ đầu tư có thể đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình hoặc chủ phương tiện giao thông phải chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về việc thi công, giám sát thi công và nghiệm thu theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đã áp dụng.
Đại tá Nguyễn Thanh Điệp, Phó cục trưởng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ, cho biết việc cắt giảm hơn 91,6% thủ tục hành chính giúp người dân, doanh nghiệp nộp hồ sơ qua dịch vụ công thuận tiện hơn, không phụ thuộc thời gian và địa giới hành chính.
Theo ông, việc này góp phần rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
"Việc đơn giản thành phần hồ sơ và tăng tính tự chủ còn nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân và doanh nghiệp", đại tá Điệp nói.
Doanh nghiệp kỳ vọng giảm thời gian, chi phí
Một doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng đánh giá việc cắt giảm thủ tục PCCC là bước cải cách tích cực, trong đó việc bãi bỏ thủ tục nghiệm thu PCCC của cơ quan quản lý nhà nước mang lại nhiều lợi ích cho chủ đầu tư.
Theo doanh nghiệp này, thay đổi trên giúp rút ngắn thời gian chờ hoàn tất thủ tục để đưa công trình vào sử dụng, qua đó giảm chi phí tài chính, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Việc giảm các hoạt động kiểm tra chồng chéo cũng giúp chủ đầu tư chủ động hơn trong công tác nghiệm thu nội bộ và quản lý chất lượng công trình.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cho rằng việc bãi bỏ thủ tục nghiệm thu không đồng nghĩa với việc nới lỏng yêu cầu an toàn PCCC. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vẫn phải được tuân thủ nghiêm ngặt, song trách nhiệm của chủ đầu tư được tăng lên khi tự tổ chức nghiệm thu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng công trình.