Mới đây, bài báo Direct Numerical Simulation of Instability in Counter-Rotating Vortex Pair–Wall Interaction được đăng trên Physics of Fluids – tạp chí thuộc nhóm Scopus Q1 trong lĩnh vực cơ học lưu chất và khí động học.
Đáng chú ý là bên cạnh ba giảng viên của Học viện Hàng không Việt Nam gồm TS Nguyễn Văn Lục, TS Nguyễn Thế Hoàng và ThS Nguyễn Đình Thắng, nhóm tác giả còn có Võ Văn Quang Anh, sinh viên năm cuối khoa kỹ thuật hàng không.
Những dòng xoáy hình thành phía sau cánh máy bay không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng lại có thể quyết định khoảng cách an toàn giữa hai chuyến bay. Đây cũng là bài toán mà nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đuổi nhằm nâng cao an toàn khai thác hàng không.
Theo nhóm nghiên cứu, phía sau mỗi lần máy bay cất cánh hoặc hạ cánh đều hình thành những cặp xoáy khí động học (counter-rotating vortex pair). Các dòng xoáy này tồn tại phía sau cánh máy bay và có thể ảnh hưởng đến máy bay bay phía sau nếu khoảng cách khai thác không được tính toán phù hợp.
Trong công trình vừa công bố, nhóm sử dụng phương pháp Direct Numerical Simulation (DNS) – một trong những phương pháp mô phỏng số có độ chính xác rất cao – để tái hiện quá trình một cặp xoáy ngược chiều tương tác với mặt đất trong không gian ba chiều.
Nhóm không chỉ mô phỏng sự tương tác giữa hệ xoáy và bề mặt mà còn phân tích ảnh hưởng của khoảng cách giữa hệ xoáy với mặt đất cũng như số Reynolds đến quá trình hình thành, phát triển và suy giảm của các cấu trúc xoáy.
Theo kết quả nghiên cứu, khoảng cách đến mặt đất quyết định cách hệ xoáy phát triển. Khi xuất hiện gần mặt đất, các xoáy nhanh chóng bị biến dạng do tương tác với bề mặt. Ngược lại, nếu ở xa hơn, hiện tượng bất ổn Crow có đủ thời gian phát triển, tạo thành các vòng xoáy tái kết nối trước khi chạm đất.
Ở điều kiện có số Reynolds cao, các lõi xoáy tiếp tục bị kéo giãn, xoắn ba chiều rồi phân rã thành nhiều cấu trúc xoáy nhỏ hơn. Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra helicity là chỉ số hiệu quả để nhận biết mức độ xoắn và sự phá vỡ của hệ xoáy.
Theo nhóm tác giả, những kết quả này góp phần làm sáng tỏ cơ chế suy giảm của vệt xoáy phía sau máy bay, cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về khoảng cách an toàn giữa các máy bay khi cất cánh và hạ cánh, đồng thời mở ra các ứng dụng trong thiết kế khí động học, điều khiển dòng chảy và nhiều lĩnh vực công nghệ cao.
Điều khiến nhiều người bất ngờ là Quang Anh bắt đầu tham gia nghiên cứu từ cuối năm nhất đại học. “Nhiều người nghĩ nghiên cứu khí động học chỉ dành cho các nhà khoa học hay kỹ sư nhiều kinh nghiệm. Nhưng điều khiến tôi tham gia nghiên cứu không phải vì nghĩ mình đủ giỏi, mà chỉ nghĩ mình không nên bỏ lỡ cơ hội”, Quang Anh nói.
Khi được TS Nguyễn Văn Lục giới thiệu các hướng nghiên cứu và chia sẻ rằng sinh viên cũng có thể tham gia giải quyết những bài toán khoa học thực sự, Quang Anh đã quyết định thử sức.
“Tôi nghĩ cơ hội như vậy không phải lúc nào cũng có. Thay vì tự hỏi liệu mình có đủ khả năng hay không, tôi chọn cách mạnh dạn thử sức và học hỏi trong suốt quá trình nghiên cứu”, Quang Anh chia sẻ.
Theo Quang Anh, chính quyết định bước ra khỏi vùng an toàn đã đưa em đến với nghiên cứu khí động học.
Để hoàn thành công trình, nhóm nghiên cứu phải thực hiện nhiều phép mô phỏng kéo dài liên tục nhiều ngày, xử lý khối lượng dữ liệu lớn và trải qua nhiều vòng phản biện quốc tế.
Khoảnh khắc đáng nhớ nhất với Quang Anh là khi bài báo chính thức được tạp chí quốc tế chấp nhận đăng.
“Lần đầu tiên nhìn thấy tên mình xuất hiện trong một bài báo quốc tế, tôi nhận ra mình không còn chỉ đang làm bài tập của sinh viên nữa.
Những giờ đọc tài liệu, những lần chạy mô phỏng kéo dài nhiều ngày, xử lý lượng dữ liệu rất lớn hay những buổi trao đổi học thuật với thầy và các anh chị trong nhóm đều góp phần tạo nên một công trình nghiên cứu thực sự.
Tôi thật sự rất vui khi biết kết quả ấy sẽ được các nhà khoa học ở nhiều nơi trên thế giới cùng đọc, đánh giá và tham khảo”, Quang Anh nói.
Sau gần bốn năm nghiên cứu, Quang Anh đã là chủ nhiệm một đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, tham gia một đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, là tác giả chính của một bài báo quốc tế Scopus Q3, đồng tác giả một bài báo Scopus Q1 và có nhiều công bố tại các hội nghị khoa học quốc tế.
Theo Quang Anh, điều quý giá nhất không phải là số lượng công trình mà là những kỹ năng tích lũy được trong quá trình nghiên cứu, từ đọc tài liệu quốc tế, xây dựng mô hình, phân tích dữ liệu, viết bài báo khoa học đến làm việc trong môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp.
“Từ một sinh viên chưa biết cách đọc bài báo hay làm nghiên cứu, tôi từng bước được học hỏi, được trao cơ hội và được đồng hành bởi các thầy cô. Nếu thực sự yêu thích ngành hàng không, hãy mạnh dạn theo đuổi đam mê của mình, nắm bắt cơ hội và kiên trì với mục tiêu”, Quang Anh nói.
Công đoàn Sinh viên Cao học Harvard (HGSU-UAW) tuần trước tổ chức đình công và biểu tình để phản đối ban giám đốc Đại học Harvard, đòi tăng lương và cải thiện quyền lợi làm việc.
Tổ chức này đại diện cho khoảng 3.900 sinh viên cao học đang đảm nhiệm gần 4.900 vị trí tại Harvard, bao gồm trợ giảng, giảng viên tập sự, trợ lý nghiên cứu và trợ lý khóa học.
Họ yêu cầu mức lương tối thiểu 55.000 USD/năm để có thể sống tại Boston và Cambridge, nơi có chi phí sinh hoạt ước tính 70.000 USD/năm cho một người lớn. Nhóm này cũng muốn tăng lương theo giờ, từ 21 USD lên 25 USD.
"Rất khó để sống được với mức thu nhập như bây giờ", theo Jaswal, một học viên với lương khoảng 26.000 USD mỗi năm.
Hiện, các trợ lý nghiên cứu được Harvard trả hơn 40.000 USD, còn trợ giảng là 26.300 USD mỗi năm. Trong khi đó, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Đại học Stanford trả lần lượt gần 60.300 USD và 58.500 USD.
Phía Đại học Harvard cho rằng nhóm này đã được đãi ngộ thỏa đáng. Trong một thông báo tuần trước, họ nói khoảng 60% thành viên công đoàn là nghiên cứu sinh tiến sĩ, vốn đã nhận được các khoản hỗ trợ chi phí sinh hoạt, học bổng học phí và bảo hiểm y tế toàn phần. Tổng giá trị các hỗ trợ này ước tính ít nhất 425.000 USD trong khoảng 5 năm.
Mức tăng mà lãnh đạo nhà trường đề xuất là 10% trong vòng 4 năm cho tất cả nhân viên hưởng lương.
Cuộc đình công diễn ra sau khi hai bên không thỏa thuận được hợp đồng mới. Trong 14 tháng qua, với 23 phiên đàm phán, họ mới chỉ đồng thuận về không gian làm việc và thời gian nghỉ phép, còn 23 điều khoản khác đang rơi vào bế tắc.
Ngoài vấn đề tài chính, công đoàn còn yêu cầu quyền được đại diện khi xảy ra các vụ quấy rối nơi làm việc, thành lập quỹ khẩn cấp để hỗ trợ các vấn đề pháp lý và được hưởng nghỉ phép có lương khi làm các thủ tục visa.
Nhóm trợ giảng đình công đúng vào tuần cuối cùng của học kỳ mùa xuân, ngay trước kỳ ôn thi tháng 5 của sinh viên đại học. Một số lớp học đã bị hủy hoặc chuyển sang hình thức trực tuyến. Dù lo lắng, nhiều sinh viên đại học bày tỏ sự ủng hộ với các trợ giảng.
Dự kiến, phiên đàm phán tiếp theo giữa các bên diễn ra vào ngày 29/4.
Cách đây vài tuần, nhiều giảng viên Đại học New York cũng xuống đường để phản đối lương thấp. Họ phải gánh vác gần 1/3 khối lượng giảng dạy, nhưng chỉ hưởng tổng cộng 2% quỹ lương, giữa bối cảnh giá nhà tăng cao kỷ lục.
Theo Bộ GD-ĐT, đây là lần đầu tiên áp dụng chấm môn ngữ văn theo kiểu rubric trong thi tốt nghiệp THPT. Cách chấm này về cơ bản là chuyển từ "đếm ý" sang đánh giá theo tiêu chí và mức độ cụ thể. Vậy cách chấm này như thế nào, có thuận lợi và khó khăn gì, giám khảo cần trang bị gì để đảm bảo việc chấm thi vừa chính xác, vừa công bằng?
Hiểu một cách đơn giản, rubric là bảng tiêu chí đánh giá theo mức độ, trong đó mỗi bài làm không chỉ được xem xét "có ý hay không" mà còn được đánh giá ở mức độ: đạt, khá, tốt hay xuất sắc (tương ứng với các con điểm).
Trước đây, việc chấm môn văn chủ yếu dựa vào đáp án, thang điểm và hướng dẫn chấm; giám khảo căn cứ vào bài làm để đối chiếu và cho điểm. Cách làm này tuy khá chính xác nhưng vẫn dễ lệch điểm do cảm tính cá nhân. Chấm theo rubric sẽ đưa ra hệ thống tiêu chí cụ thể hơn, giúp việc đánh giá trở nên rõ ràng và nhất quán hơn.
Chẳng hạn, với cách chấm truyền thống, một bài nghị luận xã hội thường được chia nhỏ điểm số theo các phần để chấm (các mục a, b, c, d, e của đáp án). Giám khảo đọc bài, xem thí sinh "có những ý nào" rồi cộng điểm tương ứng. Trong khi đó, với rubric, người chấm không chỉ dừng lại ở việc xác định "có ý" mà phải đánh giá chất lượng của từng phương diện như: mức độ đáp ứng yêu cầu đề, khả năng lập luận, độ phù hợp của dẫn chứng, tính mạch lạc trong diễn đạt… Ví dụ, cùng viết đúng một ý, nhưng một bài chỉ dừng ở mức trình bày sơ sài có thể được xếp mức "đạt" (điểm tương ứng), trong khi bài khác phân tích sâu, có phản biện sẽ được xếp mức "tốt" hoặc "xuất sắc". Điểm số vì thế không còn phụ thuộc chủ yếu vào việc "có đủ ý" mà vào mức độ triển khai ý đến đâu.
So với cách chấm truyền thống, rubric tạo ra sự dịch chuyển rõ rệt từ "có gì" sang "làm tốt đến đâu"; từ "cộng điểm từng ý" sang "đánh giá theo tiêu chí tổng thể"; từ chỗ dễ bị chi phối bởi cảm tính sang bám sát các mô tả cụ thể, chi tiết.
Chính vì vậy, rubric được kỳ vọng sẽ giảm bớt sự chênh lệch giữa các giám khảo, đồng thời tạo điều kiện để những bài viết có tư duy riêng, cách lập luận sáng rõ được ghi nhận xứng đáng.
Nói cách khác, nếu cách chấm cũ thiên về đánh giá kiến thức và mức độ "trúng ý", thì rubric hướng tới đánh giá năng lực viết. Cách chấm này phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình Giáo dục phổ thông mới 2018.
Tuy mang lại nhiều kỳ vọng, nhưng việc chấm theo rubric cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt trong bối cảnh phần lớn giám khảo đã quen với cách chấm truyền thống trong nhiều năm.
Khó khăn đầu tiên nằm ở thói quen nghề nghiệp. Không ít giám khảo có xu hướng đọc bài để "tìm ý" rồi cộng điểm, trong khi rubric đòi hỏi phải đọc bài để đánh giá chất lượng lập luận và tư duy. Bên cạnh đó, rubric cũng dễ gây lúng túng ở những bài "lưng chừng", chẳng hạn cho 1,5 hay 2 điểm của câu viết đoạn văn (2 điểm) trong bài làm. Những bài làm không hẳn yếu nhưng cũng chưa thực sự nổi bật, buộc giám khảo phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa các mức đánh giá. Nếu thiếu tiêu chí rõ ràng, việc cho điểm rất dễ rơi vào cảm tính.
Vì vậy cần đến vai trò của Bộ GD-ĐT trong việc thiết kế rubric cụ thể, với mô tả rõ ràng cho từng mức độ, tránh các cách diễn đạt chung chung như "tương đối tốt" hay "khá hợp lý". Mỗi mức điểm phải gắn với những biểu hiện có thể nhận diện được trong bài làm. Cùng với đó, việc cung cấp cho giám khảo bài mẫu chuẩn hóa là hết sức cần thiết. Những bài được chấm sẵn ở các mức điểm khác nhau, kèm theo giải thích chi tiết, sẽ giúp giám khảo "căn chỉnh" cách nhìn, từ đó giảm đáng kể độ lệch khi chấm thực tế.
Hơn nữa, thay vì chỉ phổ biến văn bản, các hội đồng chấm thi cần tổ chức chấm thử, đối sánh kết quả, thảo luận những trường hợp lệch điểm để đi đến thống nhất. Đây là bước then chốt giúp giám khảo quen chấm theo rubric.
Bản thân giám khảo cũng cần chủ động thay đổi cách chấm, từ bỏ thói quen "đếm ý", chuyển sang đánh giá mức độ triển khai. Điều này đòi hỏi không chỉ kỹ năng chuyên môn mà còn cả sự linh hoạt trong tư duy. Giám khảo cần rèn luyện khả năng "định vị mức điểm" một cách nhanh chóng và chính xác. Trong thực tế chấm thi, việc xác định bài viết thuộc khoản điểm ngay từ đầu sẽ giúp tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính nhất quán.
Mặt khác, dù rubric cho phép đánh giá linh hoạt, nhưng không vì thế mà nới lỏng tiêu chuẩn. Những bài lạc đề, sai bản chất vấn đề vẫn phải bị trừ điểm nghiêm túc, bất kể diễn đạt có trôi chảy đến đâu. Do vậy, rubric không làm thay công việc của giám khảo, mà ngược lại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người chấm. Nó buộc giám khảo phải đọc kỹ hơn, nghĩ sâu hơn và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn với từng điểm số mình cho.
Tại Hội nghị tuyển sinh đại học ngày 20/4, GS. TS Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nêu quan điểm về chi phí và đầu ra của đại học.
Ông dẫn dữ liệu của Bộ Nội vụ cho biết thu nhập bình quân của người lao động năm 2025 là 8,31 triệu đồng mỗi tháng. Trong khi thống kê sơ bộ học phí và các chi phí khác cho thấy một sinh viên tiêu tốn không dưới 100 triệu đồng mỗi năm. Ông nhìn nhận việc lo cho con học đại học hiện là áp lực không nhỏ với người lao động.
"Đại học không phải là chỗ để học đại", ông Quân nói. "Chi phí học tập ngày càng lớn và tổng 4 năm là con số không nhỏ".
Trong bối cảnh đó, ông Quân bày tỏ lo ngại về hệ lụy nếu sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc hoặc không thích nghi với sự thay đổi công nghệ. Đây sẽ là sự lãng phí nguồn lực đầu tư của cả gia đình, xã hội, ảnh hưởng đến lực lượng lao động.
Vì thế, ông đề nghị các trường coi trọng chất lượng đầu ra. Vì sứ mệnh của giáo dục đại học là bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, trường phải có trách nhiệm tuyển, đào tạo và tạo cơ hội việc làm đúng người.
"Quan điểm của tôi và lãnh đạo Bộ là phải dần hướng đến chuẩn đầu ra cao hơn", Thứ trưởng nói.
Ông Quân nhìn nhận chất lượng đầu ra chủ yếu được đánh giá qua thị trường lao động. Hiện, tỷ lệ sinh viên có việc do trường đại học thống kê chưa thật sự đầy đủ và không phản ánh hết vấn đề. Vì thế, thời gian tới, ngành giáo dục sẽ phối hợp Bộ Công an đồng bộ dữ liệu, ghi nhận thông tin từ lúc sinh viên nhập học đến khi tốt nghiệp, đóng bảo hiểm xã hội.
Mặt khác, Bộ đang xây dựng Quỹ học bổng quốc gia để miễn, giảm học phí cho các nhóm sinh viên xuất sắc hoặc có hoàn cảnh khó khăn. Một số lĩnh vực đặc thù như sư phạm, công nghệ chiến lược, STEM có học bổng, chính sách hỗ trợ theo chương trình riêng.
Thống kê của VnExpress ở 130 trường đại học năm ngoái cho thấy học phí khoảng 9,8 - 170 triệu đồng một năm, mức phổ biến là 15-40 triệu. Năm nay, mức thu của nhiều trường tiếp tục tăng, thường khoảng 10%, cá biệt lên tới 47% do tự chủ hoặc đạt kiểm định chất lượng.