Trong nhiều năm qua, tuyển sinh vào lớp 10 luôn là một trong những vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Ở nhiều địa phương, nhất là các đô thị lớn, số lượng học sinh có nguyện vọng học tại các trường THPT công lập luôn vượt quá khả năng tiếp nhận. Điều này khiến kỳ tuyển sinh lớp 10 trở thành một kỳ thi có áp lực rất lớn đối với học sinh, phụ huynh, giáo viên và cả hệ thống giáo dục.
Vấn đề đặt ra hiện nay là không chỉ là giảm áp lực của một kỳ thi, mà sâu xa hơn là đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá để phản ánh đúng năng lực của học sinh, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản trị giáo dục trong giai đoạn mới.
Đặc biệt, sau buổi làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với ngành giáo dục, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đã yêu cầu Bộ GD-ĐT khẩn trương nghiên cứu đổi mới kiểm tra, đánh giá cuối cấp THCS và phương án tuyển sinh lớp 10 theo hướng giảm áp lực, bảo đảm công bằng, minh bạch; đồng thời rà soát cơ chế đánh giá học sinh, giáo viên, nhà trường, thi cử và thi đua, khen thưởng nhằm khắc phục bệnh thành tích và nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong nhiều cuộc trao đổi, câu hỏi thường được đặt ra là nên tiếp tục thi tuyển hay chuyển sang xét tuyển vào lớp 10. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc lựa chọn giữa hai phương thức này thì chưa chạm đến bản chất của vấn đề.
Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ thống đánh giá lớp cuối cấp phản ánh đúng mức độ yêu cầu cần đạt của học sinh sau khi hoàn thành chương trình THCS. Khi hệ thống đánh giá đủ độ tin cậy, độ giá trị và tính công bằng, kết quả của nó có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Trước hết đây là căn cứ để xác nhận mức độ hoàn thành chương trình giáo dục THCS của mỗi học sinh. Thay vì chỉ phản ánh điểm số của từng môn học, hệ thống đánh giá cần cho thấy học sinh đã đạt đến mức nào so với yêu cầu cần đạt của cấp học, ở cả phương diện kiến thức, kỹ năng và năng lực vận dụng.
Thứ hai, kết quả đánh giá cuối cấp có thể được sử dụng làm căn cứ chủ yếu trong tuyển sinh vào lớp 10. Khi được chuẩn hóa, kết quả này sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào một kỳ thi diễn ra trong thời gian ngắn, đồng thời giảm áp lực thi cử nhưng vẫn bảo đảm tính công bằng và minh bạch.
Như vậy tuyển sinh vào lớp 10 chỉ là một trong nhiều mục đích sử dụng của hệ thống đánh giá cuối cấp. Giá trị lớn hơn của hệ thống này là tạo lập một cơ sở dữ liệu tin cậy phục vụ nâng cao chất lượng giáo dục trung học phổ thông và quản trị hệ thống giáo dục.
Một băn khoăn thường gặp là nếu đổi mới đánh giá thì liệu có làm tăng thêm áp lực cho học sinh và giáo viên hay không. Câu trả lời là không, nếu mô hình được thiết kế hợp lý.
Học sinh vẫn thực hiện các bài kiểm tra định kỳ theo kế hoạch giáo dục hiện hành. Giáo viên vẫn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá theo quy định. Điểm khác biệt là các bài kiểm tra này sẽ được chuẩn hóa về yêu cầu cần đạt, ma trận đề, ngân hàng câu hỏi, quy trình tổ chức và phân tích chất lượng để kết quả có thể sử dụng cho những quyết định giáo dục quan trọng.
Một ưu điểm nổi bật của mô hình này là có thể triển khai theo lộ trình ngay trên cơ sở các quy định hiện hành, không cần tạo thêm kỳ kiểm tra hay thay đổi căn bản hệ thống pháp luật về giáo dục.
Hiện nay các trường trung học cơ sở đã tổ chức kiểm tra định kỳ theo quy định của Bộ GD-ĐT. Điều cần đổi mới không phải là bổ sung thêm hoạt động đánh giá, mà là chuẩn hóa chất lượng của các bài kiểm tra hiện có và nâng cao giá trị sử dụng của kết quả đánh giá.
Trong giai đoạn đầu, Bộ GD-ĐT có thể ban hành hướng dẫn thống nhất về ma trận đề, ngân hàng câu hỏi, quy trình xây dựng đề, tổ chức kiểm tra, chấm điểm và phân tích chất lượng đối với các bài kiểm tra định kỳ lớp 9.
Trên cơ sở đó, các địa phương chủ động tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu chung về chất lượng và tính tương đương.
Điều này cũng phù hợp với cơ chế phân cấp hiện nay trong tuyển sinh vào lớp 10. Khi hệ thống đánh giá đã được chuẩn hóa, các địa phương có thêm một căn cứ khoa học để lựa chọn phương thức tuyển sinh phù hợp mà vẫn bảo đảm công bằng, minh bạch và khách quan.
Xa hơn, việc chuẩn hóa đánh giá sẽ tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi số trong giáo dục. Khi ngân hàng câu hỏi được chuẩn hóa, các đề kiểm tra có thể được sinh tự động theo đúng ma trận, bảo đảm tương đương về độ khó và khả năng phân hóa.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá lớp cuối cấp THCS không đơn thuần là thay đổi cách tuyển sinh vào lớp 10. Đây là cơ hội để chuyển từ tư duy quản lý dựa trên một kỳ thi sang tư duy quản lý dựa trên một hệ thống đánh giá có chất lượng.
Khi kết quả đánh giá phản ánh trung thực mức độ đạt của yêu cầu cần đạt, hệ thống giáo dục sẽ có trong tay một nguồn dữ liệu đáng tin cậy phục vụ đồng thời nhiều mục tiêu: công nhận hoàn thành cấp học, tuyển sinh vào lớp 10, cung cấp thông tin đầu vào cho các trường THPT, phân luồng học sinh, theo dõi chất lượng giáo dục và hoạch định chính sách.
Đổi mới không phải là làm nhiều hơn, mà là làm tốt hơn những gì đang có. Giá trị của mô hình không nằm ở việc thay thế kỳ thi tuyển sinh bằng một hình thức xét tuyển đơn giản, mà ở việc nâng tầm chất lượng của hệ thống kiểm tra, đánh giá để kết quả của nó đủ độ tin cậy phục vụ nhiều quyết định giáo dục quan trọng.
Cụ thể, mức điểm sàn xét từ điểm thi tốt nghiệp THPT đối với thí sinh ở khu vực 3 có mức điểm tối thiểu (không nhân hệ số) của tất cả các tổ hợp, không tính điểm cộng là 20.
Năm nay, lần đầu tiên Bộ GD&ĐT áp dụng mức điểm đảm bảo chất lượng đầu vào cho ngành luật bên cạnh nhóm ngành sức khoẻ và sư phạm như những năm trước.
Mức điểm sàn năm nay áp dụng thống nhất, không phân biệt thí sinh học chương trình giáo dục phổ thông cũ hay mới.
Bộ GD&ĐT yêu cầu các đại học, học viện và trường đại học có đào tạo các chương trình thuộc lĩnh vực pháp luật tổ chức xét tuyển thí sinh sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT theo đúng quy chế tuyển sinh trình độ đại học hiện hành và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
Năm 2026, Bộ GD&ĐT quy định ở bất kỳ phương thức xét tuyển nào, nguồn tuyển vào đại học là thí sinh có tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm thi của môn toán và ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 15/30 điểm.
Tuy nhiên, với lĩnh vực sư phạm, sức khỏe, pháp luật, ở phương thức xét điểm thi tốt nghiệp, Bộ GD&ĐT sẽ phối hợp với bộ liên quan quyết định mức điểm sàn nhận hồ sơ xét tuyển.
Hội thảo Toán học Hà Nội - Singapore diễn ra ngày 4 và 5/4, do khoa Toán của Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tổ chức.
Song song chuỗi bài giảng đại chúng, GS Han Fei, Phó khoa Toán NUS, khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình cao học toán của trường, đặc biệt là chương trình tiến sĩ.
Ông cho hay khoa có 120 nghiên cứu sinh tiến sĩ nhưng lượng học viên Việt còn ít, chỉ 3-5 người. GS Fei cho rằng con số này chưa tương xứng với quy mô dân số và tiềm năng về nguồn học viên.
"Chúng tôi rất thích sinh viên Việt Nam. Các bạn có nền tảng giáo dục cao, thông minh, chăm chỉ, thái độ tốt", GS Fei nói, kỳ vọng số nghiên cứu sinh người Việt sẽ tăng lên.
Theo ông, họ sẽ được nâng cao kỹ năng nghiên cứu, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về đóng góp cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, họ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và môi trường đa văn hóa ở NUS.
Ông Fei khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình tiến sĩ Toán, ba chương trình thạc sĩ Toán, Tài chính định lượng và Khoa học dữ liệu và học máy.
Trong đó, chương trình thạc sĩ Toán là bước chuyển tiếp cho những sinh viên muốn học lên tiến sĩ và trở thành nhà nghiên cứu. Hai chương trình thạc sĩ còn lại định hướng giúp sinh viên đáp ứng nhu cầu của thị trường việc làm trong thời kỳ AI bùng nổ.
Về hướng giảng dạy và nghiên cứu, ngoài các lĩnh vực toán thuần túy, khoa Toán NUS tập trung phát triển ứng dụng vào Khoa học dữ liệu, Tin sinh học, Khoa học tính toán và phân tích số, Tối ưu hóa và Xử lý ảnh.
GS Đinh Tiến Cường, thành viên Hội đồng khoa học của VIASM, nhận định Singapore đang phát triển nhanh hơn sức tưởng tượng của nhiều người về khoa học công nghệ. So với khi ông bắt đầu làm việc tại đây 11 năm trước, ngày càng nhiều sinh viên quốc tế từ châu Âu hay Mỹ tới học, thay vì chỉ sinh viên ở châu Á.
Anh Trần Chiêu Minh, giáo sư bậc một tại khoa Toán NUS, đánh giá sinh viên Việt có cơ hội cạnh tranh ngang ngửa với những sinh viên giỏi tại NUS. Anh bày tỏ hy vọng có thêm nhiều hoạt động cộng tác của khoa tại Việt Nam.
Theo thông tin, nghiên cứu sinh tiến sĩ được trả toàn bộ học phí, nhận trợ cấp 4.000 SGD (khoảng 82 triệu đồng) mỗi tháng và 10.000 SGD chi phí đi lại tới các hội nghị, trường hè quốc tế,... Họ có thể nhận thêm 4.100-4.300 SGD nếu đạt học bổng của trường.
Sinh viên thạc sĩ cần tự trả học phí. Riêng nhóm tới từ ba trường đối tác của NUS tại Việt Nam, gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM và Đại học Bách khoa Hà Nội, có thể đăng ký học bổng NUS ASEAN Master's để được miễn.
Năm nay, hạn cuối nộp hồ sơ cho kỳ tuyển sớm với chương trình thạc sĩ Toán tại NUS là 15/7. Với bậc tiến sĩ, ứng viên muốn bắt đầu kỳ học tháng 1 năm sau cần hoàn thành mọi giấy tờ trước 15/5. Sinh viên nộp đơn qua cổng tuyển sinh của trường.
Đại học Quốc gia Singapore hiện đứng thứ 8 thế giới theo xếp hạng năm 2026 của QS và thứ 17 theo THE. Trong đó, chất lượng đào tạo Toán trong top 8 toàn cầu, theo QS.
Đây là chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn trong buổi làm việc với Vụ Giáo dục đại học chiều 6-5.
Chia sẻ tại buổi làm việc, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh giáo dục đại học là lĩnh vực vô cùng quan trọng, yêu cầu trong giai đoạn mới rất cao, mọi công việc phải bảo đảm nhanh, hiệu quả và chất lượng.
Theo ông Sơn, nếu thực sự phát huy đầy đủ trách nhiệm, quyết liệt và đúng hướng thì sẽ không có nhiều công việc chậm, muộn như thời gian qua.
Bộ trưởng yêu cầu lãnh đạo Vụ Giáo dục đại học và các chuyên viên tiếp tục siết chặt kỷ cương, kỷ luật công vụ, bảo đảm “6 rõ”, tăng cường giám sát, kiểm đếm tiến độ và có chế tài rõ ràng trong thực hiện nhiệm vụ.
Về chuyên môn, Bộ trưởng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương pháp làm việc, chuyển từ tư duy quản lý từ kiểm soát hành chính sang quản trị theo chuẩn và dữ liệu.
Theo đó, công tác quản lý cần tập trung vào những nội dung cốt lõi như chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn cơ sở giáo dục đại học và hệ thống dữ liệu về tuyển sinh, người học.
Ông Sơn nhấn mạnh tư duy hiện nay phải là tư duy kiến tạo phát triển, luôn đặt câu hỏi “mình giúp gì được cho các trường, cho sinh viên, cho giảng viên”, thay vì chủ yếu đặt ra quy định để kiểm soát, hạn chế. Những cơ sở giáo dục làm tốt, đầu tư bài bản cần được khuyến khích phát triển. Việc cấp phép chỉ tập trung với một số ngành đặc thù, có yêu cầu quản lý riêng.
Đối với việc xây dựng đề án, chiến lược, chương trình, ông Sơn yêu cầu phải làm rõ mục tiêu, nội hàm, nguồn lực và tính khả thi. Không chỉ nêu tên nhiệm vụ mà phải xác định rõ làm để làm gì, giải quyết vấn đề gì và tác động ra sao.
Bộ trưởng cũng đề nghị Vụ Giáo dục đại học rà soát lại chức năng, nhiệm vụ trong bối cảnh mới; ngoài công tác tuyển sinh, chương trình đào tạo cần quan tâm làm rõ các vấn đề về tài chính giáo dục đại học, đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển đội ngũ giảng viên… với tinh thần không chỉ “làm gì” mà còn “chịu trách nhiệm về điều gì”.
Về một số nhiệm vụ cụ thể, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn lưu ý nguyên tắc “nắm ít nhưng nắm việc quan trọng”. Những vấn đề phức tạp phải được xử lý theo hướng đơn giản, hiệu quả. Trọng tâm thời gian tới là chiến lược phát triển giáo dục đại học, sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học.
Đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ trưởng yêu cầu các văn bản còn nợ đọng phải trình trước ngày 20-5, phấn đấu hoàn thành toàn bộ các văn bản còn lại trước ngày 1-7.
Đồng thời tiếp tục rà soát, tinh gọn danh mục ngành đào tạo, làm rõ định hướng quốc tế hóa giáo dục đại học và xác định rõ các nhiệm vụ ưu tiên trong xử lý công việc.
Bộ trưởng nhấn mạnh phương châm hành động của Vụ Giáo dục đại học trong thời gian tới là “Đoàn kết thống nhất - Tăng tốc mạnh mẽ - Kết quả thực chất”. Trong đó, đoàn kết thống nhất là nền tảng tạo nên sức mạnh, cũng là yêu cầu về đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ lãnh đạo và công chức của vụ.