Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử, tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử.
Việc ban hành thông tư này nhằm cụ thể hóa những quy định về sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.
Theo thông tư trên, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sư phạm của nội dung dạy học.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật, quy chuẩn về lưu chiểu và các quy định của pháp luật có liên quan.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng khẳng định sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in, không mang tính bắt buộc với cơ sở giáo dục, giáo viên và học sinh.
Sách giáo khoa điện tử được công nhận và sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và xu thế giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Thông tư trên nêu rõ sách giáo khoa điện tử không thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định hiện hành. Người tổ chức sách giáo khoa điện tử phải đảm bảo bảo mật thông tin của cá nhân học sinh và giáo viên theo quy định của pháp luật.
Thông tư cũng quy định sách giáo khoa điện tử không chèn quảng cáo, nội dung kinh doanh, không chứa và không được hiển thị các liên kết độc hại hoặc nội dung không phù hợp với mục đích giáo dục.
Giao diện sách giáo khoa điện tử phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, hình ảnh, âm thanh, video trong sách giáo khoa điện tử được thiết kế và sử dụng như giải pháp sư phạm. Đây là ưu điểm của sách giáo khoa điện tử, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng tính trải nghiệm trong học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải tuân thủ các quy định hiện hành về kỹ thuật của xuất bản phẩm điện tử, khuyến khích sử dụng các chuẩn mở quốc tế cho xuất bản phẩm điện tử giáo dục.
Sách giáo khoa điện tử bảo đảm tính năng hỗ trợ sử dụng ngoại tuyến đối với nội dung tĩnh. Có thể sử dụng trên thiết bị cấu hình thấp, tích hợp các tính năng công nghệ hỗ trợ tiếp cận dành cho đối tượng học sinh khuyết tật và người yếu thế.
Về hạ tầng và bảo mật sách giáo khoa điện tử, thông tư trên quy định, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu đặt tại Việt Nam, có tên miền Internet Việt Nam, được bảo trì định kỳ và tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng theo quy định hiện hành.
Sách giáo khoa điện tử phải được hoạt động ổn định trên các thiết bị, nền tảng khác nhau, không phụ thuộc độc quyền vào công nghệ, cấu hình thiết bị riêng biệt, tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về dữ liệu để tích hợp được với các hệ thống quản lý học tập.
Đồng thời sách giáo khoa điện tử phải có cơ chế đồng bộ dữ liệu thông suốt giữa chế độ trực tuyến và ngoại tuyến.
Sách giáo khoa điện tử chỉ được chỉnh sửa, cập nhật khi sách giáo khoa bản in được chỉnh sửa, cập nhật. Việc chỉnh sửa, cập nhật sách giáo khoa điện tử do đơn vị chuyển thể tổ chức thực hiện, bảo đảm các nội dung cập nhật không làm giảm mức độ tiếp cận đã đạt được tại các phiên bản trước đó.
Việc tổ chức thực nghiệm kỹ thuật và đánh giá trải nghiệm người dùng trên các nhóm đối tượng học sinh, giáo viên đại diện vùng miền.
Cụ thể, số tiết thực nghiệm ít nhất 5% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 105 tiết/năm học trở lên; ít nhất 10% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 70 tiết/năm học đến dưới 105 tiết/năm học; ít nhất 15% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục còn lại.
Hình thức tổ chức thực nghiệm trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.
Đơn vị chuyển thể tổ chức chỉnh sửa, biên tập, hoàn thành bản mẫu sách giáo khoa điện tử và đề nghị với đơn vị tổ chức thẩm định, thẩm định bản mẫu sách giáo khoa điện tử.
Theo Hãng tin AFP ngày 5-6, khung hướng dẫn quy định được công bố hồi tháng 3 áp dụng hệ thống "đèn tín hiệu" để xác định các nhiệm vụ được phép sử dụng AI.
Theo đó, mức đèn đỏ biểu thị cấm AI tham gia chấm điểm học sinh hoặc quyết định việc phân lớp và lộ trình học tập. Mức đèn vàng yêu cầu cân nhắc thận trọng, cho phép học sinh sử dụng AI trong nghiên cứu, khám phá và các dự án sáng tạo.
Tuy nhiên tại một cuộc họp công khai kéo dài 7 tiếng, nhiều phụ huynh bày tỏ sự không hài lòng, cho rằng các quy định chưa giải quyết được những lo ngại lớn như tác động môi trường của AI, ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và sự phát triển nhận thức của trẻ em.
Một số tổ chức địa phương đã kêu gọi tạm dừng việc sử dụng AI trong các trường công ở New York trong vòng hai năm.
Hệ thống trường công của thành phố hiện đang có hơn 900.000 học sinh.
Bà Liat Olenick, đồng sáng lập tổ chức của các phụ huynh Climate Families NYC, cho rằng hướng dẫn hiện tại thiếu chi tiết và không đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng.
"Quy định này không hạn chế việc học sinh sử dụng AI, nên hoàn toàn không đầy đủ và chưa đáp ứng yêu cầu", bà nói.
Tổ chức của bà Olenick đề nghị xây dựng quy trình ban hành quy định chặt chẽ hơn, với sự tham gia của các nhà khoa học thần kinh, chuyên gia khí hậu và chuyên gia giáo dục nhằm đánh giá liệu những công cụ này có phù hợp với môi trường học đường hay không.
Trả lời Hãng tin AFP, Sở Giáo dục TP New York cho biết bộ quy định hiện tại chỉ là bước đầu tiên và một cẩm nang hướng dẫn toàn diện hơn sẽ được công bố vào cuối năm nay.
Vào cuối tháng 5, Hiệu trưởng hệ thống trường học New York Kamar Samuels nói với trang tin giáo dục Chalkbeat (một trang tin giáo dục phi lợi nhuận của Mỹ) rằng các nhà quản lý đã "truyền đạt chưa đúng trọng tâm" và văn phòng của ông sẽ xem xét kỹ các ý kiến phản hồi của phụ huynh để đưa vào những quy định trong tương lai.
Vài ngày sau đó, Liên đoàn Giáo viên bang New York (NYSUT) kêu gọi áp dụng các giới hạn "phù hợp với độ tuổi" đối với thời gian sử dụng thiết bị điện tử và AI trong trường học.
Tổ chức này đề xuất cấm học sinh nhỏ hơn lớp 2 tiếp xúc trực tiếp với AI và không cho phép sử dụng AI mà không có giám sát trước khi tốt nghiệp trung học phổ thông.
"Các nhà giáo dục không chống lại công nghệ mà chúng tôi đặt trẻ em lên hàng đầu", Chủ tịch NYSUT Melinda Person nhấn mạnh.
Nhiều phụ huynh và giáo viên cũng bày tỏ lo ngại chính quyền địa phương đang chịu ảnh hưởng từ ngành công nghiệp AI, lĩnh vực đang tích cực thúc đẩy việc ứng dụng các sản phẩm của mình trong các hoạt động và lĩnh vực công.
Ông Naveed Hasan, lập trình viên, phụ huynh học sinh và thành viên Hội đồng Chính sách Giáo dục của hệ thống trường công New York, cho rằng các trường học cần có tiếng nói mạnh mẽ hơn đối với các đơn vị cung cấp công nghệ.
"Trong một số trường hợp, chúng tôi là khách hàng duy nhất của các nhà cung cấp này, vì vậy chúng tôi phải có khả năng đưa ra các điều kiện hợp tác và xác định điều gì thực sự mang lại lợi ích cho trẻ em đầu tiên", ông Naveed nói.
Nhà khoa học trẻ cho rằng đây là thời điểm Việt Nam đang có những chuyển dịch mạnh mẽ trong đầu tư cho khoa học công nghệ.
Với lĩnh vực chuyên sâu về liệu pháp tế bào và các sản phẩm y tế cá thể hóa, anh mong muốn góp phần tạo ra những giải pháp y sinh phục vụ trực tiếp nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người Việt, đồng thời xây dựng một môi trường nghiên cứu năng động cho thế hệ kỹ sư y sinh tương lai.
Là cựu sinh viên Trường đại học Quốc tế, trước khi sang Singapore học tiến sĩ, TS Trần Minh Phương Nam đã xác định mục tiêu của mình là học hỏi từ môi trường nghiên cứu hàng đầu thế giới để một ngày trở về giảng dạy và nghiên cứu tại Việt Nam.
Chính vì vậy, anh lựa chọn học bổng khoa học công nghệ của Vingroup - chương trình được thiết kế dành cho những người mong muốn quay trở về cống hiến sau quá trình đào tạo ở nước ngoài.
Sau thời gian học tập tại NTU, điều khiến anh tin rằng đây là thời điểm phù hợp để trở về không chỉ là tình cảm với ngôi trường cũ mà còn là những thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ của Việt Nam và Đại học Quốc gia TP.HCM.
Theo anh, hướng nghiên cứu về liệu pháp tế bào và các sản phẩm y tế cá thể hóa hiện nằm trong nhóm công nghệ chiến lược được ưu tiên phát triển.
Trong khi đó, quá trình già hóa dân số đang đặt ra nhu cầu ngày càng lớn về các giải pháp điều trị chuyên biệt và hiệu quả hơn.
"Tôi hy vọng có thể cùng các đồng nghiệp xây dựng một không gian nghiên cứu năng động, đồng thời đồng hành cùng thế hệ kỹ sư y sinh trẻ để giải quyết chính những bài toán sức khỏe của cộng đồng tại Việt Nam", TS Nam chia sẻ.
Định hướng nghiên cứu lâu dài của TS Trần Minh Phương Nam xoay quanh một khái niệm mà anh gọi là "liệu pháp sống" - các sản phẩm y sinh tích hợp các thành phần sinh học sống hoặc có khả năng tương tác liên tục với cơ thể người thay vì chỉ tác động một chiều như dược phẩm truyền thống.
Theo đó, anh dự kiến phát triển ba hướng nghiên cứu trọng tâm. Hướng thứ nhất là phát triển các hệ mang tải lợi khuẩn phục vụ điều trị, mở ra khả năng kiểm soát nhiễm khuẩn vết thương, điều hòa miễn dịch và góp phần ứng phó với tình trạng kháng kháng sinh - một trong những thách thức y tế toàn cầu.
Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào các hệ mang tải tế bào, cho phép các tế bào được cấy ghép hoạt động như những "nhà máy sinh học" ngay trong cơ thể, có khả năng tự động tổng hợp và giải phóng các đại phân tử sinh học theo nhu cầu điều trị thực tế.
Trong khi đó, hướng thứ ba là thiết kế các thiết bị y tế thông minh có khả năng đo lường, phân tích và tự điều chỉnh phương thức điều trị theo thời gian thực, hướng tới mô hình y tế cá thể hóa.
Theo TS Nam, điểm chung của cả ba hướng nghiên cứu là tạo ra sự "đối thoại" giữa công nghệ và cơ thể người bệnh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm áp lực cho hệ thống y tế trong bối cảnh già hóa dân số và bệnh mạn tính ngày càng gia tăng tại Việt Nam.
Bên cạnh nghiên cứu, anh cho rằng hợp tác quốc tế sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khoa học y sinh Việt Nam. Trong những năm gần đây, môi trường nghiên cứu trong nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, song những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn như y sinh vẫn cần các mạng lưới hợp tác quốc tế để tiếp cận nhanh hơn với tri thức và công nghệ tiên tiến.
Theo anh, Singapore là đối tác phù hợp nhờ lợi thế địa lý, sự tương đồng về điều kiện tự nhiên và việc cùng quan tâm đến những vấn đề y tế của khu vực Đông Nam Á.
Những mô hình về trung tâm y tế, chăm sóc sức khỏe như Biopolis hay HealthCity Novena của đất nước này cũng là những kinh nghiệm đáng tham khảo trong việc kết nối trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, doanh nghiệp và các quỹ đầu tư.
Ngày 14-7, trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Sái Công Hồng - chuyên gia khảo thí - nhìn nhận việc tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học thành hai kỳ thi riêng không phải đến hôm nay mới đưa ra.
Vấn đề này từng có nhiều ý kiến, đề xuất, tranh luận và cơ quan quản lý cũng nhiều lần khẳng định kỳ thi tốt nghiệp THPT với mục đích chính hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông và một số mục đích khác, các trường học hoàn toàn có thể tự chủ tuyển sinh.
Thời gian gần đây kỳ thi tốt nghiệp ngoài mục đích như trước còn nhấn mạnh việc cung cấp dữ liệu đủ độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực của học sinh để các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp sử dụng trong tuyển sinh theo tinh thần tự chủ.
Điều này theo ông Hồng khiến nhiều người vẫn hiểu đây là kỳ thi "2 trong 1".
Trong khi về bản chất theo quy định của Luật Giáo dục thực chất chỉ là kỳ thi tốt nghiệp THPT, nên cần hiểu rõ việc sử dụng kết quả thi.
"Trước đây tổ chức kỳ thi đại học mỗi năm tạo áp lực lớn, là gánh nặng cho người học. Hiện học sinh đã tham gia các kỳ thi đánh giá năng lực ở các trường đại học chiếm tỉ trọng cao. Nếu áp dụng như các trường đại học đang thực hiện, một năm thi nhiều lần, đánh giá nhiều lần thì sẽ giảm được áp lực cho thí sinh", TS Hồng phân tích.
Tuy nhiên thí sinh ở vùng khó khăn, vùng xa, vùng sâu chưa tham gia được nhiều. Vì vậy muốn kỳ thi làm căn cứ để có kết quả xét tuyển đại học, các trường đại học cần xây dựng các kỳ thi tuyển sinh rộng khắp, công bằng, khách quan và không thiên kiến cho đối tượng nào.
Một giáo viên THPT ở TP.HCM cho rằng cần nhất là kỹ thuật khảo thí, đầu tư công nghệ, camera giám sát phòng thi để loại bỏ tốt nhất những tiêu cực dù là kỳ thi nào. Chuyện "2 trong 1" hay tách thành các kỳ thi khác nhau không phải là "nút mở" cho vấn đề này.
TS Hoàng Ngọc Vinh, chuyên gia giáo dục, nhìn nhận đề xuất tách thành 2 kỳ thi từ câu chuyện gian lận ở Tuyên Quang là chỉ Tuyên Quang hay có thể ở một vài nơi khác có tiêu cực do kỳ thi "2 trong 1" mà thay đổi tách thành 2 kỳ thi?
Theo ông, vấn đề phải tính đến giải pháp trọng tâm là chính sách, kỹ thuật khảo thí và con người. Gốc của vấn đề nằm ở chính sách thi và xét tuyển còn nhiều bất hợp lý, trong khi công tác khảo thí vẫn vận hành bằng một đội ngũ chủ yếu làm kiêm nhiệm, mùa vụ, thiếu chuẩn nghề nghiệp, thiếu công nghệ và thiếu cơ chế giám sát độc lập đủ mạnh.
"Không thể cứ xảy ra một vụ việc nghiêm trọng là lại nghĩ đến chuyện tách kỳ thi. Tách hai kỳ thi là một thay đổi chính sách lớn, phải đánh giá đầy đủ tác động đến chi phí xã hội, áp lực học sinh, công bằng vùng miền, chất lượng tuyển sinh và nguy cơ luyện thi đại học nở rộ như trước đây. Không thể vì một nguyên nhân không cốt lõi mà chuyển hướng cả hệ thống", ông Vinh đánh giá.
Giải pháp, theo TS Hoàng Ngọc Vinh phải là cải cách tận gốc chính sách thi và xét tuyển, hiện đại hóa công nghệ khảo thí, xây dựng ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa, quản trị dữ liệu trước khi công bố điểm, giám sát độc lập và hình thành đội ngũ khảo thí chuyên nghiệp.
Còn TS Sái Công Hồng gợi ý các trường đại học liên kết theo khối ngành đào tạo để xây dựng đề thi, bài thi đánh giá năng lực để tuyển chọn đúng năng lực thí sinh.
"Cần đổi mới cái phương thức ra đề thi bằng ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa, thi trên máy tính, thi nhiều lần và chọn kết quả cao nhất để tránh gian lận", ông Hồng nêu giải pháp.