Là một đô thị đầu tàu, TP.HCM đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nơi các mô hình tăng trưởng truyền thống không còn đủ để tạo ra đột phá.
Trong đó, yếu tố then chốt không chỉ nằm ở kết nối nguồn lực nào (what), mà ở cách các nguồn lực này được kết nối, vận hành và cùng tạo ra giá trị trong một hệ sinh thái thống nhất, bền vững (how).
Một cách tiếp cận mới, có khả năng tích hợp nguồn lực Nhà nước, Nhà trường, Doanh nghiệp, Cộng đồng và Môi trường cùng kiến tạo ra giá trị dài hạn cho xã hội là vô cùng cần thiết.
Đây là chủ đề được bàn luận tại Hội nghị Đối tác UEH Partnerships Summit 2026 do Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) tổ chức, hướng đến cột mốc 50 năm thành lập (1976-2026).
UEH chính thức giới thiệu sáng kiến mới, định vị lại cách thức các bên cùng tham gia và tạo ra giá trị lâu dài cho đô thị, cộng đồng và tương lai: Hệ sinh thái hợp tác đa phương: Đồng kiến tạo giá trị vì tương lai bền vững (UEH Co-Creation Ecosystem for Sustainable Impact).
Đây là một mô hình hợp tác đa phương, liên kết các bên gồm Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp – Cộng đồng – Môi trường tự nhiên. Khác với các hình thức hợp tác truyền thống, mô hình này không phối hợp rời rạc mà tạo ra một cơ chế hòa nhịp chung “cùng xác định vấn đề – đồng thiết kế giải pháp – đồng triển khai – đồng tạo giá trị”. Trong đó:
● Nhà trường: đóng vai trò hạt nhân tri thức, dẫn dắt tri thức thông quan đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao;
● Chính phủ: Kiến tạo chính sách và thể chế cho đổi mới;
● Doanh nghiệp: là động lực phát triển kinh tế, mang giải pháp kinh doanh, công nghệ vào thực tiễn đời sống;
● Cộng đồng: Đồng sáng tạo, phản ánh nhu cầu thực tế;
● Môi trường tự nhiên: Định hướng các giải pháp phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường.
Thông qua đó, hợp tác được chuyển dịch: từ phối hợp sang đồng kiến tạo, từ giá trị riêng lẻ của từng bên sang giá trị chung cho xã hội và tương lai bền vững.
UEH với vai trò là điều phối (orchestrator) kết nối các bên liên quan, UEH đưa ra khung 05 trụ cột đồng kiến tạo:
Co-Education – Cùng đào tạo và kiến tạo trải nghiệm thực tiễn: Doanh nghiệp, tổ chức và UEH cùng tham gia thiết kế chương trình đào tạo, học phần và trải nghiệm học tập, gắn chặt với thực tiễn và sự thay đổi của thị trường. Co-Research & Knowledge Transfer – Đồng nghiên cứu và chuyển giao tri thức: Các bên cùng xác định vấn đề, triển khai nghiên cứu ứng dụng, tư vấn chính sách và giải pháp thực tiễn, đưa tri thức học thuật vào giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp, địa phương và xã hội.
Co-Talent Pipeline – Cùng nuôi dưỡng nguồn nhân lực và thiết kế hệ sinh thái nghề nghiệp: Hợp tác không chỉ dừng lại ở tuyển dụng, mà hướng đến phát triển một dòng chảy nhân tài bền vững, trong đó doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình đào tạo và phát triển năng lực người học. Co-Innovation – Cùng ươm tạo sáng kiến và giải pháp đổi mới: UEH cùng các đối tác phát triển, thử nghiệm và triển khai các sáng kiến đổi mới sáng tạo, kết nối hệ sinh thái startup, công nghệ và giải pháp thực tiễn. Co-Investing & Giving for Future Impact – Cùng đầu tư nguồn lực và chung tay vì tương lai: Các bên cùng đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu, không gian học tập, sáng kiến cộng đồng và phát triển bền vững, chuyển từ các hoạt động tài trợ ngắn hạn sang các cam kết dài hạn tạo tác động.
UEH hướng đến xây dựng Hệ sinh thái hợp tác đa phương – đồng kiến tạo giá trị vì tương lai bền vững – Ảnh: UEH
Hội nghị UEH Partnerships Summit 2026 là dấu mốc chuyển tiếp từ chương trình hợp tác “Kết nối cộng đồng – Lan tỏa tri thức – Hành động bền vững” (2020-2025) sang Hệ sinh thái hợp tác đa phương: Đồng kiến tạo giá trị vì tương lai bền vững (2026-2030).
Sau 5 năm triển khai, chương trình đã hình thành một nền tảng hợp tác quy mô lớn với hơn 1.500 đối tác, gần 2.000 hoạt động hợp tác, hơn 213 tỉ đồng học bổng được trao cho trên 16.000 người học, cùng hàng ngàn cơ hội thực tập, việc làm và trải nghiệm thực tiễn.
Quan trọng hơn, từ nền tảng này, một hệ sinh thái hợp tác thực chất đã được hình thành, là thời điểm thuận lợi để nâng cấp và tạo giá trị dài hạn hơn.
Điểm nhấn chuyên môn của Hội nghị là phiên tọa đàm “From Partnership to Co-Creation” với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp lớn như ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM; bà Phạm Quỳnh Trân – đại diện Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW); ông Phạm Hồng Hải – Tổng Giám đốc Ngân hàng OCB; ông Phạm Quang Chiến – Phó Tổng Giám đốc Citek; bà Đào Khánh Chi – Trưởng ban Nhân sự Tập đoàn Sun Group và PGS.TS. Trịnh Tú Anh – Viện trưởng Viện Đô thị thông minh và Quản lý UEH dẫn dắt,
Tại phiên thảo luận, các diễn giả chia sẻ góc nhìn từ quản lý, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, tập trung làm rõ vai trò của “đồng kiến tạo” như một yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh mới: từ việc doanh nghiệp tham gia sâu vào đào tạo, phối hợp sớm trong phát triển nguồn nhân lực, đến việc gắn nghiên cứu với chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo mô hình mở và định hướng đầu tư dài hạn cho giáo dục.
PGS.TS. Bùi Quang Hùng – Phó Giám đốc phụ trách Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh – chia sẻ: “Giá trị của hợp tác không chỉ nằm ở số lượng hoạt động, hay những kết quả có thể đo đếm được, mà nằm ở chất lượng của mối quan hệ và đặc biệt là những giá trị được tạo ra trong suốt quá trình đồng hành và đọng lại khi kết thúc.
Vì vậy, UEH Partnerships Summit 2026 không chỉ là một sự kiện tổng kết, mà là điểm khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới – nơi giáo dục, doanh nghiệp và chính quyền cùng kiến tạo giá trị trong một hệ sinh thái chung”.
Từ nền tảng 50 năm, trường tiếp tục khẳng định vai trò cầu nối tri thức và trung tâm liên kết hệ sinh thái, góp phần định hình mô hình phát triển mới cho TP.HCM và hướng đến các giá trị bền vững trong tương lai.
Ngày 29-4, Đại học Kinh tế TP.HCM chính thức công bố thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026, với tổng chỉ tiêu gần 8.900 sinh viên cho hai cơ sở đào tạo tại TP.HCM và Vĩnh Long, theo phương thức xét tuyển tích hợp với 95% chỉ tiêu.
Năm nay điểm đáng chú ý nhất trong tuyển sinh đại học chính quy của Đại học Kinh tế TP.HCM là việc nhà trường khi điều chỉnh phương thức tuyển sinh, chuyển sang xét tuyển tích hợp làm chủ đạo.
Phương thức 1 - Xét tuyển thẳng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (5% chỉ tiêu). Đối tượng gồm: Anh hùng lao động/lực lượng vũ trang, chiến sĩ thi đua toàn quốc; thí sinh đoạt giải nhất - nhì - ba học sinh giỏi quốc gia/quốc tế (trong vòng 3 năm); thí sinh giải khoa học kỹ thuật quốc gia/quốc tế; người nước ngoài; du học sinh Việt Nam tốt nghiệp THPT nước ngoài; thí sinh dân tộc thiểu số rất ít người; thí sinh khuyết tật nặng.
Phương thức 2 - Xét tuyển tích hợp (95% chỉ tiêu) kết hợp điểm thi (tốt nghiệp THPT, đánh giá năng lực, V-SAT) và học bạ THPT.
Cách tính điểm xét tuyển được thiết kế riêng theo từng nhóm đối tượng, trong đó công thức chính với thí sinh học chương trình Việt Nam:
Điểm xét tuyển = Điểm thi x 60% + Điểm trung bình các năm học THPT x 40% + Điểm cộng (nếu có) + Điểm ưu tiên khu vực, đối tượng (nếu có)
Trong đó, điểm thi: xét 1 trong các kỳ thi có điểm quy đổi tương đương cao nhất (kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, có kết quả các môn thi theo tổ hợp xét tuyển của nhà trường, hoặc kỳ thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2026, hoặc kỳ thi đánh giá đầu vào đại học trên máy tính V-SAT (áp dụng cho mã xét tuyển KSV).
Điểm trung bình (ĐTB) các năm học THPT = (ĐTB cả năm lớp 10x1 + ĐTB cả năm lớp 11x2 + ĐTB cả năm lớp 12x3)/6
Nhà trường cộng điểm cho thí sinh có giải học sinh giỏi, học trường chuyên hoặc có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế.
Thí sinh cần theo dõi chi tiết quy đổi điểm và mốc xét tuyển sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT 2026.
Năm 2026, Đại học Kinh tế TP.HCM dành 8.240 chỉ tiêu cơ sở TP.HCM, tại Vĩnh Long 650 chỉ tiêu; trong đó tất cả sinh viên tại Vĩnh Long đều luân chuyển học tập năm cuối tại TP.HCM.
Nhà trường tuyển sinh 82 chương trình tại TP.HCM và 15 chương trình tại Vĩnh Long, trải rộng trên 12 lĩnh vực như: kinh doanh và quản lý, luật, toán và thống kê, máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật ứng dụng, kiến trúc và xây dựng, du lịch - khách sạn, dịch vụ vận tải, nhân văn, khoa học xã hội và hành vi…
Đặc biệt nhà trường mở thêm 8 chương trình đào tạo mới gắn với chuyển đổi số và thị trường quốc tế, như: kinh tế chính trị quốc tế, công nghệ logistics (tích hợp chứng chỉ FIATA), sản xuất thông minh, AI for Business, kiến trúc và thiết kế đô thị thông minh, luật và luật thương mại quốc tế…
Đáng chú ý trường tăng mạnh các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh toàn phần và song bằng quốc tế, đồng thời giảm dần chỉ tiêu chương trình tiếng Việt.
Đại học Kinh tế TP.HCM áp dụng cơ chế học phí theo tín chỉ, tạo điều kiện để sinh viên chủ động lập kế hoạch tốt nghiệp sớm phù hợp với năng lực cá nhân.
Mức học phí tín chỉ khác nhau dựa trên các tiêu chí: chương trình đào tạo thuộc khối ngành nào, có kiểm định chất lượng quốc tế hay chưa, ngôn ngữ đào tạo, thời gian đào tạo và cơ sở đào tạo tại TP.HCM hay Vĩnh Long.
Mức học phí trung bình năm học 2026-2027 tại cơ sở TP.HCM: 40-50 triệu đồng/năm (chương trình tiếng Việt); 55-75 triệu đồng/năm (chương trình tiếng Anh); 70-80 triệu đồng/năm (song bằng, Co-op).
Học phí tại phân hiệu Vĩnh Long tương đương 60% học phí tại TP.HCM. Lộ trình điều chỉnh học phí hằng năm không quá 10%.
Năm 2026, nhà trường dành tổng ngân sách học bổng hàng chục tỉ đồng nhằm thu hút và hỗ trợ tân sinh viên xuất sắc, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và sinh viên quốc tế, áp dụng tại cả hai cơ sở đào tạo TP.HCM và Vĩnh Long, gồm: 570 suất tại TP.HCM (tối đa 27 triệu đồng/suất); học bổng ưu tiên ngành công nghệ, kỹ thuật; hỗ trợ sinh viên khó khăn và sinh viên quốc tế (có thể miễn 100% học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí).
Thông tin tuyển sinh Đại học Kinh tế TP.HCM xem chi tiết tại đây.
Chính phủ Phần Lan tuần trước công bố các đề xuất mới để xử lý tình trạng khó khăn về tài chính của sinh viên quốc tế ngoài EU và EEA (Khu vực Kinh tế châu Âu).
Theo đó, nhóm này sẽ bị hủy giấy phép cư trú nếu nhận trợ cấp xã hội, dù chỉ một lần, thay vì rơi vào diện được xem xét hoàn cảnh như hiện nay. Thay đổi này sẽ có hiệu lực từ mùa thu tới, nếu được thông qua.
Ông Matias Marttinen, Bộ trưởng Việc làm Phần Lan, cho rằng quy định mới nhằm đảm bảo du học sinh tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cư trú, vì lợi ích chung. Họ cần chứng minh khả năng tự trang trải chi phí sinh hoạt để được giữ giấy phép, nên việc nhận trợ cấp bị coi là không đáp ứng điều kiện.
Từ tháng 9/2023 đến cuối năm ngoái, hệ thống giám sát của cơ quan di trú Phần Lan ghi nhận hơn 300 sinh viên xin trợ cấp xã hội, trên tổng số 37.000 giấy phép cư trú được rà soát. Giới chức muốn giảm thiểu tối đa con số này.
Một số đề xuất khác cũng nhằm ngăn ngừa rủi ro tài chính với du học sinh ngay từ sớm. Cụ thể, người thân của họ chỉ được phép nộp đơn xin cư trú sau khi con em đã sống tại Phần Lan ít nhất một năm, có cái nhìn thực tế về mức chi phí sinh hoạt đắt đỏ ở đây.
Ngoài ra, Phần Lan sẽ ra quy định cụ thể về mức tài chính của du học sinh (bằng euro) thay vì hướng dẫn chung như hiện nay, kèm yêu cầu về trình độ ngoại ngữ để chặn các trường hợp "mượn danh" du học.
Phần Lan có khoảng 22.000 sinh viên quốc tế, trong đó người Việt khoảng 2.000, theo số liệu năm 2023 của chính phủ nước này. Nhóm ngoài EU/EEA hiện phải chi trả mức học phí dao động 8.000-20.000 euro/năm (246 - 615 triệu đồng), tùy ngành học và cơ sở đào tạo.
Thông tin được nêu trong báo cáo "UK TNE tại Đông Á" được Hội đồng Anh công bố mới đây. Cụ thể, đơn vị này thông tin có 13.285 người Việt theo học các chương trình UK TNE trong năm học 2024-2025, tăng 785 người so với năm học trước đó. Mức này đưa nước ta vào top 5 thị trường đông người học UK TNE nhất khu vực Đông Á và xếp thứ 14 thế giới.
Ngoài ra, tính riêng năm học 2023-2024, UK TNE ở Việt Nam góp tới 80% tăng trưởng tại khu vực Đông Nam Á.
UK TNE là khái niệm chỉ các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục Anh được triển khai ngoài lãnh thổ Anh thông qua đa dạng hình thức như mở phân hiệu tại nước ngoài, liên kết đào tạo với trường nước sở tại hay đào tạo từ xa...
Một xu hướng đáng chú ý là vào trước Covid-19, Đông Á là nơi có 4/5 thị trường UK TNE lớn nhất thế giới, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Hồng Kông. Tuy vậy, vào năm học 2024-2025, bức tranh đã đổi thay khi sinh viên các khu vực này học UK TNE phần lớn đều chững lại, làm thứ hạng toàn cầu của 3/4 thị trường - trừ Trung Quốc - đều sụt giảm so với trước đại dịch.
Việt Nam là một "ngoại lệ đáng chú ý" trong xu hướng này, báo cáo nhận định, vì số lượng người Việt theo đuổi các chương trình UK TNE đã tăng hơn gấp ba từ sau Covid-19. "Nhiều khả năng" nước ta sẽ vượt Hồng Kông, trở thành thị trường lớn thứ 4 của UK TNE ở Đông Á trong những năm tới, báo cáo nêu.
Một yếu tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng này là số chương trình UK TNE đang được vận hành ở Việt Nam. Theo dữ liệu tính tới tháng 6.2025 của Bộ GD-ĐT, Anh đang dẫn đầu số lượng chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục tại Việt Nam với 70 chương trình, theo sau là Úc (56), Pháp (55), Mỹ (50) và một số quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, số chương trình liên kết đào tạo của Anh thời điểm trên lại giảm 50 so với cùng kỳ năm 2024.
Một dữ liệu đáng chú ý khác được Hội đồng Anh nêu trong báo cáo là số lượng người Việt "du học tại chỗ" các chương trình UK TNE đang cao gấp 3,57 lần số chọn du học trực tiếp tại Anh trong năm học 2024-2025. Tỷ lệ này cũng tăng đều trong thời gian qua, chỉ ra thực tế nhu cầu về bằng cấp Anh vẫn hiện diện nhưng xu hướng đã đảo chiều từ du học trực tiếp tại Anh thành "du học tại chỗ" ngay tại Việt Nam.
Thống kê từ Cơ quan thống kê giáo dục ĐH Anh xác nhận điều này. Cụ thể, năm học 2024-2025 có 3.675 người Việt du học Anh, tăng nhẹ so với năm ngoái (3.515). Tuy vậy, nếu so với cách đây 10 năm vào 2014-2015, mức này chỉ mới bằng 87,5% (4.200). Một điểm đáng chú ý khác là số lượng người Việt du học Anh giảm đều từ giai đoạn 2014-2015 và chỉ mới tăng đều trở lại từ 2021-2022 tới nay.
Đối lập, số lượng người Việt theo học các chương trình UK TNE cách đây 5 năm vào 2019-2020 đã đạt 3.780, vẫn nhỉnh hơn số du học Anh ở thời điểm hiện tại. Và trái ngược với số du học Anh vẫn xoay quanh mốc 3.000-4.000 trong thập kỷ qua, số lượng học UK TNE đã sớm bứt phá mốc 10.000 được vài năm.
"Ngày càng nhiều sinh viên trong khu vực hoàn thành các chương trình UK TNE mà không cần nhập học trực tiếp ở Anh", báo cáo nêu, cho biết thêm 2024-2025 còn lần đầu ghi nhận số người học từ Đông Á đăng ký chương trình UK TNE gần tương đương với số người học khu vực này đang theo đuổi các khóa đào tạo trực tiếp tại Anh.
Trên bình diện quốc tế, báo cáo ghi nhận hiện có 212.600 người học Đông Á theo đuổi các chương trình UK TNE, tăng 5,6% so với năm trước và tăng 36% nếu so với thời điểm trước Covid-19. Riêng 5 thị trường hàng đầu góp đến 95% số lượng, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông và Việt Nam.
Bà Hoàng Vân Anh, Giám đốc Chương trình giáo dục của Hội đồng Anh tại Việt Nam, chia sẻ với Thanh Niên rằng kết quả báo cáo "cho thấy triển vọng tích cực" với cả khu vực Đông Á và Việt Nam. Nước ta hiện là một trong 3 trung tâm TNE hàng đầu trong khu vực Đông Á và sự tăng trưởng này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của TNE trong quá trình hỗ trợ quốc tế hóa giáo dục ĐH của Việt Nam, theo bà Vân Anh.
"Điều này còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm giáo dục quốc tế", bà Vân Anh nói, cho biết thêm Hội đồng Anh đã phối hợp cùng các bên thành lập Mạng lưới Hợp tác TNE Anh-Việt (UK-Viet Nam EmpowerTNE) hồi cuối năm ngoái nhằm phát triển hệ sinh thái TNE bền vững, chất lượng tại Việt Nam.
Trước đó, trao đổi với Thanh Niên bên lề tuần lễ giáo dục Đông Á tổ chức ở Indonesia hồi tháng 2, bà Jazreel Goh, tác giả báo cáo nêu trên, hiện đảm nhận vị trí Giám đốc Trung tâm phân tích giáo dục Đông Á thuộc Hội đồng Anh kiêm Giám đốc Hội đồng Anh tại Malaysia, nhận định từ sau Covid-19, ngày càng nhiều sinh viên Đông Á trong đó có Việt Nam muốn học gần nhà hơn. Đây cũng là tiền đề để các chương trình UK TNE phát triển.
Hai xu hướng đáng chú ý khác, theo bà Goh, là nhu cầu du học các điểm đến nói tiếng Anh như Anh, Úc, Mỹ... vẫn còn dư địa tăng trưởng, song song đó là người học đang ngày càng quan tâm tới các ngành về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ máy tính và những lĩnh vực tương tự.
Bà Goh cho biết thêm, việc triển khai UK TNE tại Việt Nam không chỉ giúp người học Việt tiếp cận các chương trình đào tạo chuẩn quốc tế, mà còn là cơ hội để đào tạo và nâng chuẩn đội ngũ giảng viên nội địa. Đây cũng là động lực góp phần quốc tế hóa giáo dục ĐH ở Việt Nam, tạo tiền đề để Việt Nam xuất khẩu giáo dục ra thế giới - nhất là với những người bạn láng giềng như Lào và Campuchia.
"Tôi tin chúng ta còn chứng kiến nhiều mô hình hợp tác TNE hơn nữa trong tương lai, thay vì chỉ dừng ở việc gửi sinh viên ra nước ngoài du học", bà nói.
Theo phân loại của Hội đồng Anh, khu vực Đông Á bao gồm các thị trường: Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.