Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố thông tin chi tiết về kết quả tuyển sinh đại học năm 2025, trong đó có các con số đáng chú ý về việc lựa chọn nhóm ngành của thí sinh, tại hội nghị tuyển sinh khối đại học diễn ra sáng nay 20-4 tại TP.HCM.
Theo Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), trong số 681.688 thí sinh trúng tuyển và nhập học vào các trường đại học, cao đẳng sư phạm năm 2025, nhóm ngành kinh doanh và quản lý tiếp tục dẫn đầu với hơn 146.000 tân sinh viên, tỉ lệ 21%, giảm nhẹ so với mức 25% của năm trước đó.
Đây là nhóm ngành đang được đào tạo tại nhiều trường đại học với các ngành kinh doanh quốc tế, quản trị kinh doanh, tài chính – ngân hàng, kế toán – kiểm toán, marketing…
Bên cạnh đó, 4 lĩnh vực có số lượng thí sinh nhập học nhiều nhất năm qua gồm nhóm ngành công nghệ kỹ thuật với hơn 72.500 thí sinh nhập học (chiếm 10,6%, tăng hơn 1%); nhân văn (9,6%), máy tính và công nghệ thông tin (9,2%) và sức khỏe (7,8%).
Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 44 ngành đào tạo thuộc nhóm công nghệ chiến lược tuyển sinh hơn 150.450 thí sinh chiếm khoảng 22%, là con số “khởi sắc”.
Điều này thể hiện khi chính sách đi vào cuộc sống đã hấp dẫn thí sinh về nguồn tuyển, chất lượng (điểm chuẩn) và số lượng đăng ký xét tuyển. Tỉ lệ nhập học năm 2025 ở nhóm ngành này cũng tăng ở nhiều lĩnh vực, như máy tính và công nghệ thông tin 41%, công nghệ kỹ thuật 34%, kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật 25%, toán và thống kê 0,1%.
Ở chiều ngược lại, theo thống kê của bộ, có đến 12 nhóm ngành đào tạo có số quy mô tuyển sinh dưới 10.000 sinh viên/nhóm ngành.
Trong đó, nhóm ngành dịch vụ xã hội 3.179 sinh viên, thú y 3.522, dịch vụ vận tải 4.084, toán và thống kê 4.189, khoa học tự nhiên 4.699, khoa học sự sống 4.828 sinh viên. Đặc biệt một số ngành khác quy mô tuyển sinh năm qua chỉ vài trăm sinh viên.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, số thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2025 là 1.160.033, trong đó có hơn 681.000 thí sinh trúng tuyển đã nhập học đại học, cao đẳng ngành giáo dục mầm non, chiếm khoảng 59% số thí sinh dự thi tốt nghiệp.
Thống kê của Bộ cho thấy trong 4 năm gần đây, năm 2025 là năm có tỉ lệ thí sinh nhập học/chỉ tiêu cao nhất (90%).
Tỉ lệ cơ sở đào tạo có thí sinh nhập học từ 80% năm 2025 là 76% (năm 2024 là 71,38%).
Riêng nhóm ngành đào tạo giáo viên tăng mạnh về điểm chuẩn và số lượng đăng ký xét tuyển, tỉ lệ nhập học 2025.
Bậc cao đẳng 6.502 sinh viên, tỉ lệ nhập học 95,9%; đại học 35.897 sinh viên, tỉ lệ nhập học 95,3%.
Đánh giá về các phương thức xét tuyển chính năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết phương thức xét tuyển bằng kết quả học tập bậc THPT (học bạ) có xu hướng giảm xuống so với năm 2024. Đáng chú ý, nhiều phương thức không có thí sinh nhập học.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo – Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), có trên 200 lượt phương thức xét tuyển của các cơ sở đào tạo không có thí sinh xác nhận nhập học; 98 lượt phương thức xét tuyển của các cơ sở đào tạo chỉ có dưới 10% thí sinh nhập học so với chỉ tiêu.
“Việc có quá nhiều phương thức tuyển sinh gây nhiễu thông tin. Nhiều phương thức xét tuyển không có hoặc rất ít thí sinh đăng ký. Thực tế cho thấy chưa đảm bảo công bằng giữa các phương thức xét tuyển. Nhiều cơ sở đào tạo chưa phân tích tương quan, đánh giá đối sánh kết quả học tập của sinh viên theo các phương thức xét tuyển”, ông Thảo nhận định.
Chính vì vậy, Bộ đã yêu cầu các trường rà soát để loại bỏ phương thức xét tuyển không hiệu quả trong mùa tuyển sinh năm nay.
Đó là liệu việc đề thi đánh giá năng lực tham khảo các nguồn câu hỏi quốc tế có phù hợp hay không; và không công bố đề thi và đáp án sau kỳ thi có phải là một thực tiễn hợp lý trong khảo thí hiện đại hay không?
Trước hết, cần phân biệt rõ giữa một công trình nghiên cứu khoa học và một bài thi đánh giá năng lực. Mục tiêu của một công trình nghiên cứu là tạo ra tri thức mới, trong khi mục tiêu của một bài thi là đo lường chính xác năng lực của người dự thi. Vì vậy, tiêu chí đánh giá chất lượng của một bài thi không phải là mức độ nguyên bản của từng câu hỏi mà là khả năng đánh giá đúng năng lực cần đo lường, bảo đảm độ tin cậy, độ giá trị và khả năng phân hóa thí sinh.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và tham khảo các nguồn câu hỏi quốc tế là một yêu cầu mang tính chuyên môn. Các kỳ thi như LSAT, GRE, SAT, GMAT hay CAT đã được phát triển và hoàn thiện trong nhiều thập niên, trở thành những chuẩn mực quan trọng trong lĩnh vực khảo thí đánh giá năng lực. Việc tham khảo các mô hình câu hỏi, cấu trúc đánh giá và kỹ thuật xây dựng ngữ liệu từ các kỳ thi này giúp đơn vị tổ chức tiếp cận những phương pháp đo lường tiên tiến, đồng thời nâng cao chất lượng và độ tin cậy của bài thi.
Đối với các câu hỏi thuộc nhóm Logical Reasoning hay Analytical Reasoning, số lượng mô hình suy luận thực chất không nhiều. Phần lớn các câu hỏi đều được xây dựng trên các dạng cơ bản như phân nhóm, sắp xếp thứ tự, suy luận điều kiện, loại trừ hoặc xác định khả năng xảy ra. Do đó, việc xuất hiện những câu hỏi có cấu trúc logic tương đồng với các nguồn quốc tế là điều hoàn toàn bình thường.
Điều quan trọng không phải là hình thức bên ngoài của câu hỏi mà là quá trình cải biên, Việt hóa, điều chỉnh dữ kiện, xây dựng phương án trả lời và tích hợp vào hệ thống đánh giá phù hợp với đối tượng dự thi.
Nếu xem việc tham khảo các nguồn quốc tế là không phù hợp thì trên thực tế sẽ rất khó xây dựng được một kỳ thi đánh giá năng lực đạt chuẩn. Trong lĩnh vực khảo thí, học hỏi từ những mô hình đã được kiểm chứng là con đường ngắn nhất để tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Vấn đề cần quan tâm không phải là có tham khảo hay không, mà là tham khảo như thế nào, cải biên đến mức độ nào và liệu sản phẩm cuối cùng có đáp ứng mục tiêu đánh giá năng lực hay không.
Một vấn đề khác cũng được dư luận quan tâm là việc không công bố đề thi và đáp án. Từ góc độ khảo thí, đây là một chính sách hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt đối với các kỳ thi được tổ chức nhiều đợt trong năm. Nhiều tổ chức khảo thí lớn trên thế giới không công bố toàn bộ đề thi và đáp án của tất cả các đợt thi nhằm bảo vệ ngân hàng câu hỏi, duy trì khả năng tái sử dụng các câu hỏi đã được chuẩn hóa và bảo đảm tính ổn định của hệ thống đánh giá.
Nếu toàn bộ đề thi và đáp án được công bố sau mỗi đợt thi, ngân hàng câu hỏi sẽ nhanh chóng bị lộ, làm giảm đáng kể khả năng phân hóa của kỳ thi. Khi đó, các trung tâm luyện thi có thể tập trung huấn luyện theo từng câu hỏi hoặc từng bộ đề cụ thể, khiến kết quả thi phản ánh mức độ luyện tập đối với một nguồn tài liệu hơn là phản ánh năng lực thực chất của thí sinh. Điều này đi ngược lại mục tiêu cốt lõi của các kỳ thi đánh giá năng lực.
Không công bố đề thi không đồng nghĩa với thiếu minh bạch. Minh bạch trong khảo thí hiện đại được thể hiện thông qua quy trình xây dựng đề thi, cơ chế phản biện và thẩm định độc lập, việc kiểm soát chất lượng câu hỏi, các chỉ số kỹ thuật đo lường và cơ chế giải quyết khiếu nại. Khi các quy trình này được thực hiện nghiêm túc, chất lượng và độ tin cậy của kỳ thi không phụ thuộc vào việc công khai từng câu hỏi cụ thể sau mỗi lần tổ chức thi.
Nhìn từ góc độ khảo thí đánh giá năng lực, việc tham khảo các nguồn quốc tế để xây dựng câu hỏi và việc không công bố đề thi, đáp án sau kỳ thi đều là những lựa chọn có cơ sở chuyên môn vững chắc.
Mục tiêu cuối cùng của một kỳ thi đánh giá năng lực không phải là tạo ra những câu hỏi hoàn toàn chưa từng xuất hiện ở bất kỳ đâu, mà là xây dựng được một công cụ đo lường chính xác, công bằng và đáng tin cậy để đánh giá năng lực của thí sinh. Khi mục tiêu đó được bảo đảm thông qua một quy trình biên soạn, phản biện và thẩm định chặt chẽ, việc tham khảo các mô hình quốc tế và bảo mật ngân hàng câu hỏi không chỉ là lựa chọn hợp lý mà còn là điều cần thiết để duy trì chất lượng của kỳ thi trong dài hạn.
Em Hồ Tô Minh Hoàng, lớp 9.1 Trường THCS Vũng Tàu (phường Vũng Tàu), cho biết đề thi tiếng Anh quá dễ. Dù đề thi làm 90 phút nhưng Hoàng cho hay chỉ mất hơn 20 phút để hoàn thành bài thi.
Trong kỳ thi lớp 10 năm học 2026 – 2027, Hoàng chọn thi chuyên môn toán. Hoàng nói có chị gái đang học chuyên toán tại Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn nên em cũng cố gắng thi để đậu vào trường cùng học với chị.
Cũng nhận định đề thi tiếng Anh khá dễ, em Trần Minh Trí, học sinh lớp 9.4 Trường THCS Nguyễn Gia Thiều (phường Phước Thắng), cho biết mình dễ dàng đạt hơn điểm 9, có thể là điểm 10.
Theo Trí, trong đề thi tiếng Anh, có dạng bài đọc là hơi khó nhưng cũng không để cho em tốn nhiều công sức để hoàn thành. Trí cho biết chỉ hơn 30 phút đã làm xong bài thi.
Học sinh lớp 9.1 Trường THCS Thắng Nhất (phường Rạch Dừa) Hoàng Nam Phong cũng cho biết chỉ mất hơn 30 phút để hoàn thành bài thi môn tiếng Anh. Phong nói em cũng dễ dàng kiếm điểm 9 hoặc hơn điểm này ở môn tiếng Anh.
Đây là lần đầu tiên sau sáp nhập, học sinh khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) làm đề thi lớp 10 môn ngữ văn theo định dạng của TP.HCM. Theo đó, toàn bộ học sinh không phân biệt khu vực 1 (TP.HCM cũ), khu vực 2 (Bình Dương cũ) hay khu vực 3 (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ) đều thực hiện theo đề thi chung do Hội đồng biên soạn đề thi của Sở GD-ĐT đảm trách.
Nội dung đề thi biên soạn theo định hướng kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tế. Riêng mức độ các câu hỏi mang tính chất phân hóa, sở sẽ tính toán cho phù hợp với tình hình thực tế sau sáp nhập.
Chiều 7.5, tại Trung tâm T-TEP (chương trình đào tạo kỹ thuật viên Toyota), Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức bế giảng, trao chứng chỉ cho học viên các khóa đào tạo kỹ thuật viên Toyota và đồng thời khai giảng các khóa đào tạo tiếp theo.
Tham dự chương trình có đại diện lãnh đạo Toyota Việt Nam, lãnh đạo các đại lý Toyota khu vực phía nam; đại diện Ban giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, lãnh đạo các đơn vị, giảng viên cùng đông đảo sinh viên Khoa Cơ khí động lực.
Tại buổi lễ, nhà trường đã trao chứng chỉ kỹ thuật viên Toyota cho 40 học viên, trong đó có trên 90% học viên được tuyển dụng vào làm việc tại các đại lý Toyota ngay sau quá trình đào tạo và thực tập. Kết quả này cho thấy hiệu quả rõ nét của mô hình đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời khẳng định năng lực đào tạo thực hành của Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trong lĩnh vực kỹ thuật ô tô.
Chương trình đào tạo kỹ thuật viên Toyota gồm 2 định hướng chuyên sâu, được Công ty ô tô Toyota Việt Nam và Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long triển khai từ năm 2017 với chương trình sửa chữa chung (cơ khí, điện - điện tử ô tô) và năm 2019 với chương trình sửa chữa thân xe - sơn. Mô mô hình đào tạo gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp, hướng đến mục tiêu hình thành đội ngũ kỹ thuật viên có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường lao động ngành ô tô.
Theo đó, học viên được đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ thuật của Toyota Việt Nam với thời lượng kết hợp giữa học tập chuyên môn tại trường trong thời gian 2 tháng và thực tập thực tế tại các đại lý Toyota từ 3 - 4 tháng. Mô hình này giúp học viên nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng với môi trường làm việc thực tế.
Việc hợp tác đào tạo giữa Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long và Toyota Việt Nam không chỉ mở rộng cơ hội việc làm cho sinh viên mà còn góp phần cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho khu vực ĐBSCL và cả nước. Đồng thời, đây cũng là minh chứng cho định hướng đào tạo ứng dụng, lấy nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động làm trung tâm mà nhà trường đang thực hiện.