Ahmad Vahidi, cựu bộ trưởng quốc phòng và nội vụ Iran, ngày 1/3 được bổ nhiệm làm tư lệnh lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), ngay sau khi xung đột Trung Đông nổ ra.
IRGC là lực lượng đặc thù trong cấu trúc “quân đội song song” độc nhất vô nhị của Iran. Thay vì xây dựng một lực lượng thống nhất, Iran duy trì hai tổ chức vũ trang gồm IRGC và quân đội chính quy, hoạt động độc lập với nhau với hệ thống chỉ huy riêng. IRGC có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạch định chính sách an ninh, đồng thời sở hữu những khí tài mạnh mẽ. Lãnh đạo IRGC báo cáo trực tiếp cho Lãnh tụ Tối cao, trong khi quân đội Iran chịu quản lý của chính phủ. Với vị thế này, IRGC có ảnh hưởng về mặt chính trị lớn hơn cả quân đội.
Tuy nhiên, lãnh đạo IRGC là một công việc nguy hiểm. Qassem Soleimani, người từng là chỉ huy lâu năm của lực lượng Quds tinh nhuệ thuộc IRGC, đã thiệt mạng trong cuộc không kích bằng máy bay không người lái (UAV) của Mỹ vào Iraq năm 2020 theo lệnh từ Tổng thống Donald Trump.
Mohammad Pakpour, cựu tư lệnh IRGC, cũng thiệt mạng khi Mỹ – Israel mở chiến dịch không kích Iran ngày 28/2. Pakpour mới được bổ nhiệm sau khi Israel hạ sát người tiền nhiệm của ông là tướng Hossein Salami trong cuộc chiến kéo dài 12 ngày hồi tháng 6 năm ngoái.
Việc ông Vahidi được bổ nhiệm làm lãnh đạo mới của IRGC không gây bất ngờ. Hồi tháng 12 năm ngoái, cố lãnh tụ tối cao Ali Khamenei đã đề bạt ông làm phó chỉ huy. Trước đó, ông từng giữ chức phó tổng tham mưu trưởng quân đội Iran.
Gia nhập IRGC từ những ngày đầu thành lập vào cuối thập niên 1970, Vahidi đã thăng tiến qua các cấp bậc trong những năm 1980, nắm giữ các vị trí chủ chốt trong ngành tình báo và quân đội. Ông đã lãnh đạo lực lượng Quds từ năm 1988 đến 1997.
Khác với hai người tiền nhiệm, sự nghiệp của Vahidi không thuần túy chỉ trong lĩnh vực quân sự. Ông từng nắm giữ các vai trò chính trị trong nội các, giữ chức bộ trưởng quốc phòng năm 2009 – 2013 dưới thời cựu tổng thống Mahmoud Ahmadinejad. Ông được bổ nhiệm làm bộ trưởng nội vụ dưới thời cố tổng thống Ebrahim Raisi năm 2021 – 2024.
Giới phân tích nhận định kinh nghiệm sâu rộng trong chính phủ và các cơ quan an ninh giúp Vahidi có tầm ảnh hưởng lớn trong bộ máy nhà nước. Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng ở thời điểm hiện tại, sau cái chết của nhiều lãnh đạo cấp cao Iran và các tướng lĩnh quân sự kỳ cựu.
Ali Alfoneh, chuyên gia về Iran tại Viện các Quốc gia vùng Vịnh Arab, tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington, nhận định Vahidi là “quan chức giàu năng lực”, người có nền tảng giúp ông trở thành một “lãnh đạo thời chiến then chốt, tổng chỉ huy lý tưởng của IRGC, tổ chức không đơn thuần là quân đội”.
Vào giữa thập niên 1980, Vahidi được cho là đã tham gia vào những cuộc liên lạc bí mật giữa đại diện Iran và các trung gian thân cận với chính quyền tổng thống Mỹ Ronald Reagan.
Những cuộc tiếp xúc này liên quan đến vụ bê bối Iran-Contra, trong đó, chính phủ Mỹ bí mật bán vũ khí cho Iran để giải thoát con tin, sau đó dùng số tiền này để tài trợ cho phiến quân Contra chống chính phủ Sandinista ở Nicaragua. Sự việc vi phạm lệnh cấm của quốc hội Mỹ, gây rúng động dư luận.
Chuyên gia Alfoneh đánh giá ông Vahidi là người “am hiểu” về Israel và Mỹ nhờ tham gia vào các cuộc đàm phán như vậy.
Quan điểm cứng rắn của giới lãnh đạo IRGC với Mỹ và Israel đang thể hiện rõ trong những diễn biến cuối tuần qua.
Ngày 17/4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi trong bài đăng trên mạng xã hội X tuyên bố eo biển Hormuz mở hoàn toàn cho các tàu thương mại. Động thái khiến giá dầu giảm và ngay lập tức nhận được sự hoan nghênh từ Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Tuy nhiên, lực lượng vũ trang Iran một ngày sau đó thông báo tái áp đặt hạn chế ở eo biển Hormuz. Hải quân IRGC cảnh báo các chủ tàu rằng mọi nỗ lực vượt eo biển mà không được cấp phép “sẽ phải đối mặt với phản ứng khốc liệt từ lực lượng Iran”. Một cố vấn cấp cao của IRGC cho biết lãnh đạo lực lượng này cảm thấy tức giận khi ông Araghchi đã không phối hợp với họ trước khi đưa ra tuyên bố.
Beni Sabti, chuyên gia về Iran tại Viện Nghiên cứu An ninh Quốc gia Israel, nhận định Vahidi hiện có thể sở hữu quyền lực vượt trội so với những quan chức tầm cỡ khác tại Tehran, bao gồm cả Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf.
Mohammad Ali Shabani, chủ biên hãng tin Amwaj ở Anh chuyên theo dõi Trung Đông, đánh giá rằng Vahidi còn “cứng rắn hơn cả những người tiền nhiệm”.
"Thiết giáp hạm chạy bằng năng lượng nguyên tử được thiết kế để tăng cường đáng kể năng lực chiến đấu cho hạm đội, do khả năng hoạt động bền bỉ hơn, tốc độ cao hơn và được trang bị các hệ thống vũ khí tiên tiến, cần thiết cho chiến tranh hiện đại", hải quân Mỹ cho biết trong kế hoạch đóng tàu thường niên được công bố hôm 11/5.
Quân chủng này thêm rằng vai trò chính của chiến hạm lớp Trump sẽ là cung cấp hỏa lực tầm xa với cường độ lớn, cũng như trở thành phương tiện chỉ huy tiền phương có khả năng sống sót cao. Nó không phải phương án thay thế tàu khu trục.
Ngoài các tàu sân bay, hải quân Mỹ không còn biên chế tàu mặt nước chạy bằng năng lượng nguyên tử kể từ những năm 1990, thời điểm tuần dương hạm USS Long Beach, hộ vệ hạm USS Bainbridge và 4 tàu tuần dương lớp Virginia bị loại biên.
Kế hoạch được công bố khoảng một tháng sau khi cựu bộ trưởng hải quân Mỹ John Phelan cho rằng khó có khả năng chiến hạm lớp Trump được trang bị động cơ hạt nhân. Trong đề xuất ngân sách cho năm tài chính 2027, hải quân Mỹ vẫn mô tả tàu chiến lớp Trump là sử dụng "máy phát điện diesel, tua-bin khí cùng động cơ đẩy", không chạy bằng năng lượng nguyên tử.
Động cơ hạt nhân giúp tàu chiến có tầm hoạt động gần như không giới hạn và tăng đáng kể năng lực phát điện. Dù vậy, công nghệ này cũng khiến chiến hạm trở nên đắt đỏ và phức tạp hơn về mặt thiết kế, cũng như hoạt động vận hành và bảo dưỡng.
Tàu mặt nước chạy bằng năng lượng nguyên tử cũng tương đối hiếm trên thế giới, ngay cả với các cường quốc hạt nhân. Hiện chỉ có Nga sở hữu tàu chiến mặt nước trang bị động cơ nguyên tử mà không phải tàu sân bay, là hai tàu tuần dương hạng nặng thuộc Đề án 1144 Orlan gồm Đô đốc Nakhimov và Pyotr Đại đế.
Dù được Mỹ mô tả là thiết giáp hạm, tàu chiến lớp Trump có hình dáng và trang bị vũ khí tương đồng với những mẫu tàu tuần dương, tàu khu trục cỡ lớn đang được nhiều nước phát triển. Hải quân Mỹ cho biết chiến hạm có lượng giãn nước khoảng 35.000 tấn, gấp khoảng ba lần biến thể Flight III mới nhất của tàu khu trục lớp Arleigh Burke.
Mẫu tàu này dự kiến có chiều dài 256-268 m, chiều rộng 32-35 m, tốc độ tối đa trên 55 km/h. Chiến hạm lớp Trump có khả năng phóng cả tên lửa hạt nhân lẫn thông thường, trong đó có vũ khí siêu vượt âm, từ hệ thống phóng thẳng đứng cỡ lớn. Nó cũng sẽ được trang bị pháo điện từ, hai hải pháo 127 mm, vũ khí laser và nhiều khí tài khác để phòng thủ tầm gần.
Hải quân Mỹ có kế hoạch mua 15 tàu chiến lớp Trump trong năm tài chính 2028-2055. Ước tính sơ bộ cho thấy mỗi chiếc có giá 17 tỷ USD, cao hơn cả siêu tàu sân bay lớp Ford đắt nhất trong lịch sử Mỹ.
"Thương vụ vũ khí và hợp tác an ninh giữa Đài Loan với Mỹ là yếu tố quan trọng để duy trì hòa bình và ổn định khu vực", lãnh đạo Đài Loan Lại Thanh Đức viết trên Facebook ngày 17/5.
Tuyên bố được lãnh đạo Đài Loan đưa ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trong cuộc phỏng vấn ngày 15/5 cho hay việc trì hoãn thương vụ bán vũ khí trị giá 14 tỷ USD cho Đài Loan là "quân bài mặc cả đắt giá" trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc. Tổng thống Mỹ cũng nói Đài Loan không nên tuyên bố độc lập.
"Chúng ta sẽ xem chuyện gì xảy ra. Tôi có thể duyệt thương vụ, cũng có thể không", lãnh đạo Mỹ nói trên chuyên cơ Không lực Một sau chuyến thăm Trung Quốc. "Chúng tôi không muốn ai đó nói: 'Cứ độc lập vì Mỹ đang ủng hộ chúng ta'".
Ông Lại Thanh Đức cho rằng Trung Quốc "chưa bao giờ từ bỏ ý định sáp nhập Đài Loan bằng vũ lực" và đang tăng cường năng lực quân sự "nhằm thay đổi hiện trạng khu vực và hai bờ eo biển". Ông cho hay điều này có thể tác động lớn đến an ninh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, chuỗi cung ứng toàn cầu và kinh tế thế giới.
Trung Quốc và ông Trump chưa bình luận về tuyên bố này. Trung Quốc luôn xem đảo Đài Loan là phần lãnh thổ không thể tách rời và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp để thống nhất, kể cả bằng vũ lực. Mỹ cam kết tôn trọng nguyên tắc "Một Trung Quốc" và không chính thức ủng hộ Đài Loan độc lập, nhưng cũng thường tránh công khai tuyên bố phản đối sự độc lập của hòn đảo này.
Theo Đạo luật Quan hệ với Đài Loan được tổng thống Jimmy Carter ký sau khi Washington thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh năm 1979, Mỹ có nghĩa vụ hỗ trợ khả năng phòng thủ cho đảo Đài Loan. Dù vậy, Mỹ vẫn giữ lập trường mơ hồ về việc liệu quân đội nước này có can thiệp nếu hòn đảo bị tấn công hay không.
Trong chuyến thăm Bắc Kinh ngày 13-15/5, ông Trump cho biết đã thảo luận "rất chi tiết" với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan.
Theo Phelim Kine, bình luận viên Politico, điều này có thể đi ngược lại cam kết năm 1982 của tổng thống Ronald Reagan về "6 đảm bảo" của Mỹ với Đài Loan, trong đó có việc Washington sẽ không tham vấn Bắc Kinh về các thương vụ vũ khí với Đài Loan. Việc không bán vũ khí cho hòn đảo cũng vi phạm cam kết trong đạo luật năm 1979.
Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer nói các phát biểu ngày 15/5 của ông Trump không đồng nghĩa Mỹ đang rút lại cam kết với Đài Loan. "Tổng thống đã nói rất rõ về việc này. Không có thay đổi nào trong chính sách của Mỹ đối với Đài Loan", ông Greer nói với ABC News ngày 17/5.
Ngày 1-5, Lầu Năm Góc thông báo Bộ trưởng Chiến tranh (Bộ trưởng Quốc phòng) Pete Hegseth đã ra lệnh rút 5.000 trong tổng số 38.000 binh sĩ Mỹ đang đóng quân tại Đức trong vòng sáu tháng đến một năm.
Theo News Nation, quyết định này xuất phát từ việc các đồng minh châu Âu "không thể hiện mức độ cam kết" mà Tổng thống Donald Trump mong đợi.
Việc rút quân sẽ đưa lực lượng Mỹ tại châu Âu về mức trước năm 2022 - trước khi chiến sự tại Ukraine nổ ra khiến chính quyền Biden phải tăng cường quân số.
Căng thẳng bùng phát trực tiếp từ bài phát biểu của Thủ tướng Đức Friedrich Merz ngày 27-4 tại một trường trung học ở Marsberg.
Tại đây, ông Merz cảnh báo Mỹ có nguy cơ sa lầy ở Trung Đông, chỉ trích Washington đã thể hiện "sự yếu kém" khi bị Iran "làm nhục" và thiếu một kế hoạch mạch lạc để rút khỏi xung đột.
Ông còn lưu ý rằng phía Iran "hiệu quả hơn trong đàm phán" so với phía Mỹ, và khẳng định các hành động quân sự tại Iran cùng việc đóng cửa eo biển Hormuz đã giáng đòn mạnh vào kinh tế Đức.
Chỉ hai ngày sau, ngày 29-4 ông Trump phản pháo trên mạng xã hội Truth Social, gọi ông Merz là người "hoàn toàn không biết mình đang nói gì", chỉ trích ông đang "làm việc rất tệ" khiến nước Đức phải đối mặt với đủ loại vấn đề, và khuyên Thủ tướng Đức nên tập trung ít hơn vào Iran, nhiều hơn vào việc giải quyết xung đột Ukraine.
Đây không phải lần đầu ông Merz bày tỏ bất đồng. Trước đó, ông đã lên tiếng rằng người Đức và châu Âu không được tham vấn trước khi Mỹ và Israel tấn công Iran vào ngày 28-2, đồng thời trực tiếp đặt câu hỏi về lối thoát của Washington khỏi cuộc xung đột này.
Hãng CBC nhận định quyết định rút quân là lời nhắc nhở mạnh mẽ về "sự sẵn sàng đáp trả của ông Trump đối với những gì ông coi là sự bất trung từ các đồng minh".
Tờ Politico dẫn lời nhà phân tích Todd Harrison nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của Đức: nơi đây không chỉ là nơi đóng quân của gần 40.000 binh sĩ Mỹ, mà còn là trụ sở của Bộ Tư lệnh Mỹ tại châu Âu và châu Phi, cùng bệnh viện quân sự lớn nhất của Mỹ ở nước ngoài. Việc rút quân nhanh chóng, theo ông Harrison, sẽ "tốn kém và có thể làm suy yếu khả năng răn đe".
Tờ Telegraph ngày 1-5 cũng lưu ý rằng NATO chưa thảo luận về khả năng rút quân này, vì bất kỳ động thái nào cũng đòi hỏi một thỏa thuận song phương giữa Mỹ và Đức - điều hiện chưa tồn tại.
Bất đồng Mỹ - NATO thực ra đã âm ỉ từ nhiệm kỳ đầu của ông Trump (2017 - 2021), khi Washington liên tục gây sức ép buộc các đồng minh tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP.
Khi đó, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã giúp hóa giải khủng hoảng, còn kế hoạch rút 12.000 binh sĩ của ông Trump bị đình lại sau khi ông thất cử và chính quyền Biden đảo ngược quyết định này.
Trong nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump đẩy căng thẳng lên một nấc mới: từ đe dọa rời khỏi NATO, chỉ trích châu Âu "quân sự hóa" Ukraine gây cản trở hòa đàm, đến áp thuế quan lên các thành viên EU.
Bài phát biểu của Phó tổng thống J.D. Vance tại Hội nghị an ninh Munich năm ngoái - cáo buộc một số nhà lãnh đạo châu Âu đang theo đuổi các chính sách có thể dẫn đến "sự hủy diệt của nền văn minh phương Tây", đồng thời ám chỉ sự ủng hộ công khai đối với các lực lượng dân tộc chủ nghĩa và cánh hữu tại châu Âu - càng khoét sâu thêm hố ngăn cách.
Trang Al Arabiya nhận định những khác biệt trong NATO đang "gay gắt hơn bao giờ hết". Nhà khoa học chính trị Emilian Kowalski thuộc Đại học Tampere lập luận rằng Mỹ không trực tiếp phá hủy NATO, mà đang dần biến liên minh này thành một "cầu thu phí" phục vụ lợi ích Washington, ngày càng ít dung nạp các cơ chế an ninh thay thế của châu Âu.
Ở phía châu Âu, các ý tưởng về lực lượng vũ trang độc lập và "ô dù hạt nhân" riêng - ban đầu do Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đề xuất - đang được bàn thảo nghiêm túc hơn.
Dù vậy, Chiến lược Quốc phòng quốc gia Mỹ (NDS 2026) công bố đầu năm nay khẳng định Washington không có ý định rời NATO, với khoảng 80.000 binh sĩ vẫn hiện diện tại châu Âu.
Trọng tâm đang dịch chuyển: Mỹ tiếp tục ở lại, nhưng đòi các đồng minh gánh phần lớn hơn trong chi tiêu quốc phòng.
Hội nghị thượng đỉnh NATO ngày 7 và 8-6 tại Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ) sẽ là phép thử quan trọng: liệu đây sẽ là thời điểm hòa giải, hay là bước ngoặt dẫn đến sự đổ vỡ của liên minh tồn tại gần tám thập niên?