Thi thể chỉ được tình cờ phát hiện vào 5 tháng sau đó, năm 1973. Garrow bị xét xử vào hè 1974, bị kết án tù chung thân với thời hạn tối thiểu là 25 năm sau khi thừa nhận giết 4 người.
Khi bị phát hiện đã giữ bí mật thông tin, hai luật sư Frank H. Armani và Francis Belge phải đối mặt với các cáo buộc hình sự và nguy cơ bị tước quyền hành nghề luật sư.
Armani và Belge tuyên bố bị ràng buộc bởi nghĩa vụ bảo mật “không được tiết lộ thông tin có thể buộc tội thân chủ”.
Tòa án quận New York chấp nhận điều này, cho rằng “vì lợi ích công lý”. Theo tòa án, khi mối quan hệ giữa luật sư và thân chủ được bảo mật thì tư vấn pháp lý mới đạt hiệu quả cao. Nếu không thể nắm được tất cả thông tin về vụ án, luật sư chỉ có thể bào chữa cho thân chủ một cách nửa vời. Điều này tất yếu bao gồm việc kể cho luật sư mọi thứ có liên quan đến tội ác.
Armani và Belge được tuyên vô tội. Công tố viên kháng cáo.
Tòa phúc thẩm ủng hộ phán quyết của tòa sơ thẩm, nhưng bày tỏ lo ngại về đặc quyền luật sư – thân chủ không có giới hạn. Tòa lưu ý các luật sư dù bảo vệ thân chủ nhưng cũng phải “tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của con người”.
Vụ án này đã trở thành ví dụ điển hình trong các khóa học đạo đức pháp lý. Nó nêu bật nghĩa vụ đạo đức của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin của thân chủ, đồng thời giúp định hình sự phát triển của các quy tắc đạo đức về tính bảo mật.
Ở các nước theo hệ thống Thông luật (Common Law) như Mỹ, Canada hay Australia, đặc quyền bảo mật giữa luật sư và thân chủ (attorney-client privilege) được xem là nguyên tắc nền tảng.
Theo đó, quyền bảo mật là quyền của thân chủ từ chối tiết lộ và ngăn chặn bất kỳ người nào khác tiết lộ các thông tin trao đổi bí mật giữa thân chủ với luật sư.
Tòa án Tối cao Mỹ cho rằng bằng cách đảm bảo tính bảo mật, đặc quyền này khuyến khích thân chủ tiết lộ “đầy đủ và thẳng thắn” cho luật sư của họ, nhờ đó luật sư có thể đưa ra lời khuyên công bằng và hiệu quả hơn.
Theo Hiệp hội Luật sư Mỹ (ABA), quyền bảo mật giữa luật sư và thân chủ là điều kiện thiết yếu để đảm bảo quyền được xét xử công bằng trong mọi hệ thống pháp luật hiện đại.
Vì vậy, trong đa số trường hợp, luật sư không được tiết lộ thông tin của thân chủ và không có nghĩa vụ tố giác hành vi phạm tội đã xảy ra, mọi thông tin trao đổi phục vụ tư vấn pháp lý được giữ kín. Tuy nhiên, quyền bảo mật không phải là “lá chắn” tuyệt đối.
Trên thực tế, luật sư có thể hoặc buộc phải tiết lộ thông tin khi tội phạm đang và sắp xảy ra có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng; bị thân chủ lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội; phải báo cáo theo luật riêng (đặc biệt trong lĩnh vực tài chính).
Tại Mỹ, trong vụ án United States v. Zolin, Tòa án Tối cao cho phép tòa án xem xét tài liệu bảo mật nếu có dấu hiệu thân chủ sử dụng luật sư để thực hiện gian lận. Nguyên tắc này được gọi là “ngoại lệ tội phạm – gian lận” (crime-fraud exception).
“Ngoại lệ tội phạm – gian lận” có thể khiến đặc quyền trở nên vô hiệu khi các cuộc trao đổi giữa luật sư và thân chủ được sử dụng để thúc đẩy một tội phạm, hành vi sai trái hoặc gian lận.
Trong vụ án Clark v. United States, Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố: “Một thân chủ tham khảo ý kiến luật sư để được tư vấn nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành vi gian lận sẽ không nhận được sự giúp đỡ từ pháp luật. Anh ta phải để sự thật được nói ra”.
Tại Anh, nguyên tắc này đã xuất hiện từ rất sớm trong vụ R v. Cox and Railton (1884), tòa án khẳng định quyền bảo mật không bảo vệ các trao đổi nhằm mục đích gian lận. Nếu một người tham khảo ý kiến luật sư để thực hiện mục đích phạm tội thì bất kể luật sư có cố ý hỗ trợ việc thực hiện mục đích đó hay không, các cuộc trao đổi giữa thân chủ và luật sư không được hưởng đặc quyền bảo mật.
Trong các nước thuộc Liên minh châu Âu, quyền bảo mật được ưu tiên khi bào chữa hoặc tư vấn pháp lý, nhưng khi tham gia giao dịch tài chính, luật sư có thể phải báo cáo giao dịch đáng ngờ theo luật chống rửa tiền.
Tại Trung Quốc, quyền bảo mật không được công nhận đầy đủ như trong hệ thống Thông luật. Luật sư vẫn có nghĩa vụ giữ bí mật nghề nghiệp, nhưng có thể bị yêu cầu cung cấp thông tin, nghĩa vụ hợp tác với cơ quan điều tra được đặt cao hơn.
Điều 46 của Luật Tố tụng Hình sự Trung Quốc quy định: “Luật sư bào chữa có quyền giữ bí mật các tình tiết và thông tin liên quan đến thân chủ mà họ biết được trong quá trình hành nghề. Tuy nhiên, nếu luật sư bào chữa biết được trong quá trình hành nghề rằng thân chủ hoặc bất kỳ người nào khác đang chuẩn bị hoặc đang thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hại đến an ninh quốc gia, an ninh công cộng hoặc gây nguy hiểm nghiêm trọng đến an toàn cá nhân của người khác, phải kịp thời thông báo cho cơ quan tư pháp”.
Dù có điểm khác nhau, các hệ thống đều hướng tới một mục tiêu chung: đảm bảo mọi người – kể cả người bị buộc tội – có quyền được bào chữa công bằng. Trong cấu trúc đó, luật sư không phải người phán xét mà là người bảo vệ quy trình công lý.
Ranh giới không nằm ở việc biết hay không biết sự thật mà ở việc luật sư có trở thành một phần của hành vi phạm tội hay không. Nếu vượt ranh giới, như giúp tiêu hủy chứng cứ, họ có thể bị truy tố như đồng phạm, toàn bộ “lá chắn đặc quyền” lập tức sụp đổ.
Ngày 28-4, Công an tỉnh Phú Thọ cho biết Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam Hà Văn Hiếu (32 tuổi, ở xã Mai Hạ, cựu nhân viên hỗ trợ kinh doanh của một công ty tài chính) để điều tra về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo cơ quan công an, trong thời gian làm nhân viên hỗ trợ kinh doanh, Hà Văn Hiếu có điều kiện tiếp cận thông tin của nhiều khách hàng và nắm rõ quy trình ký kết hợp đồng online.
Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và tâm lý chủ quan của một số người dân, Hiếu đã tiếp cận khách hàng, đưa ra các thông tin gian dối với lý do hỗ trợ làm hồ sơ vay vốn, phát hành thẻ tín dụng hoặc xử lý các thủ tục tài chính khác.
Sau khi tạo được sự tin tưởng, Hiếu yêu cầu khách hàng cung cấp giấy tờ cá nhân, chụp ảnh chân dung, cung cấp các thông tin liên quan, thậm chí mượn điện thoại cá nhân để "hoàn tất thủ tục".
Tuy nhiên sau đó Hiếu tự ý sử dụng thông tin của khách hàng để ký kết các hợp đồng online phát hành thẻ tín dụng, hợp đồng vay tiền đứng tên khách hàng nhưng họ không hề hay biết.
Toàn bộ số tiền trong thẻ tín dụng và số tiền vay được giải ngân đều bị Hiếu chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân.
Bước đầu, cơ quan điều tra xác định từ năm 2023 - 2026, Hiếu đã sử dụng thông tin của 60 người để thiết lập nhiều hợp đồng tín dụng trái phép, chiếm đoạt hơn 1,8 tỉ đồng.
Hiện vụ án đang được Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ tiếp tục điều tra, mở rộng.
Ngày 13/7, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết đơn vị đã khởi tố 8 bị can để điều tra về tội Nhận hối lộ và Đưa hối lộ xảy ra trong hoạt động kiểm dịch động vật trên địa bàn.
Trong đó, Trần Minh Điền (43 tuổi), nguyên Phó Trạm trưởng Trạm Chăn nuôi và Thú Y huyện Krông Bông (cũ), tỉnh Đắk Lắk và Hỏa Chí Hoàng Anh (29 tuổi), nguyên kiểm dịch viên của đơn vị này bị khởi tố cùng về tội Nhận hối lộ.
6 bị can bị khởi tố về tội Đưa hối lộ gồm: Hoàng Văn Tín (33 tuổi, trú tại phường Phong Điền, thành phố Huế); Nguyễn Đức Tùng (40 tuổi), Lê Duy Hân (42 tuổi), Trần Văn Khoa (40 tuổi), Phạm Thị Bình (47 tuổi) và Vũ Huy Kiên (37 tuổi), cùng trú tại tỉnh Đắk Lắk.
Theo kết quả điều tra ban đầu, từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2025, trong quá trình công tác tại Trạm Chăn nuôi và Thú Y huyện Krông Bông (cũ), Điền và Hoàng Anh đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để nhận tiền của nhiều cá nhân nhằm lập hồ sơ, ký và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch động vật trái quy định.
Cơ quan điều tra xác định, các bị can đã không thực hiện việc kiểm tra thực tế động vật theo quy định mà lập khống hồ sơ, ký xác nhận sai sự thật, hợp thức hóa thủ tục kiểm dịch để trục lợi.
Riêng Trần Minh Điền, sau ngày 1/1/2025, dù không còn giữ chức danh kiểm dịch viên, vẫn tiếp nhận thông tin, lập hồ sơ, chuẩn bị giấy tờ rồi chuyển cho Hỏa Chí Hoàng Anh ký xác nhận để cấp giấy chứng nhận kiểm dịch trái quy định.
Cơ quan công an xác định Trần Minh Điền đã nhận hơn 200 triệu đồng từ 6 bị can trên để lập, ký và cấp trái quy định nhiều giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, tạo điều kiện cho việc vận chuyển, lưu thông động vật và sản phẩm động vật không đúng quy định của pháp luật.
Theo kế hoạch, ngày 30/6, TAND TPHCM mở lại phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Tiến Mãi (41 tuổi, cộng tác viên Tổ Trật tự đô thị phường Phạm Ngũ Lão) cùng các đồng phạm về tội Nhận hối lộ.
Trước đó, vào đầu tháng 6, phiên tòa phải tạm hoãn do một bị cáo được tại ngoại vắng mặt vì lý do sức khỏe.
Theo cáo trạng, ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận 1 (cũ) tiếp nhận đơn tố giác của bà C. về việc Nguyễn Thanh Tùng (35 tuổi, cộng tác viên Tổ Trật tự đô thị phường Phạm Ngũ Lão, nay là phường Bến Thành) yêu cầu bà nộp tiền hằng tháng để không bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự lòng đường, vỉa hè.
Tối cùng ngày, Công an quận 1 (cũ) bắt quả tang Tùng đang nhận 750.000 đồng từ bà C.
Mở rộng điều tra, cơ quan công an tiếp nhận thêm đơn tố giác của 32 cá nhân khác phản ánh hành vi tương tự. Trên cơ sở lời khai của Tùng cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được, cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Tiến Mãi, Đỗ Khắc Anh Khang (30 tuổi), Lương Quốc Huy Hoàng (45 tuổi) và Nguyễn Minh Tuấn (37 tuổi) để làm rõ vai trò đồng phạm.
Theo kết quả điều tra, từ tháng 11/2021 đến tháng 12/2023, Nguyễn Tiến Mãi đã chỉ đạo thành viên trong Tổ Trật tự đô thị nhận hối lộ của các hộ kinh doanh, bỏ qua việc kiểm tra, xử lý vi phạm.
Theo đó, khi phát hiện các điểm kinh doanh mới hoặc các hộ có hành vi lấn chiếm lòng, lề đường, Mãi chỉ đạo ca trực (gồm Nguyễn Thanh Tùng, Lương Quốc Huy Hoàng và các thành viên khác) đến kiểm tra. Sau đó, Mãi phân công Tùng và Khang trực tiếp thỏa thuận với các hộ kinh doanh về việc "chung chi" tiền hằng tháng để không bị kiểm tra hoặc lập biên bản vi phạm.
Các mức tiền đều phải được Mãi phê duyệt. Trường hợp chưa thống nhất, Tùng tiếp tục thương lượng theo chỉ đạo của Mãi cho đến khi đạt được mức tiền yêu cầu. Sau khi thỏa thuận xong, các hộ kinh doanh đưa tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản cho Tùng và Khang.
Toàn bộ số tiền thu được, Tùng và Khang có trách nhiệm báo cáo chi tiết từng địa điểm và số tiền đã nhận, sau đó chuyển lại cho Mãi để quản lý và phân chia. Việc chia tiền do Mãi quyết định, các thành viên trong tổ được nhận bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Hồ sơ vụ án thể hiện, các bị cáo đã nhận tổng cộng 518,4 triệu đồng từ các hộ kinh doanh để không kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm hành chính về trật tự lòng, lề đường.