Trong khi đó, Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu phân bón đang duy trì mức thuế xuất khẩu 5% đối với phân ure và super lân. Điều này khiến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong nước cao hơn so với đối thủ quốc tế, từ đó làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Tại Tọa đàm trực tuyến “Cần chính sách giảm thuế xuất khẩu phân bón, thích ứng hội nhập thế giới” do Báo Nhà báo và Công luận tổ chức vào ngày 28/4, ông Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia thuế cao cấp, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Pháp chế Doanh nghiệp Việt Nam nhận định: Chính sách thuế xuất nhập khẩu phân bón của Việt Nam chưa thật sự linh hoạt.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông Phụng nói: Thị trường phân bón trong nước có tính thời vụ rất rõ rệt. Vào chính vụ, nhu cầu tăng cao, thậm chí có thời điểm cung không đủ cầu, buộc phải tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ngược lại, ở giai đoạn thấp vụ, nguồn cung trong nước lại dư thừa, khiến doanh nghiệp phải tìm đầu ra thông qua xuất khẩu. Điều này tạo nên thực tế “hai chiều”: Vừa nhập khẩu trong cao điểm, vừa xuất khẩu khi dư cung.
Tuy nhiên, việc điều hành thuế xuất khẩu thời gian qua chưa thực sự kịp thời với biến động thị trường. Trong nhiều thời điểm nguồn cung tăng mạnh, việc chậm điều chỉnh chính sách, tiếp tục áp dụng mức thuế 5% đã khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.
Vì vậy, ông Phụng nhấn mạnh: Việt Nam cần thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh và linh hoạt hơn, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cân đối cung – cầu trên thị trường trong nước.
“Thuế không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết và can thiệp thị trường. Khi thị trường trong nước thiếu hụt nguồn cung, có thể sử dụng thuế xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu, ưu tiên nguồn hàng cho tiêu dùng nội địa. Ngược lại, khi nguồn cung trong nước dồi dào hoặc dư thừa, việc điều chỉnh giảm thuế sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và cân đối thị trường”, ông Phụng nói.
Đồng tình với nhận định này, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam đánh giá: Với đặc thù sản xuất phân bón, đặc biệt là các sản phẩm như phân ure, đòi hỏi công nghệ cao và vận hành liên tục, sản lượng càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng được tối ưu. Tuy nhiên, đi cùng với đó là áp lực tiêu thụ sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định.
Trong bối cảnh này, vai trò điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách thuế trở nên đặc biệt quan trọng. Khi nguồn cung trong nước dư thừa, cần có cơ chế linh hoạt để thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngược lại, khi thị trường nội địa thiếu hụt, chính sách thuế cần được điều chỉnh kịp thời nhằm ưu tiên nguồn cung cho nông nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc điều hành chính sách chưa đạt được mức độ linh hoạt cần thiết. Cách tiếp cận còn chưa thật sự uyển chuyển, chưa theo kịp biến động nhanh của cung – cầu thị trường.
“Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy điều hành, hướng tới một cơ chế chính sách linh hoạt, uyển chuyển hơn, qua đó tối ưu hiệu quả kinh tế và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa sản xuất, xuất khẩu và nhu cầu trong nước”, ông Ngọc nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Thị Thanh Giang, Phó trưởng Ban Kế hoạch Kinh doanh Tập đoàn Hóa Chất chia sẻ: Ở thời điểm hiện nay, thị trường phân bón trong nước đang ở giai đoạn chính vụ nên lượng tồn kho tương đối thấp. Tuy nhiên, theo chu kỳ hàng năm, từ khoảng tháng 6 đến tháng 11, nhu cầu phân bón giảm mạnh, khiến tồn kho gia tăng.
Khi đó, vốn sản xuất không được quay vòng, chi phí lãi vay tăng lên, trong khi hàng tồn kho để lâu có thể suy giảm chất lượng (tăng độ ẩm, giảm hiệu quả sử dụng).
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải giảm công suất hoặc sản xuất cầm chừng, kéo theo chi phí bảo trì, bảo dưỡng tăng cao. Những chi phí này cuối cùng sẽ được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong cả năm, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tìm được đầu ra xuất khẩu trong giai đoạn thấp vụ, lượng hàng tồn kho sẽ được giải phóng, giúp duy trì sản xuất liên tục và giảm chi phí bình quân. Khi đó, giá thành mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm, tạo điều kiện hạ giá bán trong nước, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân.
Đáng chú ý, thị trường khu vực châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, có nhu cầu phân bón rất lớn, ước khoảng 18–20 triệu tấn mỗi năm, với mùa vụ có độ lệch so với Việt Nam. Cụ thể, vụ hè tại Ấn Độ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 7, vụ Đông từ tháng 10 đến tháng 11.
“Chính sự “lệch pha” này tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu vào thời điểm nhu cầu nội địa giảm, qua đó duy trì công suất và tối ưu chi phí sản xuất”, bà Giang nói.
Tuy nhiên, chính sách thuế hiện hành đang tạo thêm rào cản cho hoạt động xuất khẩu. Khi xuất khẩu một tấn phân bón, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với rủi ro về giá (do phụ thuộc vào giá thế giới và thị trường nhập khẩu), mà còn phải chịu thuế xuất khẩu 5% đối với một số mặt hàng như urê, phân lân. Trong khi đó, nhiều quốc gia cạnh tranh đã đưa thuế này về 0% để khuyến khích xuất khẩu.
Vì vậy, nhiều chuyên gia đồng thuận rằng Việt Nam cần sớm rà soát và điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu phân bón theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu của thị trường. Đồng thời, cần xem xét đưa mức thuế xuất khẩu về 0% nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả sản xuất toàn ngành.
TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách – Viện Kinh tế và Thế giới Việt Nam đánh giá, bên cạnh việc điều chỉnh chính sách thuế, ngành phân bón Việt Nam hiện đang đối mặt với ba bài toán lớn cần được giải quyết đồng bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Thứ nhất là bài toán logistics. Chi phí vận chuyển và hạ tầng phục vụ xuất khẩu còn cao, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Do đó, cần đầu tư phát triển hạ tầng logistics chuyên dụng, gắn với các khu sản xuất lớn, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị cao hơn.
Thứ hai là vấn đề rào cản thương mại. Hoạt động xuất khẩu phân bón đang chịu ảnh hưởng bởi các quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau tại từng thị trường. Bên cạnh đó, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá, ngày càng gia tăng. Vì vậy, các bộ, ngành cần tăng cường cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó và giảm thiểu rủi ro khi tham gia thị trường quốc tế.
Thứ ba là yêu cầu chuyển đổi xanh. Ngành phân bón, vốn thuộc lĩnh vực hóa chất, chịu áp lực lớn về giảm phát thải và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng, công nghệ và đổi mới sản xuất để doanh nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, bền vững.
Theo TS Ngọc, chỉ khi đồng thời giải quyết được ba bài toán này, cùng với việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng linh hoạt, ngành phân bón Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh và tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường quốc tế.
Mỗi ngày làm việc của chị Hoàng Thị Lan Anh bắt đầu từ khi nhiều người còn chưa thức giấc.
Khoảng 5 giờ sáng, khi những tia nắng đầu tiên còn chưa kịp xuyên qua những tán lá cao su, chị đã có mặt tại lô cây của mình ở Đội sản xuất Long Tân, Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng. Con đường quen thuộc dẫn vào lô cao su đã in dấu chân chị suốt gần 15 năm qua.
Ít ai biết rằng, người phụ nữ luôn nở nụ cười hiền hậu ấy từng có một tuổi trẻ nhiều khó khăn.
Sinh năm 1988 tại Thanh Hóa, sau khi học hết trung học cơ sở, vì điều kiện gia đình, chị không thể tiếp tục con đường học tập như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Theo gia đình vào Bình Dương lập nghiệp, chị lựa chọn nghề công nhân khai thác mủ cao su và chính thức gắn bó với Nông trường Long Tân từ năm 2011.
Những ngày đầu nhận phần cây khai thác, cô công nhân trẻ không tránh khỏi những lo lắng. Tay nghề còn non, kinh nghiệm chưa nhiều, trong khi công việc đòi hỏi sự chính xác và kiên trì. Mỗi đường dao cạo đều phải đúng kỹ thuật để vừa đảm bảo sản lượng, vừa giữ gìn sức sống của cây.
Không chấp nhận tụt lại phía sau, chị chủ động học hỏi từ những công nhân có tay nghề cao, quan sát từng thao tác, ghi nhớ từng kinh nghiệm và kiên trì rèn luyện mỗi ngày. Chính sự cầu tiến ấy đã giúp chị từng bước trưởng thành trong nghề.
Gần 15 năm qua, chị luôn là một trong những công nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, tận thu sản lượng trên phần cây được giao, chấp hành nghiêm quy trình kỹ thuật và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp trẻ.
Nhưng điều khiến nhiều người nhớ đến chị Lan Anh không chỉ là sự cần cù.
Đó còn là tinh thần luôn trăn trở để công việc trở nên hiệu quả hơn.
Năm 2023, từ thực tế lao động hằng ngày, chị nhận thấy việc thiết kế miệng cạo úp trên cây cao su là một công việc khá vất vả. Theo cách làm truyền thống, công nhân thường phải cần đến hai người để thực hiện. Một người giữ đầu thước, người còn lại tiến hành rập bảng cạo. Với những miệng cạo ở vị trí cao, công nhân còn phải sử dụng ghế hoặc thang để thao tác, vừa mất thời gian, vừa tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động. Nhiều người phải chờ đồng nghiệp hỗ trợ hoặc thuê thêm lao động phụ mới hoàn thành công việc.
Từ những bất tiện đó, chị bắt đầu suy nghĩ: "Tại sao không tìm cách để một người cũng có thể tự thực hiện công việc này?".
Suy nghĩ ấy đã thôi thúc chị nghiên cứu và đưa ra sáng kiến "Giải pháp sử dụng thước - rập úp 2 trong 1 cho một người trong công tác thiết kế miệng cạo úp trên cây cao su".
Sáng kiến giúp công nhân có thể chủ động thực hiện công việc mà không cần người hỗ trợ, giảm thời gian thao tác, hạn chế việc leo trèo nguy hiểm và nâng cao tính an toàn trong lao động. Quan trọng hơn, người lao động có thể chủ động sắp xếp thời gian thực hiện các công việc trên phần cây của mình mà không phụ thuộc vào người khác.
Đối với nhiều người, đó có thể chỉ là một cải tiến nhỏ. Nhưng đối với người công nhân trực tiếp sản xuất, đó là kết quả của quá trình quan sát, suy nghĩ và khát vọng làm tốt hơn công việc hằng ngày.
Chính sáng kiến ấy đã mang về cho chị danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở năm 2023.
Năm 2024, chị tiếp tục là công nhân hoàn thành kế hoạch sản lượng sớm nhất của đơn vị. Nhiều năm liền đạt danh hiệu Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua cơ sở, được tuyên dương Công nhân ưu tú ngành cao su Việt Nam và được Bộ Tài chính tặng Bằng khen năm 2026.
Không chỉ là công nhân giỏi, chị Lan Anh còn là người tích cực tham gia các hoạt động công đoàn, đoàn thanh niên, hiến máu nhân đạo, các chương trình an sinh xã hội và nhiều phong trào thi đua tại đơn vị.
Phía sau những thành tích ấy là một gia đình công nhân bình dị. Chồng chị cũng là công nhân khai thác mủ cao su, luôn đồng hành cùng vợ trong công việc và cuộc sống. Hai con của anh chị đều chăm ngoan, học tốt, trở thành nguồn động viên để vợ chồng chị tiếp tục gắn bó với nghề.
Gần 15 năm đi giữa những hàng cây cao su, chị Hoàng Thị Lan Anh vẫn giữ nguyên sự giản dị của người công nhân lao động. Nhưng từ những lát cạo lặng thầm mỗi sớm mai, người phụ nữ ấy đã viết nên câu chuyện đẹp về ý chí vượt khó, tinh thần sáng tạo và khát vọng cống hiến của người lao động ngành cao su hôm nay.
Quỹ bảo lãnh tín dụng đầu tư (CGIF), quỹ tín thác của Ngân hàng Phát triển châu Á, đã bảo lãnh đợt phát hành trái phiếu đầu tiên của Công ty Cổ phần Đầu tư SCommerce – trái phiếu có lãi suất cố định trả dần kỳ hạn 7 năm trị giá 580 tỉ đồng (tương đương 22,3 triệu USD). Trái phiếu được phát hành với lãi suất coupon 6,70%/năm. Giao dịch này đánh dấu trái phiếu được CGIF bảo lãnh trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam, đồng thời là lần phát hành trái phiếu đầu tiên của SCommerce – một cột mốc quan trọng trong chiến lược tài chính của công ty. Kỳ hạn 7 năm cung cấp cho SCommerce nguồn vốn ổn định, dài hạn, phù hợp hơn với dòng tiền dự án trong khi vẫn duy trì thanh khoản cho nhu cầu vốn lưu động.
Nguồn vốn từ trái phiếu sẽ được dùng để xây dựng một trung tâm phân loại hàng hóa tại khu vực phía Nam Việt Nam, mở rộng cơ sở hạ tầng logistics của SCommerce và hỗ trợ ngành thương mại điện tử và kinh tế số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam. Maybank Investment Bank ("Maybank") đóng vai trò là Đơn vị thu xếp duy nhất cho giao dịch này.
Là một tổ chức đa phương tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, CGIF tiến hành thẩm định kỹ lưỡng đối với các tổ chức phát hành tiềm năng – bao gồm đánh giá tài chính, rà soát quản trị doanh nghiệp và kiểm toán Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) nhiều vòng theo khung Tiêu chuẩn thực hiện của ADB, bao gồm điều kiện lao động, quản lý rủi ro môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên và sức khỏe – an toàn cộng đồng.
Đối với một công ty logistics hoạt động với quy mô như SCommerce, với hàng nghìn nhân viên kho bãi, hàng chục nghìn nhân viên giao hàng trên toàn quốc, và mạng lưới trải rộng hơn 1.000 bưu cục và hơn 100 kho hàng tại 34 tỉnh thành – việc đáp ứng các tiêu chuẩn này đặt ra những thách thức mà hầu hết các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam chưa từng phải đối mặt. Mô hình lao động phân tán, kết hợp giữa nhân viên chính thức, nhà thầu và lao động thời vụ, đòi hỏi các tiêu chuẩn an toàn lao động ở mọi cấp độ phải được áp dụng nhất quán. Chuỗi vận hành trải dài trên khắp các khu vực địa lý yêu cầu việc quản lý rủi ro không còn giới hạn trong phạm vi nội bộ công ty mà mở rộng đến hàng trăm đối tác và nhà thầu phụ. Lực lượng lao động hoạt động hàng ngày tại các trung tâm phân loại và trên đường phố đòi hỏi cơ chế khiếu nại minh bạch, dễ tiếp cận và được giám sát độc lập .
SCommerce đã triển khai một nỗ lực có hệ thống, kéo dài nhiều năm để giải quyết từng thách thức này, xây dựng Hệ thống Quản lý môi trường và xã hội (ESMS) toàn diện với tám khung quản trị liên kết chặt chẽ: từ cam kết chính sách và nhận diện rủi ro, đến xây dựng năng lực tổ chức, quy trình ứng phó khẩn cấp, tham vấn các bên liên quan, và cơ chế khiếu nại minh bạch dành cho cả người lao động lẫn cộng đồng xung quanh các cơ sở vận hành. Mỗi khung không chỉ được xây dựng như một bài tập tuân thủ, mà còn như một hệ thống chặt chẽ với các chỉ số đo lường được, trách nhiệm được xác định rõ ràng và được ban lãnh đạo đánh giá hàng năm. Kết quả là một bộ hồ sơ tuân thủ toàn diện, thể hiện không chỉ cam kết mà còn cả năng lực vận hành, đây là yếu tố then chốt để một tổ chức như CGIF quyết định có cấp bảo lãnh hay không.
Bà Noriko Nasu, Giám đốc Điều hành của CGIF, phát biểu: "Chúng tôi vui mừng được hỗ trợ đợt phát hành trái phiếu đầu tiên của SCommerce, đánh dấu trái phiếu được CGIF bảo lãnh đầu tiên trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam. Giao dịch này cho phép SCommerce – một tổ chức phát hành lần đầu – tiếp cận nguồn tài chính dài hạn bằng đồng nội tệ với kỳ hạn 7 năm, phù hợp với dòng tiền của dự án đầu tư trung tâm phân loại. Đợt phát hành nhấn mạnh cam kết liên tục của CGIF trong việc thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân tại Việt Nam, mở rộng đa dạng ngành nghề trên thị trường trái phiếu nội tệ, và giúp các tổ chức phát hành lần đầu tiếp cận nguồn vốn dài hạn hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng chiến lược của họ."
Nguồn vốn từ trái phiếu sẽ tài trợ cho việc xây dựng một trung tâm phân loại hiện đại tại Tân Kim, tỉnh Tây Ninh – một trung tâm trọng yếu nằm ở cửa ngõ khu vực phía nam Việt Nam, với lễ khởi công dự kiến vào tháng 8 năm 2026. Trung tâm phân loại này sẽ đóng vai trò là điểm neo phía Nam trong mạng lưới logistics toàn quốc của SCommerce, mở rộng đáng kể năng lực vận hành để đáp ứng nhu cầu của nền thương mại điện tử và kinh tế số đang tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam.
Khoản đầu tư này tiếp nối thành công của GHN Express trong việc đưa vào vận hành một trung tâm phân loại tự động quy mô lớn tại tỉnh Hưng Yên vào đầu năm 2026, thiết lập tiêu chuẩn mới về công nghệ logistics tại miền Bắc Việt Nam. Trung tâm phân loại Tân Kim mang cùng trình độ tự động hóa tiên tiến và xuất sắc vận hành vào khu vực phía nam hoàn thiện một hành lang logistics năng lực cao trải dài khắp đất nước, định vị SCommerce là lớp hạ tầng không thể thiếu của nền kinh tế số Việt Nam.
Ông Lương Duy Hoài, Tổng giám đốc SCommerce, phát biểu: "Đợt phát hành trái phiếu này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong hành trình tăng trưởng của SCommerce. Với sự bảo lãnh của CGIF, chúng tôi có thể tiếp cận nguồn tài chính dài hạn bằng đồng nội tệ, không chỉ tối ưu hóa cấu trúc vốn mà còn đặt nền tảng vững chắc cho đầu tư sâu hơn vào cơ sở hạ tầng logistics. Trung tâm phân loại Tân Kim tại khu vực phía nam là sự phản ánh cụ thể tầm nhìn của SCommerce: xây dựng một hệ sinh thái logistics công nghệ cao có khả năng theo kịp tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử của Việt Nam trong thập kỷ tới".
Bên cạnh giao dịch này, SCommerce công bố việc tái định vị thương hiệu chiến lược toàn diện cho mảng logistics B2B thành Giao Hàng Nặng, phục vụ khách hàng doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp, với toàn bộ dịch vụ và đầu tư công nghệ tập trung vào vận chuyển hàng nặng B2B.
Về mặt vận hành, Giao Hàng Nặng đã đạt tỷ lệ hàng hư hỏng dưới 1% và tỷ lệ giao hàng đúng hạn trên 98%, được hậu thuẫn bởi hệ thống giám sát kho hàng bằng AI trên toàn bộ mạng lưới cơ sở. Định tuyến đội xe và điều phối được quản lý thông qua các công cụ tối ưu hóa độc quyền được xây dựng riêng cho điều kiện đường bộ và môi trường pháp lý của Việt Nam – cung cấp độ chính xác lập kế hoạch mà các giải pháp thông thường không thể đáp ứng ở quy mô lớn. Tài xế được trang bị hệ thống dẫn đường chặng cuối do nội bộ xây dựng, được thiết kế sát với thực tế đường phố và hạ tầng đô thị tại Việt Nam, trong khi nền tảng thông minh vận hành được hỗ trợ bởi AI cung cấp cho mọi thành viên trong nhóm quyền truy cập tức thời vào dữ liệu thời gian thực trên toàn chuỗi logistics.
Hôm nay 23.4, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tọa đàm công bố kết quả điều tra hộ kinh doanh năm 2026. Cuộc điều tra được tiến hành từ tháng 2 - tháng 4, với phản hồi từ hơn 1.000 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố.
"Bức tranh nhìn thấy không mấy lạc quan, nhưng rất thật", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, nhấn mạnh tại sự kiện.
Cụ thể, 73,7% hộ kinh doanh cho biết chỉ lãi ít trong năm 2025; chỉ 1,9% đạt mức lãi như kỳ vọng. Cạnh đó, hơn 81% hộ bị giảm doanh thu, 75% bị giảm lượng khách hàng.
Phần lớn hộ kinh doanh đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng, dễ tồn tại những khó khăn dù chỉ ở mức nhẹ, không đủ sức chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo.
"Sức khỏe" kinh doanh yếu đi đã khiến hộ kinh doanh chuyển hóa thành tâm lý phòng thủ: 60,8% hộ dự kiến chỉ duy trì quy mô hiện tại trong 2 năm tới, 33% có xu hướng thu hẹp và chỉ 1,8% có ý định mở rộng.
"Trạng thái chủ đạo của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không còn là tìm kiếm tăng trưởng, mà chủ yếu là cố gắng duy trì sự tồn tại", ông Tuấn nhấn mạnh.
Điều đáng lưu tâm hơn nữa là khó khăn về pháp lý được đánh giá là nhóm áp lực lớn nhất, với 73,3% hộ kinh doanh cho biết đây là vấn đề ảnh hưởng lớn hoặc nghiêm trọng, cao hơn cả khó khăn về đầu vào, thị trường hay nguồn vốn.
Cụ thể, 71,2% gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử; 67,6% khó khăn trong hạch toán chi phí được trừ; 66,8% khó theo dõi cập nhật chính sách.
Phát hiện được ông Tuấn nhìn nhận rất quan trọng là, gánh nặng tuân thủ không giảm đi khi hộ kinh doanh lớn hơn. Khi chủ hộ cân nhắc mở rộng quy mô, họ phải đối mặt với một hệ thống kế toán phức tạp hơn, thủ tục thuế nặng hơn, chi phí nhân sự và công nghệ tăng lên, thậm chí có thể trở nên dễ bị siết tuân thủ hơn.
Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế của VCCI, phân tích, về bản chất, điểm nghẽn của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không chỉ nằm ở sức cầu yếu hay chi phí đầu vào tăng, mà còn nằm ở sự thiếu tương thích giữa yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp với năng lực tuân thủ của một khu vực chủ yếu gồm các đơn vị siêu nhỏ và nhỏ.
VCCI khuyến nghị, thời gian tới, cần ưu tiên giảm độ phức tạp của các quy định thuế, kế toán và hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp hơn với năng lực thực tế của hộ kinh doanh, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, nhóm học vấn thấp và nhóm lớn tuổi.
Đối với chính sách chuyển đổi lên doanh nghiệp, trọng tâm cần chuyển sang giảm chi phí chuyển đổi thực tế.
Điều này có thể bao gồm: các gói ưu đãi tài chính có điều kiện trong giai đoạn đầu; đơn giản hóa thủ tục hành chính hậu chuyển đổi; hỗ trợ kế toán, thuế trong những năm đầu vận hành; tạo ra một lộ trình nghĩa vụ tăng dần thay vì áp lực tuân thủ tăng đột ngột ngay sau khi chuyển đổi.
"Nếu không xử lý bài toán chi phí và rủi ro cảm nhận sau chuyển đổi, tỷ lệ sẵn sàng lên doanh nghiệp của hộ kinh doanh sẽ còn tiếp tục ở mức thấp", ông Thạch nhấn mạnh.
Phó chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Lê Thị Duyên Hải cho rằng, cần có thêm những khảo sát chuyên sâu hơn để phân loại hộ kinh doanh theo quy mô, hành vi, mục tiêu phát triển, từ đó thiết kế chính sách cho phù hợp.
Chính sách cần phản ánh sự đa dạng này thay vì áp dụng chung một cách tiếp cận. Cốt lõi là giúp hộ kinh doanh quản lý tốt đầu vào, xác định rõ lãi - lỗ và lựa chọn con đường phát triển phù hợp.
Từ góc độ cơ quan quản lý, bà Nguyễn Thị Thu Hà, chuyên viên chính Ban Chính sách, thuế quốc tế (Cục Thuế, Bộ Tài chính), cho biết, từ năm 2026 bỏ thuế khoán, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh được nâng lên 500 triệu đồng/năm.
Hiện nay, ngưỡng này đang được đề xuất nâng lên 1 tỉ đồng/năm. Nếu nâng lên mức 1 tỉ đồng/năm, dự kiến sẽ có 2,5 triệu hộ kinh doanh được miễn thuế.
"Chúng tôi đã thiết kế chính sách là hộ kinh doanh thuộc diện miễn thuế (doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống ở hiện tại và sắp tới là từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống - PV) chỉ phải thông báo doanh thu với cơ quan thuế 1 năm 1 lần vào ngày 31.12 của năm sau, rất đơn giản, dễ thực hiện", bà Hà nói.