Nhịp sống ngày càng vội vã nhưng lòng người có vẻ như đang chạy nhanh hơn những bước chân trở về nhà.
Tôi trở lại quê vào một chiều dịp lễ, khi mặt trời chỉ còn treo một vệt mỏng trên mái ngói. Mẹ đang cặm cụi rửa mớ rau bên cái chum nước quen thuộc. Nghe tiếng tôi gọi, mẹ ngẩng lên, nụ cười nở rất chậm, như sợ nếu cười nhanh quá sẽ làm khoảng cách bao năm bỗng trở nên rõ rệt.
Mẹ đặt rổ rau xuống, đi về phía tôi bằng những bước nhỏ chậm rãi, nhưng vòng tay thì mở rộng từ lúc còn cách tôi cả mấy mét.
“Về là được rồi” – mẹ nói, giọng run nhẹ như hơi lạnh thấm vào da.
Tôi ôm lấy mẹ, nhận ra mẹ gầy đi quá nhiều. Mùi áo mẹ vẫn vậy. Một thứ mùi phảng phất của nắng phơi ngoài hiên, của mồ hôi đã quen với gió đồng, của những đêm mẹ thức làm việc.
Mùi ấy, tôi đi xa bao nhiêu lâu cũng không thể tìm lại ở bất kỳ căn phòng ấm máy điều hòa nào.
Mọi thứ ngăn nắp đến quen thuộc. Tôi cởi áo khoác, chụp nhanh vài tấm ảnh định đăng mạng xã hội.
Nhưng tôi sững lại một chút. Thời công nghệ số đúng là tiện, nhưng cũng dễ làm người ta quên những chậm rãi thân thuộc. Khi mọi thứ chỉ còn là nội dung để đăng tải, những kỷ niệm đôi khi hóa thành đường truyền nhanh, sáng, nhưng không để lại hơi ấm.
Tối đó, cơm canh còn chưa dọn xong, điện thoại tôi đã liên tục đổ chuông. Tin nhắn công việc, tin từ bạn bè. Mẹ im lặng, chỉ ngồi xới cơm, cẩn thận gắp vào chén cho tôi những miếng ngon nhất.
“Con cứ làm việc đi” mẹ nói. Nhưng tôi thấy ánh mắt mẹ trôi về phía cửa sổ. Ánh mắt ấy buồn một cách hiền lành, như chấp nhận cả sự xa cách lẫn mong chờ.
Khi tôi vừa trả lời xong tin cuối thì mẹ đã dọn bữa xong từ lâu. Tôi vội xin lỗi. Mẹ chỉ đặt bàn tay gầy lên vai tôi: “Không sao đâu con. Thời nay ai cũng bận. Miễn là con còn nhớ đường về”.
Tin nhắn đến bằng những âm thanh điện tử. Điện thoại tôi lại sáng. Tôi định trả lời tin nhắn thì mẹ gọi í ới: “Ra sân ngồi với mẹ chút”.
Bên hiên, trời tối và thấp, bóng đêm như sắp rơi xuống mái nhà hàng xóm. Mẹ kéo tôi ngồi cạnh, đôi tay nắm lấy bàn tay tôi, lạnh nhưng vững chãi.
“Ngày xưa lúc con còn bé, cứ tối đến là cứ bám lấy mẹ, đòi bế hoài,” mẹ kể, giọng chìm vào gió. “Giờ lớn rồi, mẹ biết con có nhiều thứ phải lo. Nhưng mẹ vẫn thích có con ngồi bên cạnh”.
Tôi nhìn sang, thấy trong mắt mẹ loang loáng nước. Tôi lại trở về ký ức những ngày tôi còn nhõng nhẽo bên mẹ.
Hình như mẹ chẳng cần những lời chúc dài dòng, chẳng cần những món quà đắt giá, chẳng cần tấm hình lung linh để khoe với ai. Mẹ chỉ cần tôi ngồi cạnh, để mẹ biết mình vẫn còn giữ được một phần quan trọng nhất của cuộc đời.
Tôi bỏ điện thoại vào túi, tắt âm, rồi gối đầu lên vai mẹ như ngày còn bé. Mẹ cười, đôi vai khẽ run lên vì xúc động.
Tiếng thông báo tin nhắn vẫn rung từ túi áo, nhưng tôi không mở nữa. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, đó là hơi ấm từ bàn tay mẹ.
Làm sao mọi thứ có thể thay được cảm giác được truyền từ lòng bàn tay mẹ, ấm, run, và đầy tình thương?
Buổi chiều, tôi phụ mẹ thắp nhang lên bàn thờ. Mẹ đứng cạnh, miệng khấn rất chậm. Giọng mẹ run theo từng hạt bụi hương rơi xuống. Tôi biết mẹ đang xin cho con cái bình an, xin cho căn nhà này còn chỗ để chứa tiếng cười của tôi dù mai kia tôi lại đi làm xa mấy trăm cây số.
Tôi đặt tay lên vai mẹ. Mẹ ngước lên, đôi mắt đỏ hoe nhưng sáng rỡ.
“Lễ này con ở lại thêm với mẹ mấy ngày nhé?” mẹ hỏi.
Tôi gật đầu không cần nghĩ. Có những điều không thể dời sang dịp khác, cũng không thể chờ lúc rảnh rỗi. Tình thương của mẹ không chờ thông báo đến mới mở ra. Nó ở đó, lặng lẽ, như ngọn đèn dầu mẹ thắp mỗi cuối năm, không sáng chói, nhưng đủ để soi một đoạn đời người.
Trong căn nhà nhỏ của mẹ, hơi ấm không đến từ sóng Wi-Fi, mà đến từ bàn tay nắm rất chặt, từ nồi nước mùi già ủ lửa qua đêm, từ câu “về là được rồi” mà mẹ nói bằng cả một đời thương nhớ.
Giữa muôn vàn âm thanh điện tử, giữa những ánh sáng màn hình cứ nhấp nháy không ngừng, tôi hiểu ra một điều, rằng thế giới có thể đổi thay. Nhưng mẹ thì chỉ có một mong muốn duy nhất là được ôm lấy con mình, dù chỉ trong vài ngày ngắn ngủi nghỉ lễ.
Và đó là điều mà không một kết nối công nghệ nào có thể thay thế.
Theo Hãng tin Reuters ngày 18-5, Thái tử William (Anh) sẽ bán một phần điền trang ở vùng Cornwall trong thập kỷ tới nhằm đầu tư khoảng 670 triệu USD cho cộng đồng địa phương, bao gồm nhà ở giá rẻ và các dự án môi trường.
Tờ Times of London cho biết các giao dịch nói trên tương đương 20% tổng giá trị bất động sản ông sở hữu. Tài sản của Thái tử bao gồm những vùng đất rộng lớn, bất động sản thương mại và nhà ở.
Vùng Cornwall được thành lập vào thế kỷ 14 nhằm tạo ra nguồn thu nhập cho Thái tử Anh. Cornwall có quy mô 521,73km2.
Ông Will Bax, quan chức quản lý vùng Cornwall, cho biết: "Cornwall nên tồn tại với sứ mệnh tạo ra tác động tích cực, đặc biệt là ở những cộng đồng nơi chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt lớn".
Động thái nói trên được đưa ra trong bối cảnh Hoàng gia Anh đang chịu áp lực phải minh bạch hơn về tài chính và chứng minh rằng chế độ quân chủ mang lại giá trị xứng đáng cho người đóng thuế.
Ông Bax cho biết đang lên kế hoạch tập trung vào năm "vùng trọng điểm" ở quần đảo Scilly, Cornwall, Dartmoor và khu vực Bath, tất cả đều nằm ở phía tây nam nước Anh, cũng như khu vực Kennington của London.
Mặc dù Thái tử William hiện tại được hưởng lợi nhuận hoạt động của vùng Cornwall, ông không thể bán tài sản tại đây vì mục tiêu cá nhân. Các hoạt động của Cornwall được một hội đồng quản trị giám sát, có nhiệm vụ bảo vệ tài sản cho các thế hệ tương lai. Các giao dịch bất động sản lớn phải được chính phủ phê duyệt để đảm bảo giá trị lâu dài của tài sản.
"Tôi không thể bước ra khỏi cửa nhà. Có lúc tôi được báo tin có tới 50.000 người kéo đến nhà", Cheng Yunfu, 44 tuổi, ở thành phố Lâm Nghi, tỉnh Sơn Đông kể về mùa xuân năm 2021, thời điểm ông trở thành hiện tượng mạng.
Cheng có 15 năm bán mì tại các hội chợ luân phiên trong huyện với mức giá không đổi là 0,45 USD một bát. Ngày đông khách, ông làm việc liên tục từ sáng đến 18h, bán hơn 600 bát. "Tôi mang về nhà khoảng 30-45 USD tiền lãi, đủ cho gia đình chi tiêu", ông kể và cho biết nhà mình còn kiếm thêm từ việc bán nông sản.
Sự việc bắt đầu vào dịp Tết Nguyên đán 2021, khi một video ghi lại cảnh ông làm mì nước hầm xương với giá "siêu rẻ", đăng lên mạng xã hội. Bài đăng thu hút 200 triệu lượt xem, 350.000 lượt thích và 18.000 bình luận.
Lập tức, vlogger và người hiếu kỳ kéo đến bám theo ông để quay phim, phát trực tiếp. Sạp hàng chật cứng đám đông chen lấn, trèo lên ôtô, gây ách tắc. Điện thoại của ông liên tục nhận cuộc gọi từ người lạ.
Kèm theo sự tung hô là làn sóng miệt thị. Một số người tố cáo ông dàn dựng để gây chú ý hoặc cắt xén lời nói biến ông thành kẻ quên nguồn cội. Có người khẳng định ông tạo chiêu trò để nổi tiếng và kiếm tiền.
"Có quá nhiều thứ nằm ngoài tầm kiểm soát", Cheng nói.
Bà Hu Lirong, vợ ông Cheng, cho biết áp lực lớn đến mức chồng nhiều lần khóc khi về nhà. "Ông ấy là nông dân, không thể đối phó với những lời đàm tiếu", bà nói.
Sau đó, Cheng đăng một video trên tài khoản cá nhân có 2,7 triệu người theo dõi, đưa ra thông điệp: "Mong muốn lớn nhất của tôi là sống bình thường và tiếp tục làm mì". Ông quyết định không tham gia các hội chợ, chuyển sạp hàng về cố định tại cửa nhà và chỉ bán sau khi xong việc đồng áng.
Hiện tại, mạng xã hội không còn tập trung vào Cheng. Buổi sáng, ông nhào bột, nấu nước hầm xương và phục vụ vài chục khách quen. Ông không tăng giá mì và vừa dùng tiền tiết kiệm để xây nhà mới cho con trai.
Trên nền tảng Douyin, ông cùng con trai và vợ tự quay, chỉnh sửa các video ghi lại cảnh làm nông, trồng cây và bán nông sản địa phương. Các video không còn lượng tương tác đột biến như trước. Ông cho biết việc làm nội dung hiện tại không nhằm mục tiêu lợi nhuận, mức hoa hồng bán nông sản chỉ thu về khoảng 10% và bị trừ nhiều khoản phí.
Nhìn lại quá khứ, Cheng nhận ra sức mạnh gia đình giúp ông vượt qua giai đoạn tồi tệ nhất. "Con người không thể sống cả đời trong sự phán xét, mà phải sống vì những người chung một mái nhà", ông nói.
"Danh tiếng trên mạng đến nhanh, đi nhanh và phơi bày mọi góc cuộc sống của bạn trước công chúng", Cheng nói. Nhận xét về môi trường Internet, người đàn ông 44 tuổi cho biết chỉ cần giữ vững nguyên tắc làm việc, con người sẽ không bị cuốn theo những rắc rối trên mạng.
Nhắn gửi tới những người mơ ước nổi tiếng trên mạng, ông cho rằng internet là con thú dữ, không nên vắt kiệt sức để thuần hóa. "Dù làm gì, chỉ cần không trái lương tâm và nguyên tắc, bạn sẽ giữ vững được đôi chân trên mặt đất", Cheng đúc kết.
Giữa vùng núi xã Linh Sơn (Thanh Hóa), trang trại cá tầm của ông Hà Khắc Sâm (60 tuổi) nằm nép mình bên sườn đồi, bao quanh là rừng già và những khe suối đầu nguồn trong vắt.
Những ngày cuối tháng 5, khi nền nhiệt ngoài trời chạm ngưỡng 39-40 độ C, dòng nước từ suối Tá trên đỉnh Pù Rinh vẫn lạnh buốt, dao động 11-23 độ C quanh năm. Nguồn nước ấy được dẫn qua hệ thống ống dài hàng kilomet về các bể nuôi cá tầm giữa lưng chừng núi.
Hàng nghìn con cá tầm nặng từ vài kilogram đến cả chục kilogram bơi lội trong làn nước trong vắt. Tiếng nước chảy róc rách ngày đêm là âm thanh quen thuộc gắn bó với ông Sâm suốt hơn một thập kỷ qua.
Năm 2009, sau quá trình khảo sát, ngành khoa học tỉnh Thanh Hóa xác định suối Tá có điều kiện phù hợp để phát triển các loài cá nước lạnh như cá hồi, cá tầm. Tuy nhiên, việc tìm được hộ dân đủ điều kiện để thực hiện mô hình không đơn giản bởi chi phí đầu tư rất lớn, trong khi kỹ thuật nuôi hoàn toàn mới.
Khi đó, gia đình ông Hà Khắc Sâm được lựa chọn triển khai dự án và nhận hỗ trợ 200 triệu đồng từ địa phương.
"Được giao thực hiện dự án, tôi lo nhiều hơn vui. Đây là mô hình mới hoàn toàn, vốn đầu tư lớn. Nếu thất bại có thể mất hết tài sản tích cóp bao năm", ông Sâm nhớ lại.
Để hiện thực hóa dự án, việc đầu tiên ông làm là mở đường vào khu vực suối Tá. Sau đó, ông nhiều lần ra các trang trại nuôi cá hồi ở Sa Pa học hỏi kỹ thuật chăm sóc và vận hành hệ thống nuôi cá nước lạnh.
Khi đã nắm vững kỹ thuật, ông quyết định đầu tư hơn 3 tỷ đồng xây dựng 3 bể nuôi rộng 300 m2 cùng hệ thống đập chứa, đường ống dẫn nước từ đầu nguồn về trang trại.
Lứa đầu tiên, ông thả 6.000 con cá hồi giống. Giữa năm 2011, những lứa cá thương phẩm đầu tiên được xuất bán, mở ra nhiều kỳ vọng về một hướng phát triển kinh tế mới cho vùng núi.
Nhưng niềm vui chưa kéo dài bao lâu thì thiên tai ập đến.
Cuối năm 2011, một trận mưa lớn khiến nước suối dâng cao, tràn qua bể nuôi. Chỉ trong một đêm, gần 8 tấn cá theo dòng nước cuốn đi.
"Tôi mất hơn 3 tỷ đồng. Nhìn cá trôi hết mà bất lực. Vợ chồng gần như trắng tay sau trận lũ ấy", ông kể.
Nhiều người nghĩ ông sẽ từ bỏ, nhưng người đàn ông khi ấy ngoài 40 tuổi quyết định làm lại từ đầu.
Ông vay mượn thêm vốn, gia cố lại hệ thống bể nuôi, tiếp tục đầu tư con giống và kiên trì bám nghề.
Theo ông Sâm, cá tầm là loài cá "khó tính" bậc nhất. Chúng chỉ phát triển tốt trong môi trường nước lạnh, sạch và giàu oxy. Thức ăn chủ yếu là cám chuyên dụng nhập khẩu với giá khoảng 35.000 đồng/kg.
"Loài cá này có thể nhịn đói đến chết chứ nhất định không ăn thức ăn khác", ông nói.
Những năm sau đó, mô hình phát huy hiệu quả rõ rệt. Mỗi năm gia đình ông xuất bán khoảng 14 tấn cá thương phẩm. Với giá từ 250.000-280.000 đồng/kg, doanh thu đạt 3,5-4 tỷ đồng.
Từ thành công của ông Sâm, một số hộ dân địa phương cũng mạnh dạn đầu tư nuôi cá tầm bằng nước suối tự nhiên.
Tuy nhiên, khoảng hai năm trở lại đây, nghề nuôi cá tầm không còn thuận lợi như trước.
Ông Sâm cho biết áp lực lớn nhất đến từ nguồn cá tầm nhập khẩu giá rẻ ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường.
"Trước đây cá bán 250.000-280.000 đồng/kg, nay chỉ còn khoảng 180.000-200.000 đồng/kg nhưng tiêu thụ vẫn chậm. Nhiều nhà hàng từng lấy cá thường xuyên giờ chỉ nhập cầm chừng", ông nói.
Theo ông, cá tầm nuôi công nghiệp nhập khẩu có giá thấp hơn đáng kể nên dễ cạnh tranh về mặt thương mại. Trong khi đó, cá được nuôi bằng nước suối tự nhiên phải chịu chi phí đầu tư, vận hành và chăm sóc cao hơn nhiều.
Ông cho rằng chất lượng cá nuôi từ nguồn nước đầu nguồn tự nhiên có sự khác biệt rõ rệt.
"Cá thịt chắc, thơm hơn và được nhiều thực khách đánh giá cao. Nhưng người tiêu dùng đa số vẫn nhìn vào giá nên những hộ nuôi nhỏ như chúng tôi rất khó cạnh tranh", ông nói.
Không chỉ đối mặt áp lực giá bán, chi phí duy trì trang trại cũng là gánh nặng lớn. Với 11 bể nuôi hiện nay, riêng tiền thức ăn đã tiêu tốn hơn 100 triệu đồng mỗi tháng.
Bên cạnh đó, nghề nuôi cá tầm phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước tự nhiên nên luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Mùa mưa lũ, nước từ đầu nguồn thường đục ngầu, mang theo bùn đất khiến cá bị sốc môi trường, dễ chết hàng loạt.
"Năm ngoái mưa lớn kéo dài làm nước đục, cá chết rất nhiều. Người nuôi lúc nào cũng thấp thỏm vì thời tiết. Nay giá bán lại giảm mạnh nên càng thêm áp lực", ông Sâm cho hay.
Theo đại diện UBND xã Linh Sơn, từ hiệu quả ban đầu của mô hình nuôi cá tầm bằng nước suối tự nhiên, địa phương hiện có 3 hộ phát triển nghề này. Tuy nhiên, gia đình ông Hà Khắc Sâm vẫn là mô hình duy trì quy mô lớn nhất.