Theo Hãng tin TASS, trong cuộc phỏng vấn kênh RTVI ngày 31-3, Đại sứ Nga tại Tehran Alexey Dedov cho biết lãnh tụ tối cao Iran, ông Mojtaba Khamenei, hiện vẫn đang ở trong nước nhưng chưa xuất hiện trước công chúng.
“Như giới lãnh đạo Iran đã nhiều lần khẳng định, lãnh tụ tối cao Mojtaba Khamenei vẫn đang ở trong nước, song vì những lý do dễ hiểu, ông ấy tạm thời chưa lộ diện trước công chúng” – Đại sứ Nga nói.
Trước đó, Đài NDTV dẫn nguồn từ báo Al-Jarida (Kuwait) cho hay ông Mojtaba Khamenei được cho là đã bí mật tới Matxcơva trên một chuyến bay quân sự của Nga để điều trị y tế.
Sau khi đến nơi, lãnh tụ tối cao đã trải qua một ca phẫu thuật và hiện đang được chăm sóc tại một cơ sở y tế nằm trong khuôn viên dinh thự của Tổng thống Putin.
Nguồn tin này cũng tiết lộ Tổng thống Putin là người chủ động đề nghị hỗ trợ y tế trong cuộc điện đàm với Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian hôm 10-3. Tuy nhiên, phía Nga từ chối bình luận về thông tin trên.
“Chúng tôi sẽ không bình luận về những thông tin như vậy” – người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nói với Hãng tin TASS.
Đại sứ Iran tại Nga Kazem Jalali sau đó cũng lên tiếng bác bỏ thông tin này. “Thông tin cho rằng lãnh tụ tối cao đã tới Nga để điều trị y tế chỉ là một hình thức mới của chiến tranh tâm lý” – ông Kazem Jalali viết trên X.
Theo NDTV, Iran hiện là một trong những đồng minh thân cận nhất của Nga tại Trung Đông. Tổng thống Putin trước đó đã lên án vụ sát hại cố lãnh tụ tối cao Ali Khamenei, đồng thời cam kết sẽ ủng hộ Tehran một cách “kiên định”.
Đại sứ Alexey Dedov trong cuộc phỏng vấn cũng nhắc lại Tổng thống Nga Vladimir Putin là một trong những nguyên thủ đầu tiên gửi điện chúc mừng ông Mojtaba Khamenei.
Trong thông điệp này, nhà lãnh đạo Nga bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Tehran và khẳng định tinh thần đoàn kết với “những người bạn Iran”.

Mỹ ngày 4/7/1776 tuyên bố độc lập, mở đầu cho quá trình hình thành một quốc gia mới ở Bắc Mỹ. Gần 11 năm sau, các nhà lập quốc Mỹ mới soạn thảo hiến pháp Mỹ và thông qua để văn kiện này có hiệu lực từ năm 1789, trở thành nền tảng cho hệ thống chính trị liên bang.
Sau hơn hai thế kỷ, hiến pháp Mỹ vẫn là một trong những văn kiện lập pháp lâu đời và có sức ảnh hưởng nhất thế giới. Nội dung hiến pháp Mỹ cũng đối mặt nhiều nỗ lực thay đổi trong thời gian này. Các nghị sĩ đã trình gần 12.000 đề xuất và chỉ 27 tu chính án được phê chuẩn, trở thành một phần hiến pháp. Trong số này, 10 tu chính án đầu tiên nằm trong Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ năm 1791.
Trong số những đề xuất bị bác bỏ có những ý tưởng khác thường mà nếu được thông qua, nước Mỹ có thể đã trở thành một phiên bản rất khác với hiện tại.
Đổi tên quốc gia
Năm 1866, hạ nghị sĩ George Washington Anderson đề xuất bỏ cụm từ United States (Hợp chúng quốc) khỏi tên chính thức của đất nước và đổi thành America (Mỹ). Anderson lập luận rằng tên gọi hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự thống nhất và vị thế mà nước Mỹ có thể đạt được trong tương lai, nhưng đề xuất này không được chấp nhận.
Năm 1893, hạ nghị sĩ Lucas Miller đưa ra một ý tưởng táo bạo hơn. Ông trình cùng lúc 46 dự luật, trong đó có một đề xuất đổi tên quốc gia thành United States of the Earth (Hợp chúng quốc Trái Đất).
Ông cho rằng nước Mỹ có thể tiếp tục mở rộng cho đến khi mọi quốc gia trên thế giới đều gia nhập liên bang. Đề xuất bị dư luận chế giễu và nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Xóa bỏ ghế Tổng thống
Năm 1860, ngay trước khi nội chiến Mỹ xảy ra, hạ nghị sĩ John William Noell đã đề xuất bãi bỏ chức vụ tổng thống và thay bằng một hội đồng hành pháp ba thành viên đến từ ba khu vực khác nhau của đất nước. Mỗi thành viên có quyền phủ quyết hai người còn lại.
Ý tưởng này tiếp tục xuất hiện sau nội chiến. Năm 1878, hạ nghị sĩ Milton Isaiah Southard đề xuất thành lập hội đồng hành pháp gồm ba tổng thống, đại diện cho khu vực miền Tây, miền Nam và khu vực miền Đông cùng miền Trung. Southard cho rằng người dân Mỹ phản đối việc quyền lực tập trung vào một cá nhân, vì điều đó khiến tổng thống mang dáng dấp của chế độ quân chủ.
Xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ
Sau khi Tu chính án thứ 22 được phê chuẩn vào năm 1951, quy định tổng thống chỉ được giữ chức tối đa hai nhiệm kỳ, các nghị sĩ Mỹ đã nhiều lần tìm cách bãi bỏ quy định này để tổng thống có thể phục vụ số nhiệm kỳ không giới hạn nếu tiếp tục được cử tri lựa chọn.
Những người phản đối cho rằng Tu chính án thứ 22 về bản chất là "phi dân chủ, vì ngăn cản cử tri bầu một ứng viên đủ năng lực mà họ ủng hộ". Ngược lại, phe ủng hộ giới hạn nhiệm kỳ cho rằng đây là "cơ chế kiểm soát thiết yếu nhằm ngăn chặn sự sùng bái cá nhân và quyền lực tổng thống trở nên quá lớn".
Bốc thăm bầu tổng thống
Nhiều đề xuất sửa đổi Hiến pháp từng tìm cách thay đổi phương thức bầu tổng thống, nhưng ít ý tưởng nào khác thường như đề xuất từ thượng nghị sĩ James Hillhouse vào năm 1808.
Hillhouse đề xuất rút ngắn nhiệm kỳ thượng nghị sĩ từ 6 năm xuống còn 3 năm và sắp xếp để mỗi năm có 1/3 số ghế được bầu lại. Các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm sẽ bốc một quả bóng từ trong hộp. Người bốc trúng quả bóng màu duy nhất sẽ trở thành tổng thống trong thời hạn một năm.
Hillhouse không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng bốc thăm để chọn tổng thống. Tại Hội nghị Lập hiến năm 1787, đại diện bang Pennsylvania James Wilson từng đề xuất chọn ngẫu nhiên một nhóm nhỏ nghị sĩ có quyền quyết định ai giữ chức tổng thống.
"Đây là ý tưởng sáng tạo, nhưng hầu như không ai cho rằng đó là một phương án khả thi", theo sử gia David O. Stewart, tác giả cuốn The Summer of 1787: The Men Who Invented the Constitution.
Thêm/xóa bỏ phó tổng thống
Năm 1897, sử gia Herman Ames, Đại học Pennsylvania, liệt kê các đề xuất sửa đổi hiến pháp kể từ khi Mỹ lập quốc và ghi nhận có 7 đề xuất bãi bỏ chức vụ phó tổng thống. Phe ủng hộ cho rằng đây là một vị trí "thừa thãi", và một trong những người đề xuất là Hillhouse. Những nỗ lực tương tự vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 20.
Những người khác lại cho rằng nước Mỹ cần nhiều hơn một người giữ vai trò phó tổng thống.
Năm 1881, hạ nghị sĩ Nathaniel Job Hammond đề xuất thành lập ba chức danh gồm phó tổng thống thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Năm 1964, thượng nghị sĩ Kenneth Keating đề xuất chia chức vụ này thành hai vị trí riêng biệt, lần lượt phụ trách nhánh hành pháp và lập pháp.
Xóa bỏ Thượng viện
Năm 1911, hạ nghị sĩ Victor Berger cho rằng Thượng viện "là cơ quan cản trở và vô tác dụng, là mối đe dọa đối với các quyền tự do của người dân và là rào cản đối với sự phát triển của xã hội". Ông đề xuất xóa bỏ Thượng viện, tập trung quyền lập pháp vào Hạ viện.
Theo Berger, các quyết định của Hạ viện sẽ trở thành "luật tối cao", tổng thống sẽ không còn quyền phủ quyết, tòa án cũng không được quyền tuyên bố các quyết định đó là vi hiến.
Xóa bỏ cử tri đoàn
Việc bầu tổng thống Mỹ thông qua cử tri đoàn thay vì bằng phổ thông đầu phiếu đã gây tranh cãi ngay từ khi hiến pháp được ban hành. Sử gia Ames mô tả "không có phần nào của hiến pháp gây ra nhiều sự bất mãn và kéo theo nhiều đề xuất sửa đổi nhằm thay đổi như cơ chế này".
Một trong những nguyên nhân chính là kết quả phiếu đại cử tri không phải lúc nào cũng trùng với kết quả phổ thông đầu phiếu. Điều này khiến ứng viên giành nhiều phiếu bầu của cử tri toàn quốc hơn vẫn thất cử. Tình huống này đã xảy ra 5 lần, trong các cuộc bầu cử tổng thống năm 1824, 1876, 1888, 2000 và 2016.
Một đề xuất thay thế cử tri đoàn bằng hình thức bầu cử trực tiếp từng được Hạ viện thông qua năm 1969, nhưng không thể vượt qua Thượng viện.
Nỗ lực gần nhất được hạ nghị sĩ Steve Cohen đệ trình tháng 12/2024. Ông cho rằng cử tri đoàn là di sản còn sót lại từ thế kỷ 18, khi cử tri hầu như không biết các ứng viên là ai, trong khi bối cảnh hiện tại đã khác nhiều.
Lập tòa án vượt thẩm quyền Tòa án Tối cao
Ý tưởng xuất hiện khi có quan điểm cho rằng Tòa án Tối cao nhiều lần can thiệp và vô hiệu hóa các đạo luật cấp bang, dẫn đến nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp cấp cao hơn nữa. Cơ quan này sẽ có quyền xem xét và hủy bỏ các phán quyết của Tòa án Tối cao.
Đề xuất sớm nhất được cho là từ thượng nghị sĩ Garrett Davis năm 1867, kêu gọi lập "hội đồng xét xử" với mỗi bang bổ nhiệm một thành viên. Những đề xuất sau đó phát triển ý tưởng này thành một tòa án gồm các chánh án hoặc thẩm phán cao nhất từng bang, gọi là Court of the Union (Tòa án của Liên bang).
It nhất 15 đề xuất sửa đổi hiến pháp để lập Tòa án của Liên bang đã được đệ trình trong giai đoạn 1963-1981 nhưng đều thất bại.
Giới hạn tài sản cá nhân
Năm 1933, thời điểm u ám nhất trong Đại Suy thoái, hạ nghị sĩ Wesley Lloyd đề xuất trao cho quốc hội quyền đặt ra mức trần đối với tài sản cá nhân của người Mỹ. Để giảm bớt tính cực đoan của đề xuất, Lloyd cho rằng mức trần không nên thấp hơn 1 triệu USD, tương đương hơn 25,7 triệu USD theo giá trị hiện nay.
"Lý do nhiều người quá nghèo là vì một số rất ít người lại quá giàu", ông Lloyd lập luận.
Cho người dân Mỹ quyền bỏ phiếu tuyên chiến
Quyền tuyên chiến, vốn được hiến pháp Mỹ trao cho quốc hội, từ lâu đã là chủ đề gây nhiều tranh cãi và cũng là mục tiêu của nhiều đề xuất sửa đổi.
Năm 1916, một năm trước khi Mỹ tham gia Thế chiến I, hạ nghị sĩ Denver Samuel Church đề xuất một tu chính án quy định mọi tuyên bố chiến tranh trước hết phải được đưa ra trưng cầu dân ý và chỉ có hiệu lực nếu được đa số cử tri chấp thuận. Ông vẫn đề xuất ngoại lệ đối với các trường hợp khẩn cấp, như khi Mỹ bị tấn công.
Trong những năm sau đó, đặc biệt là suốt thập niên 1930 khi nguy cơ chiến tranh ở châu Âu ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất tương tự tiếp tục được trình lên quốc hội Mỹ.
Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ, tu chính án được phê chuẩn gần đây nhất là Tu chính án thứ 27, có hiệu lực năm 1992. Tu chính án quy định mọi luật tăng lương cho các thành viên quốc hội chỉ có hiệu lực sau cuộc bầu cử tiếp theo, ngăn quốc hội tự tăng lương trong nhiệm kỳ hiện tại.
Cho đến nay, hiến pháp Mỹ mới chỉ có một tu chính án từng bị bãi bỏ. Đó là khi Tu chính án thứ 21 được phê chuẩn năm 1933 để hủy bỏ Tu chính án thứ 18 về lệnh cấm rượu.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Ông Trump: Mỹ có thể phá hủy toàn bộ cầu, nhà máy điện Iran trong 4 giờ

"Chúng tôi có một kế hoạch, dựa vào sức mạnh quân sự Mỹ, trong đó toàn bộ cầu tại Iran sẽ bị phá hủy trước 0h đêm mai. Tất cả nhà máy điện ở Iran sẽ ngừng hoạt động, bốc cháy, phát nổ và không bao giờ có thể hoạt động trở lại. Ý tôi là phá hủy hoàn toàn trước nửa đêm, chúng tôi có thể thực hiện điều đó chỉ trong 4 giờ nếu muốn", Tổng thống Donald Trump phát biểu tại cuộc họp báo ngày 6/4.
Lãnh đạo Mỹ còn cảnh báo "loại bỏ hoàn toàn" Iran nếu nước này không đáp ứng hạn chót do ông đặt ra để mở eo biển Hormuz. "Toàn bộ đất nước đó có thể bị xóa sổ chỉ trong một đêm. Đêm đó có thể là đêm mai", ông tuyên bố.
Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya, "đầu não tối cao" của các lực lượng vũ trang Iran, cùng ngày tuyên bố những "lời đe dọa vô căn cứ" của ông Trump sẽ không làm ảnh hưởng tới tinh thần và hoạt động của binh sĩ nước này. "Iran vẫn tiếp tục các chiến dịch tấn công mang tính áp đảo nhằm vào kẻ thù Mỹ và Israel", người phát ngôn của cơ quan này cho biết.
Iran đã gần như phong tỏa eo biển Hormuz, huyết mạch hàng hải vận chuyển 20% nguồn cung dầu toàn cầu, kể từ khi Mỹ và Israel bắt đầu tiến hành chiến dịch tấn công hiệp đồng ngày 28/2.
Tổng thống Trump ngày 4/4 cho Iran 48 giờ để đạt thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz nếu không muốn bị tàn phá cơ sở hạ tầng. Ông sau đó lùi hạn chót đến trước 20h ngày 7/4 (7h ngày 8/4 giờ Hà Nội). Giới chức Iran bác bỏ tối hậu thư, cảnh báo "mọi hành động liều lĩnh" của Mỹ sẽ khiến toàn khu vực "chìm trong biển lửa".
Truyền thông quốc gia Iran ngày 6/4 cho biết nước này đã chuyển phản hồi đối với đề xuất của Mỹ về chấm dứt chiến sự thông qua bên trung gian là Pakistan. Đề xuất ngừng bắn mà Iran đưa ra gồm 10 điều khoản, trong đó Tehran bác bỏ phương án ngừng bắn tạm thời, nhấn mạnh phải chấm dứt chiến tranh về lâu dài và tôn trọng các lợi ích của Iran.
Tehran cũng đưa ra thêm loạt yêu cầu như chấm dứt xung đột trong khu vực, thiết lập cơ chế bảo đảm lưu thông an toàn qua eo biển Hormuz, tái thiết và dỡ bỏ các lệnh trừng phạt nhằm vào Iran.
Tổng thống Trump cho hay đề xuất ngừng bắn mà Iran đưa ra là đáng chú ý, nhưng "chưa đủ tốt" và chưa đáp ứng các yêu cầu của ông, nhưng không nêu cụ thể.
Như Tâm (Theo AFP, Reuters)

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Tommy Pigott cho biết chính quyền đang xem xét yêu cầu khoản tiền 6 chữ số này nhằm bảo đảm người nhập cư “có khả năng tự chủ về tài chính” và “đóng góp cho xã hội nhiều hơn những gì họ nhận được".
“Chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với Bộ An ninh Nội địa để triển khai các biện pháp hợp lý và hiệu quả nhằm thực thi luật pháp Mỹ, khôi phục tính toàn vẹn của hệ thống nhập cư và bảo vệ các chương trình phúc lợi công của Mỹ khỏi gánh nặng tài chính do những người nước ngoài đến Mỹ với các nhu cầu y tế hoặc chi phí lớn khác gây ra", ông Pigott nói trong một tuyên bố gửi tới trang tin The Hill.
Ông cho biết thêm: “Trong khuôn khổ sáng kiến toàn diện này, Bộ Ngoại giao đang xem xét sử dụng một thẩm quyền pháp lý đã tồn tại từ lâu theo Đạo luật Di trú và Quốc tịch (INA), yêu cầu một số người xin thị thực, những người vốn có thể bị từ chối cấp thị thực vì có khả năng trở thành gánh nặng cho ngân sách công, phải nộp một khoản tiền bảo đảm để chứng minh rằng họ có đủ nguồn lực tài chính để tự nuôi sống bản thân".
Trong những tháng gần đây, ông Trump và các nghị sĩ Cộng hòa đã thúc đẩy các biện pháp siết chặt nhập cư bất hợp pháp, bao gồm các chiến dịch trục xuất quy mô lớn. Họ cũng gần đây đưa ra các dự luật nhằm hạn chế tình trạng “du lịch sinh con”.
Việc áp đặt các khoản phí hoặc tiền bảo đảm ở mức rất cao cũng được xem là một cách để sàng lọc người nhập cư theo khả năng tài chính.
Trước đây, chính quyền Tổng thống Donald Trump từng tìm cách áp dụng phí 100.000 USD đối với đơn xin thị thực lao động H-1B, nhưng biện pháp này đã bị một thẩm phán liên bang bác bỏ. Thẩm phán cho rằng chính quyền đã vượt quá thẩm quyền của mình và xâm phạm quyền của Quốc hội trong việc thiết lập chính sách nhập cư cũng như các loại thuế, phí.
Thị thực H-1B cho phép các doanh nghiệp Mỹ tuyển dụng lao động nước ngoài có tay nghề cao cho các vị trí chuyên môn, đặc biệt trong ngành công nghệ. Người được cấp H-1B thường được phép cư trú hợp pháp tại Mỹ trong 3 năm, nhưng họ không phải là thường trú nhân hợp pháp, khác với người xin thẻ xanh.
Hiện nay, lệ phí xin thẻ xanh phụ thuộc vào từng diện cụ thể và việc người nộp đơn đang ở trong hay ngoài nước Mỹ.
Đối với những người nộp hồ sơ điều chỉnh tình trạng cư trú tại Mỹ, lệ phí tiêu chuẩn cho mẫu đơn I-485 là 1.440 USD. Những người cần xin giấy phép lao động hoặc giấy tờ đi lại có thể phải trả thêm phí, trừ một số trường hợp nộp hồ sơ đồng thời.
Những người nộp đơn từ bên ngoài nước Mỹ thường phải trả 325 USD phí xin thị thực nhập cư thông qua hệ thống trực tuyến CEAC của Bộ Ngoại giao Mỹ. Sau khi được cấp thị thực, họ còn phải nộp thêm 235 USD phí của Cơ quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) để xử lý hồ sơ và sản xuất thẻ xanh.
Do đó, yêu cầu khoản tiền bảo đảm 100.000 USD, nếu được thông qua, sẽ là một mức tăng cực lớn đối với những người muốn trở thành thường trú nhân tại Mỹ. Theo chính sách đang được đề xuất, chính quyền Mỹ sẽ thu khoản tiền này từ người nộp đơn hoặc người thân của họ tại Mỹ, sau đó hoàn trả vào một thời điểm sau đó.
Tin Gốc: Dân Trí

