Tôi có cô chú ngoài 50 tuổi, mưu sinh bằng một cửa hàng tạp hóa nhỏ nằm trên vỉa hè một con phố trung tâm Hà Nội. Cửa hàng chật hẹp nên bao năm nay, phần lớn hàng hóa đều được bày tràn ra khoảng vỉa hè phía trước cửa. Khách quen chỉ cần tấp xe sát lề đường, gọi với vào là mua được đồ. Nhờ tiện lợi như thế mà cửa hàng lúc nào cũng đông khách, đủ nuôi sống cả gia đình.
Nhưng từ khi Hà Nội đồng loạt siết chặt trật tự đô thị, xử lý tình trạng lấn chiếm vỉa hè, cuộc sống của cô chú bắt đầu đảo lộn. Hàng hóa buộc phải dọn hết vào trong nhà. Từ ngoài đường nhìn vào, cửa hàng trở nên mờ nhạt và khó nhận biết hơn trước. Người đi đường ít ghé lại, khách cũng giảm dần. Tháng vừa rồi, doanh thu của cô chú giảm gần một nửa.
Mỗi lần gọi điện, cô chú đều than thở “mất ăn, mất ngủ” vì lo. Hai người không có lương hưu, cả nhà chỉ trông chờ vào quầy tạp hóa nhỏ ấy. Ở tuổi ngoài 50, việc chuyển nghề hay tìm sinh kế mới đâu còn dễ dàng. Nghe cô chú kể, tôi thực sự thương và hiểu cho nỗi vất vả của những người phải bám vào từng mét vỉa hè để kiếm sống qua ngày.
Nhưng nếu nhìn rộng hơn một chút, tôi cũng hiểu vì sao thành phố phải làm quyết liệt? Vỉa hè ở các đô thị Việt Nam vốn đã rất nhỏ. Nếu người dân tiếp tục bày hàng hóa, dựng mái che, treo bảng hiệu, đỗ xe kín lối thì người đi bộ sẽ đi ở đâu? Bao năm qua, chuyện lấn chiếm vỉa hè dường như đã trở thành thói quen. Một người lấn ra thì nhiều người khác cũng làm theo. Người này dựng mái bạt, người kia kê thêm quầy hàng. Dần dần, nhiều nơi vỉa hè biến mất hoàn toàn, thậm chí còn lấn xuống lòng đường gây cản trở giao thông mà không ít người xem đó là điều bình thường.
Điều đáng nói là tâm lý “ai cũng làm nên mình làm” khiến việc vi phạm kéo dài hàng chục năm. Nếu quản lý nửa vời, cho thuê hay thu phí sử dụng tạm thời mà thiếu kiểm soát chặt chẽ thì tình trạng lấn chiếm sẽ càng dễ biến tướng. Hôm nay cho bày ra một mét, ngày mai sẽ lấn thêm hai mét. Cuối cùng, lợi ích cá nhân lại đè lên lợi ích cộng đồng.
>> Xe hơi bị viết xước ‘trả thù’ vì đỗ trước quán trà đá vỉa hè
Tôi từng sang Bangkok (Thái Lan) và rất ấn tượng khi thấy vỉa hè ở đó gần như dành trọn cho người đi bộ. Hàng quán được sắp xếp vào khu vực riêng, có quy định rõ ràng. Người kinh doanh hiểu giới hạn của mình, còn người dân có không gian để đi bộ an toàn. Không cần nói đến những nước phát triển xa xôi, ngay một quốc gia Đông Nam Á gần Việt Nam cũng đã làm được điều mà chúng ta vẫn còn loay hoay.
Từ ngày nhiều tuyến phố ở Hà Nội thông thoáng hơn, tôi nhận ra lợi ích rất rõ ràng. Cháu tôi có thể đi bộ đến trường trên vỉa hè thay vì phải né xe máy dưới lòng đường. Ba mẹ tôi buổi tối có chỗ tản bộ an toàn hơn. Những điều tưởng nhỏ ấy thực ra lại là nhu cầu rất cơ bản của một đô thị văn minh.
Tôi biết sẽ có nhiều người như cô chú tôi chịu ảnh hưởng trong giai đoạn đầu. Và thành phố cũng cần tính đến giải pháp hỗ trợ sinh kế, quy hoạch khu buôn bán phù hợp để người lao động nhỏ lẻ không bị dồn vào đường cùng. Nhưng nếu chỉ vì khó khăn trước mắt mà tiếp tục chấp nhận cảnh đường phố nhếch nhác, lộn xộn, người đi bộ bị đẩy xuống lòng đường thì vòng luẩn quẩn ấy sẽ còn kéo dài mãi.
Vỉa hè sinh ra để phục vụ cộng đồng, không phải để trở thành tài sản riêng của bất kỳ ai. Một nền kinh tế không thể dựa mãi vào việc tận dụng sự lộn xộn và dễ dãi trong quản lý đô thị. Tôi thương cô chú mình, nhưng tôi cũng muốn con cháu sau này được sống trong những thành phố có trật tự, an toàn và văn minh hơn. Muốn thay đổi, chắc chắn sẽ có những xáo trộn và hy sinh nhất định. Nhưng nếu không bắt đầu quyết liệt từ hôm nay, chúng ta sẽ còn để sự nhếch nhác ấy kéo dài đến bao giờ?
Tôi hy vọng Hà Nội rồi đến TP HCM sẽ đủ kiên trì để làm được điều mà người dân đã mong đợi suốt nhiều năm qua: trả lại vỉa hè đúng nghĩa cho người đi bộ.
"Năm 1999, tôi làm trong một công ty của Nhật tại Việt Nam, cũng bị đối xử không ra gì. Sếp mới khi đó muốn thay cả nhóm nhân viên cũ (cùng làm từ khi công ty mới thành lập). Sau đó, 80% đồng nghiệp của tôi đã xin nghỉ việc. Còn tôi vẫn cố chịu đựng. Cả một năm sau đó, tôi cứ sáng đi chiều về, không được cho làm bất cứ việc gì quan trọng.
Mãi đến khi các thành viên mới ('lính cũ' mà sếp kéo về) có nguy cơ bị mất hợp đồng với một khách hàng tiềm năng lâu năm, trong khi chỉ còn 20 ngày nữa là phải giao hàng, tôi và những người cũ mới được sếp lớn gọi qua nhờ hỗ trợ giải quyết. Thực ra, sếp không trực tiếp mở lời mà nhờ các nhân viên thân tín qua nói với chúng tôi bằng giọng bề trên. Thấy vậy, tôi chỉ thản nhiên đáp: 'Nghỉ lâu rồi nên hết mối và không thể giúp gì được'.
Sau đó, sếp bên Nhật phải bay mở cuộc họp nói chuyện với chúng tôi hai lần, tôi mới đồng ý, nhưng ra nhiều điều kiện rõ ràng và tất cả phải nhất định tuân theo. Và tôi ra tay trong nửa tháng đã giúp mọi việc được giải quyết ổn thỏa, công ty xuất hàng trước thời hạn vài ngày. Từ đó trở đi, không ai dám gây khó dễ cho tôi nữa".
Đó là chia sẻ của độc giả Tientanovn về cách đối phó của bản thân sau bài viết "3 năm nay tôi bị sếp 'sa thải thầm lặng'". "Quiet firing" không diễn ra bằng một quyết định cho nghỉ việc rõ ràng, mà bằng hàng loạt tín hiệu khiến nhân viên dần mất động lực và buộc phải tự rời đi: bị cắt giảm cơ hội phát triển, không được giao việc quan trọng, liên tục bị phớt lờ hoặc đánh giá thiếu công bằng... Trong tình huống đó, phản ứng theo cảm xúc thường chỉ khiến người lao động rơi vào thế bất lợi hơn. Thẳng thắn trao đổi với cấp trên, chủ động tìm cơ hội mới, tiếp tục chứng minh năng lực hay chấp nhận rời đi để bảo vệ sức khỏe tinh thần, hay im lặng chịu đựng? Đó là câu hỏi khiến không ít người trăn trở.
>> Tôi vẫn kiên định bám nghề sau khi thất nghiệp
Chọn cách rời đi thay vì chịu đựng bất công, bạn đọc Tramnguy bình luận: "Tôi từng bị 'sa thải thầm lặng' trong thời gian gần ba năm. Năm thứ nhất, khi nhận ra vấn đề, tôi chủ động đề xuất giảm lương nhưng sếp không đồng ý. Đến kỳ review lương, sếp lại tăng lương cho tôi. Năm thứ hai, tôi chủ động xin nghỉ, sếp cũng không đồng ý vì lúc đó tôi đang theo một dự án. Nếu tôi nghỉ việc dự án đó sẽ hỏng giữa chừng, nên sếp khuyên và tôi ở lại. Năm thứ ba, tôi tiếp tục xin nghỉ, lần này giống như giọt nước tràn ly khi tôi bị quy trách nhiệm gánh thay cho cả team dự án.
Nhìn lại thời gian ba năm đó, tôi gần như bị cô lập, giao tiếp chính của tôi chủ yếu là với sếp. Tôi rời đi trong êm đẹp để cho trọn vẹn, nhưng sau đó xóa toàn bộ thông tin liên hệ của những người mà trước đây chủ động cô lập tôi. May mắn là khi rời công ty ở tuổi 42 tôi có công việc mới tốt hơn và được sếp mới tín nhiệm cao".
Đồng quan điểm, độc giả Hố Đen nói thêm:"Tôi cũng rơi vào tình cảnh tương tự chỉ vì mâu thuẫn với các lãnh đạo. Ban đầu, họ đặt điều vu khống tôi để ép nghỉ nhưng không được. Sau đó, họ phân tôi dạy ba tiết ở ba buổi khác nhau. Không chấp nhận bị đối xử bất công, tôi nghỉ việc luôn. Từ ngày đó, tôi tự hứa với bản thân luôn tìm cách tạo dựng một nguồn thu nhập riêng bất chấp mang tiếng là 'không cống hiến hết mình'. Tôi mất nhiều thời gian và phải đến gần 40 tuổi mới tìm được hướng ổn định và chính thức chấm dứt tháng ngày làm thuê cho người khác".
Tuy nhiên, không phải ai cũng dám đứng lên đấu tranh hay dứt khoát nghỉ việc để tìm cơ hội mới, bạn đọc RĐ lại chọn cách im lặng: "Quan điểm của tôi là khi đi làm bản thân sẽ luôn làm hết mình vì công ty đã trả đủ lương mua sức lao động của mình. Còn nếu tôi vẫn nhận lương dù không được giao việc thì đó là việc của công ty. Hàng ngày, tôi vẫn tốn thời gian (tự do cá nhân) để vào văn phòng làm việc, vậy thì tôi nhận lương hoàn toàn không áy náy gì. Nhiệm vụ của quản lý là giao việc cho nhân viên, nếu sếp không giao việc thì đó là lỗi họ chứ không phải tôi, nên chẳng việc gì phải áy náy".
Những ngày gần đây, tôi thấy không ít người bàn luận về việc liệu đây có phải là thời điểm thích hợp để xuống tiền mua chung cư hay không? Sau giai đoạn tăng nóng từ giữa 2023 đến 2025, thị trường chuyển nhượng chung cư Hà Nội có dấu hiệu chững giá và đi ngang từ đầu năm nay. Cá nhân tôi vẫn chọn đứng ngoài quan sát, dù nhu cầu mua nhà ở là có thật.
Tôi cho rằng giá chung cư hiện nay vẫn đang ở mức quá cao so với khả năng chi trả của phần lớn người lao động. Tôi còn nhớ giai đoạn hai, ba năm trước, nhiều dự án liên tục thiết lập mặt bằng giá mới. Có những căn hộ chỉ trong vòng một đến hai năm đã tăng hàng tỷ đồng. Không ít người mua nhà cảm thấy sốt ruột vì sợ càng chờ càng đắt, trong khi giới đầu tư cũng đẩy mạnh sử dụng đòn bẩy tài chính với kỳ vọng giá sẽ tiếp tục đi lên.
Nhưng từ đầu năm nay, bức tranh đã khác. Giá chào bán trên thị trường thứ cấp không còn tăng mạnh như trước. Nhiều căn hộ được rao bán trong thời gian dài nhưng giao dịch không dễ dàng như giai đoạn cao điểm. Một số nhà đầu tư vay vốn lớn bắt đầu phải bán lại tài sản để thu hồi dòng tiền hoặc giảm áp lực tài chính.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa mặt bằng giá đã trở nên hấp dẫn. Hiện nay, không ít dự án tại Hà Nội vẫn được giao dịch quanh ngưỡng 90-100 triệu đồng mỗi m2, thậm chí cao hơn ở một số khu vực. Với mức giá này, một căn hộ diện tích khoảng 70 m2 đã có giá từ 6 đến 7 tỷ đồng. Tôi tự hỏi có bao nhiêu gia đình trẻ với thu nhập từ lương có thể dễ dàng tiếp cận mức giá đó?
>> Có hai căn chung cư Sài Gòn nhưng tôi vẫn quay về ở nhà hẻm cụt
Với tổng thu nhập khoảng 60 triệu đồng mỗi tháng của vợ chồng tôi, đồng nghĩa với phải dành toàn bộ thu nhập trong hơn 10 năm mới mua được căn hộ hai phòng ngủ, chưa tính ăn uống, nuôi con, y tế, giáo dục hay các chi phí sinh hoạt khác. Vì vậy, dù nhiều người cho rằng thị trường đang hạ nhiệt và là cơ hội tốt để mua nhà, tôi vẫn chọn chờ tiếp. Tôi sẽ chỉ cân nhắc xuống tiền khi giá nhà giảm 30-50% so với mặt bằng hiện tại.
Nhiều người sẽ cho rằng đó là kỳ vọng quá xa vời. Nhưng từ nay đến cuối năm, nguồn cung căn hộ tại Hà Nội dự kiến tiếp tục gia tăng khi hàng chục nghìn căn hộ đến thời điểm bàn giao. Điều này đồng nghĩa với việc nhiều nhà đầu tư mua từ giai đoạn đầu sẽ phải đưa hàng ra thị trường. Khi nguồn cung tăng mạnh trong lúc sức mua chưa thực sự bùng nổ trở lại, áp lực cạnh tranh sẽ lớn hơn. Những người sử dụng đòn bẩy tài chính cao có thể buộc phải chấp nhận giảm giá để thoát hàng. Đó là quy luật bình thường của thị trường.
Tôi không biết giá chung cư thời gian tới sẽ giảm sâu đến đâu, bởi thị trường luôn có những diễn biến khó lường. Vì vậy, tôi chọn tiếp tục thuê nhà và chờ đợi. Nếu giá giảm về mức hợp lý hơn, tôi sẽ mua. Còn nếu thị trường không giảm như kỳ vọng, tôi vẫn thấy thoải mái với quyết định của mình. Mua nhà là chuyện của cả chục năm, nên chậm một chút cũng không sao. Điều quan trọng là khi đặt bút ký hợp đồng, tôi cảm thấy đó là mức giá mình có thể yên tâm sống.
Những ngày này, TP HCM bước vào cao điểm nắng nóng. Từ sáng đến tối, đường phố lúc nào cũng đặc quánh người và xe. Những dòng phương tiện nối đuôi nhau dưới cái nóng oi bức, tiếng còi xe, khói bụi và khí thải vốn đã đủ khiến người tham gia giao thông mệt mỏi.
Nhưng giữa khung cảnh ngột ngạt ấy, nhiều người còn phải chịu thêm một điều khó chịu khác là hít khói thuốc lá từ những người xung quanh.
Đó là cảm giác không dễ chịu ngay cả với người khỏe mạnh, chứ chưa nói đến người già, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai hay những người có vấn đề về hô hấp. Trong lúc đang kẹt cứng giữa dòng xe, không ai có thể né tránh làn khói thuốc đang phả thẳng vào mặt mình.
Hiện nay, Điều 11 của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012 quy định nhiều địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn, nhưng lại không bao gồm việc hút thuốc khi tham gia giao thông. Theo tôi, đây là một thiếu sót, đặc biệt tại các đô thị lớn như Sài Gòn hay Hà Nội, nơi thường xuyên xảy ra ùn tắc kéo dài và mật độ phương tiện luôn ở mức rất cao.
Đã đến lúc cần nghiêm túc xem xét việc cấm hút thuốc khi tham gia giao thông, không chỉ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn để xây dựng hình ảnh đô thị văn minh trong bối cảnh Việt Nam muốn nâng cao chất lượng sống và vị thế quốc gia.
Có ít nhất ba lý do cho thấy việc này là cần thiết và nên được thực hiện càng sớm càng tốt:
Thứ nhất, hút thuốc khi tham gia giao thông gây ảnh hưởng trực tiếp đến những người xung quanh. Chỉ một người hút nhưng hàng chục người khác phải hít khói thuốc thụ động. Điều này diễn ra phổ biến nhất khi dừng đèn đỏ hoặc kẹt xe.
Ở những không gian công cộng khác, người hút thuốc đôi khi vẫn có thể chủ động tránh xa trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc người có vấn đề sức khỏe. Những người xung quanh cũng có thể rời khỏi khu vực có khói thuốc nếu cảm thấy khó chịu. Nhưng giữa một dòng xe đang ùn ứ thì hoàn toàn khác.
Người hút thuốc không thể biết xung quanh mình là ai, có trẻ nhỏ hay người mắc bệnh hô hấp hay không. Họ vô tư châm thuốc giữa đám đông, còn những người xung quanh thì không có bất kỳ lựa chọn nào ngoài việc "chịu trận". Khi xe cộ chen kín mặt đường, không ai có thể tránh đi đâu được.
Dưới cái nắng gay gắt của Sài Gòn, giữa khói bụi và khí thải dày đặc, việc phải hít thêm khói thuốc lá từ những người thiếu ý thức là điều rất khó chấp nhận.
Thứ hai, hút thuốc khi tham gia giao thông còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Nhiều người có thói quen gạt tàn thuốc xuống đường mà không nghĩ đến hậu quả. Tàn thuốc đang cháy rất nhẹ, dễ bị gió thổi ngược vào người đi phía sau, đặc biệt là người đi xe máy. Chỉ một khoảnh khắc giật mình vì tàn thuốc bay vào mặt cũng có thể dẫn đến va chạm hoặc tai nạn.
Thứ ba, hút thuốc khi chạy xe gần như đồng nghĩa với việc xả rác ra môi trường. Không ai đang chạy xe lại giữ đầu lọc thuốc còn cháy để mang về bỏ đúng nơi quy định. Phần lớn đều tiện tay vứt xuống đường.
Có thể đầu lọc thuốc không phải loại rác quá lớn nhưng hành vi ấy phản ánh một thói quen thiếu văn minh và góp phần làm xấu hình ảnh đô thị. Khi chuyện xả đầu thuốc lá xuống đường diễn ra hằng ngày và trở nên bình thường, nó cũng tạo ra tâm lý coi nhẹ ý thức giữ gìn môi trường công cộng.
Vì những lý do đó, tôi cho rằng đặc biệt tại các đô thị lớn có mật độ giao thông cao, cần sớm ban hành quy định cấm hút thuốc khi tham gia giao thông, đồng thời áp dụng chế tài xử phạt đủ nghiêm để tạo tính răn đe.
Nhiều quốc gia như Singapore hay Nhật Bản đã có những quy định rất nghiêm khắc nhằm kiểm soát hành vi hút thuốc nơi công cộng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng môi trường sống văn minh. Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi những mô hình đó.