Đột phá chiến lược hàng đầu cho giai đoạn phát triển mới
Yêu cầu phát triển đất nước hiện nay đã xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng, động lực và đột phá chiến lược hàng đầu để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Đây là khẳng định của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam và Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược. Sự kiện diễn ra sáng 18/5 tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
Theo Thủ tướng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57. Đây là nghị quyết chiến lược đặc biệt quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã có Kết luận số 18 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Trong đó nhấn mạnh mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Tại Kết luận số 246 ngày 12/5 của phiên họp lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và triển khai Đề án 06, cũng đã chỉ đạo triển khai nhiều nội dung cụ thể.
Trọng tâm là khơi thông các nguồn lực trong nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ; ưu tiên phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, Thủ tướng biểu dương và chúc mừng các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
Đặc biệt là những hy sinh, cống hiến thầm lặng, lao động quên mình của các thế hệ những người làm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trên mọi miền đất nước và ở nước ngoài.
Bên cạnh những kết quả, thành tựu đã đạt được, Thủ tướng cho rằng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thời gian qua vẫn còn hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực bứt phá cho phát triển kinh tế xã hội.
Việc huy động nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ chưa được chú trọng đúng mức. Công tác đào tạo, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ tuy đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng vẫn còn bất cập. Cơ chế phát triển khoa học công nghệ còn chậm được hoàn thiện.
“Đến nay, chúng ta vẫn cần tiếp tục triển khai rất nhiều công việc để hoàn thiện thể chế, kể cả về phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, tập trung đào tạo nguồn nhân lực, cơ chế tài chính.
Có những đột phá trong cơ chế chính sách để làm sao chúng ta thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa cho hoạt động phát triển khoa học công nghệ”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Điều quan trọng nhất là phải đưa Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đi vào cuộc sống, đóng góp thực chất vào tăng năng suất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Phát triển công nghệ chiến lược phải tạo ra sản phẩm cụ thể
Thủ tướng Chính phủ khẳng định, với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt, có ý nghĩa sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu đó, Thủ tướng đề nghị trong thời gian tới chúng ta, đặc biệt là những người làm khoa học công nghệ, tập trung vào một số định hướng lớn:
Thứ nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ phải đóng vai trò hạt nhân, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trọng tâm là tổ chức triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phát triển danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
“Phải phát triển công nghệ chiến lược tạo được ra sản phẩm cụ thể. Sản phẩm công nghệ chiến lược được tạo ra phải có giá trị gia tăng, tính áp dụng thực tiễn, phải được thương mại hóa và có tỉ lệ nội địa hóa cao.
Phải có đóng góp thực sự hiệu quả cho tăng năng suất lao động và tăng năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, Thủ tướng nêu.
Theo Thủ tướng, trách nhiệm này của Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng như những người làm khoa học công nghệ, là rất lớn.
Thứ hai, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học phải là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Các bộ, ngành được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cần nhanh chóng xây dựng các bài toán đặt hàng cho doanh nghiệp, viện, trường để phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chất lượng, phục vụ công tác quản lý, điều hành và sản xuất kinh doanh trong từng ngành, từng lĩnh vực.
Các bộ, ngành phải cụ thể hóa cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Mục tiêu là phát triển được các sản phẩm phục vụ chức năng quản lý nhà nước của từng ngành, từng lĩnh vực, đồng thời tạo ra kết quả cụ thể ngay trong năm nay ở một số lĩnh vực trọng tâm.
Thứ ba, cơ chế, chính sách kinh tế phải đủ mạnh, khả thi và áp dụng được trong thực tế. Chính sách phải đi kèm hướng dẫn chi tiết để triển khai ngay, chỉ rõ điểm nghẽn, vướng mắc cụ thể và thẩm quyền xử lý, đề xuất tháo gỡ kịp thời.
Đặc biệt, cần khẩn trương rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn liên quan đến cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, doanh nghiệp công nghệ. Thúc đẩy phát triển thị trường vốn, quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
“Về cơ chế tài chính, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng các bộ, ngành liên quan, nghiên cứu cơ chế đột phá. Nếu tiếp tục áp dụng các quy trình, cơ chế thông thường, chúng ta sẽ khó thực hiện được những nhiệm vụ đầu tư cho đổi mới sáng tạo”, Thủ tướng nói.
Bài toán đặt ra là phải chấp nhận rủi ro có kiểm soát, lấy sản phẩm đầu ra để đánh giá hiệu quả đầu tư của ngân sách nhà nước và vốn nhà nước. Đồng thời, cần khuyến khích vốn của doanh nghiệp và xã hội tham gia, tập trung đầu tư vào một số sản phẩm ưu tiên.
Cơ chế tài chính của Nhà nước cũng phải thông thoáng, tạo điều kiện để cán bộ, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng phối hợp nghiên cứu, phát triển sản phẩm.
Nhà nước phải làm tốt vai trò hướng dẫn, kết nối, đặt hàng, hỗ trợ nghiên cứu phát triển và đóng vai trò là người mua đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ chiến lược khi đủ điều kiện.
Tinh thần là phải rõ bài toán, rõ sản phẩm, rõ đơn vị chủ trì, rõ doanh nghiệp tham gia, rõ nguồn lực, rõ thời hạn và rõ cơ quan được giao nhiệm vụ. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan được giao phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm đến cùng.
Mục tiêu là tập trung làm chủ công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Vấn đề lớn tiếp theo là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả. Trong đó, Nhà nước kiến tạo về thể chế; viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng, thương mại hóa công nghệ.
Nhà nước cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ, phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược. Phải hình thành các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế, dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Tăng cường hợp tác quốc tế, có cơ chế để các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam chuyển giao công nghệ. Qua đó, Việt Nam từng bước tham gia, làm chủ các công nghệ chiến lược, đồng thời phát huy sức mạnh mạng lưới trí thức và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.
Thủ tướng cũng yêu cầu, đặc biệt coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần có cơ chế vượt trội để phát hiện, đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài.
Việc này giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức triển khai, huy động các chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trẻ và nhân tài công nghệ.
Các trường đại học, viện nghiên cứu cần phấn đấu trở thành trung tâm nghiên cứu mạnh, trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia.
Phải chuyển mạnh từ tư duy làm cho có sang tư duy tạo ra sản phẩm thực chất, có giá trị thực chất, hiệu quả thực chất. Mọi chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới giải quyết các bài toán lớn của đất nước, phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp.
Sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực tiễn và tốc độ thương mại hóa phải là thước đo đánh giá kết quả nghiên cứu, triển khai.
“Chính phủ cam kết sẽ luôn đồng hành, lắng nghe, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi nhất để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Thủ tướng khẳng định.
Gần 40 năm sau thảm họa hạt nhân Chernobyl, giới khoa học phát hiện một hiện tượng gây sửng sốt: đàn sói sống trong vùng nhiễm xạ không chỉ tồn tại mà còn có dấu hiệu tiến hóa đặc biệt để chống chịu phóng xạ và ung thư.
Ngày 26/4/1986, vụ nổ lò phản ứng số 4 tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl đã tạo ra một trong những thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất lịch sử nhân loại.
Hàng chục nghìn người phải sơ tán, thành phố Pripyat trở thành “thành phố ma”, còn khu vực quanh nhà máy bị phong tỏa suốt nhiều thập kỷ vì mức độ nhiễm xạ nguy hiểm.
Tuy nhiên, giữa những khu rừng bỏ hoang và các công trình đổ nát, thiên nhiên lại phát triển theo cách khiến giới khoa học kinh ngạc. Nai sừng tấm, lợn rừng, ngựa hoang, nhiều loài chim quý hiếm và đặc biệt là sói xám đã quay trở lại sinh sống.
Một khảo sát động vật năm 2015 cho thấy số lượng sói trong vùng cấm Chernobyl cao gấp 7 lần so với các khu bảo tồn thiên nhiên không nhiễm phóng xạ lân cận. Điều này đặt ra câu hỏi lớn cho các nhà khoa học: Điều gì giúp chúng sống sót trong môi trường phóng xạ kéo dài suốt gần 4 thập kỷ?
ADN của bầy sói hé lộ điều bất thường
Theo VICE, để tìm lời giải, nhóm nghiên cứu do hai nhà sinh học tiến hóa Cara Love và Shane Campbell-Staton thuộc Đại học Princeton dẫn đầu đã thu thập mẫu máu của nhiều cá thể sói sống trong vùng cấm Chernobyl, sau đó so sánh với sói tại Belarus và Vườn quốc gia Yellowstone (Mỹ).
Kết quả phân tích khiến nhóm nghiên cứu bất ngờ. Một số gen ở sói Chernobyl hoạt động khác biệt rõ rệt so với các quần thể sói khác. Đáng chú ý, nhiều gen liên quan trực tiếp đến hệ miễn dịch và khả năng sửa chữa tổn thương ADN, hai cơ chế rất quan trọng để chống lại tác hại của phóng xạ.
Theo nghiên cứu, có khoảng 15 gen cho thấy dấu hiệu của quá trình chọn lọc tự nhiên kéo dài nhiều thế hệ trong môi trường nhiễm xạ. Hai gen khác biệt lớn nhất được cho là liên quan đến sinh học ung thư và khả năng miễn dịch chống khối u.
“Có thể tồn tại những biến dị gen giúp một số cá thể chống chịu hoặc phục hồi tốt hơn trước bức xạ”, nhà sinh học Shane Campbell-Staton chia sẻ.
Ông cho biết hiện chưa thể khẳng định chắc chắn liệu sói Chernobyl có ít mắc ung thư hơn hay không. Tuy nhiên, rõ ràng cơ thể của chúng đang phản ứng với môi trường phóng xạ theo cách rất khác thường.
“Có thể chúng vẫn mắc ung thư với tỷ lệ tương tự, nhưng bệnh không ảnh hưởng nhiều đến chức năng sống. Hoặc cũng có thể chúng thực sự có khả năng kháng bệnh tốt hơn”, ông nói thêm.
Nhóm nghiên cứu hiện đang hợp tác với các chuyên gia ung thư để tìm hiểu liệu những cơ chế sinh học ở sói Chernobyl có thể mở ra hướng nghiên cứu mới cho y học con người hay không. Công trình được công bố trên tạp chí Molecular Ecology cuối tháng 4 vừa qua.
Không chỉ sói, nhiều loài động vật khác cũng biến đổi
Sói không phải sinh vật duy nhất khiến giới khoa học chú ý tại Chernobyl.
Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu đã phát hiện hàng loạt dấu hiệu biến đổi ở động vật sống trong vùng nhiễm xạ này. Một nghiên cứu năm 2016 cho thấy loài ếch cây phương Đông (Hyla orientalis) tại đây xuất hiện màu da đen nhiều bất thường thay vì màu xanh lá đặc trưng.
Các nhà khoa học cho rằng sự thay đổi này có thể liên quan đến melanin, sắc tố quyết định màu da. Hàm lượng melanin cao hơn được cho là có khả năng hấp thụ hoặc phân tán một phần bức xạ.
Trong khi đó, một số loài chim như nhạn bụng trắng hay bạc má lớn lại chịu ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt từ môi trường nhiễm xạ. Chúng xuất hiện các bất thường về sinh sản, giảm khả năng chống oxy hóa và gia tăng căng thẳng oxy hóa tế bào.
Không chỉ chim chóc, số lượng côn trùng và động vật không xương sống trong đất tại những khu vực ô nhiễm nặng cũng giảm đáng kể.
Nhà khoa học môi trường Jim Smith cho rằng nguyên nhân có thể không chỉ đến từ phóng xạ, mà còn liên quan đến việc con người rời khỏi khu vực này. Khi áp lực từ săn bắn, đô thị hóa và hoạt động công nghiệp biến mất, động vật có điều kiện phục hồi và phát triển tự nhiên mạnh mẽ hơn.
Theo Viện Hàn lâm Khoa học - Công nghệ Việt Nam, ung thư hạch (u lympho) là bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết, xảy ra khi các tế bào lympho phát triển bất thường và mất kiểm soát.
Điều đáng nói là bệnh thường khởi phát âm thầm với những biểu hiện dễ bị bỏ qua như nổi hạch không đau, mệt mỏi hay sụt cân. Dù y học đã có nhiều tiến bộ trong điều trị, hiệu quả vẫn khác nhau rõ rệt giữa các bệnh nhân.
Nguyên nhân được cho là liên quan đến sự khác biệt về gen và tình trạng hoạt động của hệ miễn dịch, những yếu tố chưa được hiểu đầy đủ, đặc biệt trên bệnh nhân Việt Nam.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu ung thư hạch đang dần chuyển hướng từ điều trị triệu chứng sang tìm hiểu “gốc rễ” của bệnh ở cấp độ tế bào và di truyền.
Tế bào gốc tạo máu CD34+ là nguồn sinh ra các tế bào miễn dịch cùng với các tế bào như tế bào tua và đại thực bào được xem là những mắt xích quan trọng.
Bên cạnh đó, các gen điều hòa miễn dịch như A20 hay CYLD có thể đóng vai trò quyết định trong việc bệnh tiến triển ra sao và đáp ứng điều trị như thế nào. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa đột biến gen, chức năng tế bào miễn dịch và cơ chế sinh bệnh vẫn còn là khoảng trống lớn.
Xuất phát từ thực tế đó, PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân và nhóm nghiên cứu Viện Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu vai trò của một số gen điều hòa chức năng tế bào gốc CD34+ và tế bào tua phục vụ công tác điều trị bệnh ung thư hạch".
Nghiên cứu tập trung giải mã các biến đổi gen trên tế bào CD34+ và làm rõ vai trò của các gen điều hòa trong ung thư hạch. Bằng cách kết hợp công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới và chỉnh sửa gen hiện đại, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cơ chế bệnh, mở ra hướng tiếp cận điều trị cá thể hóa phù hợp với đặc điểm di truyền của từng bệnh nhân, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị trong tương lai.
Từ phát hiện gen đến gợi mở điều trị trúng đích
Một trong những điểm nổi bật của nghiên cứu là việc giải trình tự hệ gen trên tế bào gốc CD34+, nhóm tế bào rất hiếm nhưng lại được xem là “khởi nguồn” của hệ miễn dịch.
Từ đó, nhóm nghiên cứu đã phát hiện nhiều biến thể gen liên quan trực tiếp đến ung thư hạch, trong đó đáng chú ý là các gen như NCF1, MMP9, VDR và đặc biệt là CNN2, MUC4 những gen xuất hiện với tần suất cao ở bệnh nhân.
Các kết quả này giúp làm rõ hơn bức tranh di truyền của bệnh vốn còn nhiều khoảng trống nhất là trên người Việt Nam.
Nghiên cứu cho thấy, khi hai gen CNN2 và MUC4 hoạt động ở mức thấp, bệnh có xu hướng tiến triển nặng hơn, kèm theo các dấu hiệu như phản ứng viêm tăng hoặc rối loạn các chỉ số máu.
Điều này mở ra khả năng sử dụng các gen này như “tín hiệu cảnh báo sớm”, giúp bác sĩ nhận diện nhóm bệnh nhân nguy cơ cao để có hướng điều trị phù hợp hơn.
Đáng chú ý, việc tập trung vào tế bào CD34+ thay vì chỉ nghiên cứu trực tiếp trên tế bào khối u đã giúp phát hiện những biến thể gen “ẩn” mà trước đây ít được chú ý. Đây được xem là bước tiến quan trọng, góp phần tiếp cận ung thư hạch từ giai đoạn sớm nhất của quá trình hình thành bệnh.
Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân, chính những khác biệt này lý giải vì sao có bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt trong khi bệnh nhân khác lại tiến triển nặng hơn. Từ hiểu biết về vai trò của các gen trong hoạt động của hệ miễn dịch, nhóm có thêm cơ sở hướng tới nghiên cứu giải pháp phù hợp hơn cho từng bệnh nhân.
Đặc biệt, nghiên cứu đã chỉ ra rằng gen A20 đóng vai trò như một “công tắc” điều khiển hoạt động của tế bào miễn dịch. Khi gen này hoạt động bất thường, khả năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư của tế bào tua và đại thực bào bị ảnh hưởng rõ rệt.
Ngược lại, nếu điều chỉnh được hoạt động của gen A20, hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư có thể được cải thiện.
Một phát hiện đáng chú ý khác là sự khác biệt trong tác động của thuốc hóa trị. Nghiên cứu cho thấy, một số thuốc như Doxorubicin không chỉ tiêu diệt tế bào ung thư mà còn “kích hoạt” hệ miễn dịch tham gia vào quá trình này.
Đặc biệt, khi kết hợp với các thuốc nhắm vào đường tín hiệu như Everolimus, hiệu quả điều trị có thể được tăng cường ở những bệnh nhân có bất thường gen nhất định. Đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển các phác đồ điều trị kết hợp, cá thể hóa theo từng bệnh nhân.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng làm rõ vai trò của gen CNN2 trong việc điều hòa hoạt động của tế bào tua, một trong những “chiến binh” quan trọng của hệ miễn dịch. Gen này ảnh hưởng đến nhiều quá trình như viêm, chết tế bào và khả năng đáp ứng miễn dịch, cho thấy tiềm năng trở thành mục tiêu mới trong điều trị.
Các kết quả đã được công bố trên nhiều tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước, góp phần khẳng định chất lượng và tính hội nhập quốc tế của công trình. Đồng thời, đề tài cũng tham gia đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu trình độ cao, tạo nền tảng cho các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Việc giải mã các biến đổi gen trong nhóm tế bào này không chỉ giúp làm rõ cơ chế hình thành bệnh mà còn mở ra hướng điều trị trúng đích, cá thể hóa cho từng bệnh nhân trong tương lai.
Dưa cải muối là món ăn quen thuộc trong nhiều gia đình Việt. Tuy nhiên, theo chuyên gia hóa học, không phải loại dưa nào ngoài chợ cũng an toàn. Một số dấu hiệu tưởng bình thường lại có thể tiềm ẩn nguy cơ cho sức khỏe.
Tại chợ dân sinh, không khó để bắt gặp những vại dưa cải vàng óng được bày bán trong các chai, thùng nhựa lớn. Có nơi, nước dưa đục ngầu, nổi bọt trắng, mùi chua gắt. Người bán liên tục dùng tay hoặc gáo nhựa múc dưa cho khách.
Nhiều người chọn mua theo thói quen mà ít để ý loại vật chứa, màu sắc hay thời gian ngâm muối. Tuy nhiên, theo TS Vũ Thị Tần, chuyên gia hóa học, đây lại là những yếu tố rất quan trọng để đánh giá độ an toàn của dưa muối.
“Không nên muối dưa chua trong hộp nhựa vì tính axit của dưa có thể làm thôi nhiễm vi nhựa. Đặc biệt, nhiều nơi dùng đi dùng lại hộp nhựa trong thời gian dài, tiếp xúc liên tục với môi trường axit sẽ càng tăng nguy cơ phát tán các chất không tốt cho sức khỏe”, TS Tần cho biết.
Theo chuyên gia, người dân đi chợ nên hạn chế mua các loại dưa muối đựng trong thùng nhựa cũ, trầy xước, ngả màu hoặc có mùi nhựa khó chịu. Đây là dấu hiệu vật chứa đã xuống cấp sau thời gian dài sử dụng.
Vi nhựa từ dụng cụ muối dưa là nhựa, nhất là thùng sơn, bình nước nhựa… có thể bị thôi nhiễm do tính axit của dưa muối.
Vi nhựa là những hạt nhựa siêu nhỏ có thể đi vào cơ thể qua thực phẩm, nước uống. Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy vi nhựa có khả năng tích tụ lâu dài, gây ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, nội tiết và làm tăng phản ứng viêm trong cơ thể.
Không chỉ vật chứa, màu sắc của dưa cũng là chi tiết cần đặc biệt chú ý.
TS Tần cho biết dưa muối ngon thường có màu vàng tự nhiên, hơi sậm, lá mềm nhưng vẫn giữ được độ giòn nhất định.
Ngoài ra, loại dưa nổi váng trắng dày, nhớt hoặc có mùi khú cũng không nên mua. Đây có thể là dấu hiệu dưa bị nhiễm vi sinh vật, lên men quá mức hoặc bảo quản không đảm bảo vệ sinh.
Theo các chuyên gia thực phẩm, dưa muối nếu chưa đủ độ chín cũng tiềm ẩn nguy cơ cho sức khỏe. Trong giai đoạn mới muối, rau dưa xanh lá có thể sinh ra hàm lượng nitrit cao. Khi vào cơ thể, nitrit có thể kết hợp với các amin tạo thành hợp chất nitrosamine, một chất được cảnh báo liên quan nguy cơ ung thư nếu tích tụ lâu dài.
Vì vậy, người dân không nên ăn dưa còn hăng, cay nồng hoặc mới muối 1-2 ngày. Dưa đạt độ an toàn thường có vị chua dịu, thơm tự nhiên và đã lên men hoàn toàn.
TS Vũ Thị Tần cũng lưu ý người dân nên ưu tiên mua dưa ở nơi sạch sẽ, bảo quản trong chum sành, thủy tinh thay vì các thùng nhựa tái sử dụng nhiều lần.
“Nhiều người nghĩ dưa muối là món dân dã nên không quá để ý khâu bảo quản. Nhưng chính môi trường axit kéo dài mới khiến nguy cơ thôi nhiễm từ nhựa trở nên đáng lo hơn”, TS Tần nói.
Các chuyên gia khuyến cáo, dù là món ăn quen thuộc, dưa muối vẫn nên được sử dụng ở mức vừa phải. Người có bệnh dạ dày, tăng huyết áp, bệnh thận hoặc cần ăn nhạt càng nên hạn chế vì món ăn này chứa lượng muối khá cao.