Đột phá chiến lược hàng đầu cho giai đoạn phát triển mới
Yêu cầu phát triển đất nước hiện nay đã xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng, động lực và đột phá chiến lược hàng đầu để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Đây là khẳng định của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam và Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược. Sự kiện diễn ra sáng 18/5 tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
Theo Thủ tướng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57. Đây là nghị quyết chiến lược đặc biệt quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã có Kết luận số 18 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Trong đó nhấn mạnh mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Tại Kết luận số 246 ngày 12/5 của phiên họp lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và triển khai Đề án 06, cũng đã chỉ đạo triển khai nhiều nội dung cụ thể.
Trọng tâm là khơi thông các nguồn lực trong nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ; ưu tiên phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, Thủ tướng biểu dương và chúc mừng các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
Đặc biệt là những hy sinh, cống hiến thầm lặng, lao động quên mình của các thế hệ những người làm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trên mọi miền đất nước và ở nước ngoài.
Bên cạnh những kết quả, thành tựu đã đạt được, Thủ tướng cho rằng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thời gian qua vẫn còn hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực bứt phá cho phát triển kinh tế xã hội.
Việc huy động nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ chưa được chú trọng đúng mức. Công tác đào tạo, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ tuy đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng vẫn còn bất cập. Cơ chế phát triển khoa học công nghệ còn chậm được hoàn thiện.
“Đến nay, chúng ta vẫn cần tiếp tục triển khai rất nhiều công việc để hoàn thiện thể chế, kể cả về phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, tập trung đào tạo nguồn nhân lực, cơ chế tài chính.
Có những đột phá trong cơ chế chính sách để làm sao chúng ta thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa cho hoạt động phát triển khoa học công nghệ”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Điều quan trọng nhất là phải đưa Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đi vào cuộc sống, đóng góp thực chất vào tăng năng suất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Phát triển công nghệ chiến lược phải tạo ra sản phẩm cụ thể
Thủ tướng Chính phủ khẳng định, với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt, có ý nghĩa sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu đó, Thủ tướng đề nghị trong thời gian tới chúng ta, đặc biệt là những người làm khoa học công nghệ, tập trung vào một số định hướng lớn:
Thứ nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ phải đóng vai trò hạt nhân, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trọng tâm là tổ chức triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phát triển danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
“Phải phát triển công nghệ chiến lược tạo được ra sản phẩm cụ thể. Sản phẩm công nghệ chiến lược được tạo ra phải có giá trị gia tăng, tính áp dụng thực tiễn, phải được thương mại hóa và có tỉ lệ nội địa hóa cao.
Phải có đóng góp thực sự hiệu quả cho tăng năng suất lao động và tăng năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, Thủ tướng nêu.
Theo Thủ tướng, trách nhiệm này của Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng như những người làm khoa học công nghệ, là rất lớn.
Thứ hai, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học phải là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Các bộ, ngành được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cần nhanh chóng xây dựng các bài toán đặt hàng cho doanh nghiệp, viện, trường để phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chất lượng, phục vụ công tác quản lý, điều hành và sản xuất kinh doanh trong từng ngành, từng lĩnh vực.
Các bộ, ngành phải cụ thể hóa cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Mục tiêu là phát triển được các sản phẩm phục vụ chức năng quản lý nhà nước của từng ngành, từng lĩnh vực, đồng thời tạo ra kết quả cụ thể ngay trong năm nay ở một số lĩnh vực trọng tâm.
Thứ ba, cơ chế, chính sách kinh tế phải đủ mạnh, khả thi và áp dụng được trong thực tế. Chính sách phải đi kèm hướng dẫn chi tiết để triển khai ngay, chỉ rõ điểm nghẽn, vướng mắc cụ thể và thẩm quyền xử lý, đề xuất tháo gỡ kịp thời.
Đặc biệt, cần khẩn trương rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn liên quan đến cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, doanh nghiệp công nghệ. Thúc đẩy phát triển thị trường vốn, quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
“Về cơ chế tài chính, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng các bộ, ngành liên quan, nghiên cứu cơ chế đột phá. Nếu tiếp tục áp dụng các quy trình, cơ chế thông thường, chúng ta sẽ khó thực hiện được những nhiệm vụ đầu tư cho đổi mới sáng tạo”, Thủ tướng nói.
Bài toán đặt ra là phải chấp nhận rủi ro có kiểm soát, lấy sản phẩm đầu ra để đánh giá hiệu quả đầu tư của ngân sách nhà nước và vốn nhà nước. Đồng thời, cần khuyến khích vốn của doanh nghiệp và xã hội tham gia, tập trung đầu tư vào một số sản phẩm ưu tiên.
Cơ chế tài chính của Nhà nước cũng phải thông thoáng, tạo điều kiện để cán bộ, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng phối hợp nghiên cứu, phát triển sản phẩm.
Nhà nước phải làm tốt vai trò hướng dẫn, kết nối, đặt hàng, hỗ trợ nghiên cứu phát triển và đóng vai trò là người mua đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ chiến lược khi đủ điều kiện.
Tinh thần là phải rõ bài toán, rõ sản phẩm, rõ đơn vị chủ trì, rõ doanh nghiệp tham gia, rõ nguồn lực, rõ thời hạn và rõ cơ quan được giao nhiệm vụ. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan được giao phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm đến cùng.
Mục tiêu là tập trung làm chủ công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Vấn đề lớn tiếp theo là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả. Trong đó, Nhà nước kiến tạo về thể chế; viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng, thương mại hóa công nghệ.
Nhà nước cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ, phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược. Phải hình thành các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế, dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Tăng cường hợp tác quốc tế, có cơ chế để các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam chuyển giao công nghệ. Qua đó, Việt Nam từng bước tham gia, làm chủ các công nghệ chiến lược, đồng thời phát huy sức mạnh mạng lưới trí thức và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.
Thủ tướng cũng yêu cầu, đặc biệt coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần có cơ chế vượt trội để phát hiện, đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài.
Việc này giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức triển khai, huy động các chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trẻ và nhân tài công nghệ.
Các trường đại học, viện nghiên cứu cần phấn đấu trở thành trung tâm nghiên cứu mạnh, trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia.
Phải chuyển mạnh từ tư duy làm cho có sang tư duy tạo ra sản phẩm thực chất, có giá trị thực chất, hiệu quả thực chất. Mọi chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới giải quyết các bài toán lớn của đất nước, phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp.
Sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực tiễn và tốc độ thương mại hóa phải là thước đo đánh giá kết quả nghiên cứu, triển khai.
“Chính phủ cam kết sẽ luôn đồng hành, lắng nghe, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi nhất để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Thủ tướng khẳng định.
Những câu chuyện về người ngoài hành tinh từ lâu đã trở thành đề tài hấp dẫn trong văn hóa đại chúng. Sách, phim ảnh, chương trình truyền hình và các báo cáo về vật thể bay không xác định (UAP) thường làm dấy lên câu hỏi liệu Trái Đất có đang được các nền văn minh ngoài hành tinh ghé thăm hay không.
Một số khảo sát tại Mỹ, Úc và nhiều quốc gia khác cho thấy tỷ lệ đáng kể người dân tin rằng người ngoài hành tinh đã hoặc đang xuất hiện trên Trái Đất.
Tuy nhiên, giới khoa học hiện chưa tìm thấy bằng chứng xác thực cho giả thuyết này. Ngược lại, nhiều nghiên cứu chỉ ra ba rào cản lớn khiến việc du hành liên sao để đến Trái Đất trở nên đặc biệt khó khăn.
Không gian vũ trụ rộng lớn
Ngôi sao gần Mặt Trời nhất là Proxima Centauri, nằm cách chúng ta khoảng 4,24 năm ánh sáng, tương đương hơn 40.000 tỷ km.
Một năm ánh sáng là quãng đường ánh sáng truyền đi trong một năm, với vận tốc gần 300.000km/s.
Khoảng cách này cho thấy thách thức khổng lồ của việc du hành giữa các vì sao. Với công nghệ hiện nay, con người mới chỉ đạt được một phần rất nhỏ tốc độ ánh sáng.
Tàu thăm dò Parker Solar Probe - phương tiện nhân tạo nhanh nhất từng được chế tạo - có thể đạt vận tốc xấp xỉ 192km/s khi tiếp cận Mặt Trời. Dù vậy, tốc độ này vẫn chỉ bằng khoảng 0,064% tốc độ ánh sáng.
Nếu duy trì vận tốc như vậy trong toàn bộ hành trình, tàu sẽ cần hàng nghìn năm để tới Proxima Centauri.
Ngay cả khi một nền văn minh sở hữu công nghệ cho phép di chuyển với vận tốc gần bằng tốc độ ánh sáng, họ vẫn phải đối mặt với những hệ quả của thuyết tương đối hẹp.
Theo lý thuyết của nhà vật lý Albert Einstein, thời gian không trôi giống nhau đối với mọi vật thể. Khi vận tốc tăng lên, thời gian đối với người trên tàu sẽ trôi chậm hơn so với người quan sát bên ngoài. Hiện tượng này được gọi là giãn nở thời gian.
Một minh chứng thực tế là nghiên cứu song sinh nổi tiếng của NASA với phi hành gia Scott Kelly. Sau gần một năm làm việc trên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), đồng hồ sinh học của ông chậm hơn rất nhỏ so với người anh em sinh đôi ở Trái Đất do tác động của vận tốc và môi trường hấp dẫn khác biệt.
Đối với những chuyến du hành liên sao kéo dài hàng chục hoặc hàng trăm năm ở vận tốc cực lớn, hiệu ứng này có thể trở nên đáng kể hơn nhiều.
Nhu cầu năng lượng vượt xa khả năng công nghệ hiện nay
Theo thuyết tương đối hẹp, không vật thể có khối lượng nghỉ khác 0 nào có thể được gia tốc đến đúng tốc độ ánh sáng.
Khi vận tốc tiến gần tốc độ ánh sáng, năng lượng cần thiết để tiếp tục tăng tốc sẽ tăng rất nhanh. Điều này khiến việc vận chuyển một tàu vũ trụ cỡ lớn qua khoảng cách liên sao trở thành thách thức cực kỳ khó khăn về mặt năng lượng.
Bên cạnh đó, không gian giữa các ngôi sao không hoàn toàn trống rỗng. Môi trường này vẫn chứa khí, bụi và các hạt mang năng lượng cao.
Ở vận tốc cực lớn, ngay cả những hạt vật chất rất nhỏ cũng có thể gây hư hại nghiêm trọng cho tàu vũ trụ thông qua va chạm hoặc bức xạ năng lượng cao. Điều đó đòi hỏi các hệ thống bảo vệ phức tạp và làm tăng thêm yêu cầu về năng lượng cũng như khối lượng của con tàu.
Trong vật lý lý thuyết từng xuất hiện một số ý tưởng về du hành nhanh hơn ánh sáng, nổi tiếng nhất là "động cơ Alcubierre" do nhà vật lý Miguel Alcubierre đề xuất năm 1994. Tuy nhiên, đây mới chỉ là mô hình toán học dựa trên những điều kiện vật lý chưa được chứng minh là có thể tồn tại trong thực tế.
Đến nay, chưa có bằng chứng cho thấy con người hoặc bất kỳ nền văn minh nào có thể thực hiện hình thức du hành này.
Môi trường Trái Đất có thể không phù hợp với sự sống ngoài hành tinh
Một giả định phổ biến cho rằng nếu người ngoài hành tinh tồn tại, họ có thể thích nghi với môi trường Trái Đất giống như con người.
Tuy nhiên, khoa học hiện chưa có cơ sở để khẳng định điều đó.
Sự sống trên Trái Đất đã tiến hóa cùng hành tinh này trong khoảng hơn 3,5 tỷ năm. Thành phần khí quyển, nhiệt độ, áp suất, nguồn nước và các yếu tố hóa học đều góp phần định hình sinh vật trên Trái Đất.
Ví dụ, oxy là yếu tố thiết yếu đối với con người và nhiều sinh vật đa bào. Thế nhưng về mặt hóa học, oxy là chất có tính oxy hóa mạnh. Đối với một dạng sinh học được hình thành trong môi trường hoàn toàn khác, bầu khí quyển giàu oxy của Trái Đất có thể không phải môi trường thuận lợi để sinh tồn.
Tương tự, các yếu tố như trọng lực, bức xạ, nhiệt độ hay thành phần hóa học của khí quyển cũng có thể tạo thành những rào cản lớn đối với sinh vật ngoài hành tinh.
Vì vậy, nếu các nền văn minh ngoài Trái Đất tồn tại, chưa có lý do khoa học nào để mặc định rằng họ có thể dễ dàng sinh sống hoặc hoạt động trên Trái Đất mà không cần các hệ thống bảo vệ đặc biệt.
Sự sống ngoài Trái Đất vẫn là một câu hỏi mở
Dù chưa có bằng chứng cho thấy người ngoài hành tinh từng ghé thăm Trái Đất, phần lớn các nhà thiên văn học không loại trừ khả năng sự sống tồn tại ở nơi khác trong vũ trụ.
Tính đến nay, các nhà khoa học đã xác nhận hơn 5.900 ngoại hành tinh nằm ngoài Hệ Mặt Trời. Nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn các ngôi sao trong Dải Ngân hà có thể sở hữu ít nhất một hành tinh quay quanh.
Chỉ riêng thiên hà của chúng ta đã chứa hàng trăm tỷ ngôi sao, đồng nghĩa số lượng hành tinh tiềm năng là vô cùng lớn.
Ngay trong Hệ Mặt Trời, một số thiên thể như Sao Hỏa, Europa (vệ tinh của Sao Mộc), Enceladus và Titan (vệ tinh của Sao Thổ) vẫn được xem là những địa điểm triển vọng trong cuộc tìm kiếm dấu vết của sự sống.
Từ thập niên 1960, các nhà khoa học cũng đã triển khai nhiều chương trình tìm kiếm tín hiệu từ các nền văn minh ngoài Trái Đất bằng kính thiên văn vô tuyến. Những dự án nổi bật hiện nay gồm SETI và Breakthrough Listen.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng đáng tin cậy nào về sự tồn tại của một nền văn minh ngoài hành tinh có khả năng liên lạc với nhân loại.
Nói cách khác, khoa học chưa chứng minh được rằng chúng ta đang cô độc trong vũ trụ, nhưng cũng chưa tìm thấy bằng chứng cho thấy Trái Đất từng được người ngoài hành tinh ghé thăm.
Giống như nhận định nổi tiếng đăng trên tạp chí Nature năm 1959, khả năng thành công của việc tìm kiếm có thể rất khó dự đoán, nhưng nếu không tìm kiếm, cơ hội phát hiện sẽ bằng không.
Trong bối cảnh nhu cầu làm mát tăng cao, điện mặt trời được xem là giải pháp giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, nghịch lý là nhiệt độ quá cao lại khiến chính các tấm pin mặt trời hoạt động kém hiệu quả hơn.
Các tấm pin mặt trời tạo ra điện khi photon trong ánh sáng Mặt Trời kích thích các electron bên trong vật liệu bán dẫn, tạo thành dòng điện. Tuy nhiên, khi nhiệt độ của tế bào quang điện tăng lên, dao động của các nguyên tử trong vật liệu cũng mạnh hơn, làm giảm điện áp đầu ra và kéo theo hiệu suất chuyển đổi điện năng suy giảm.
Theo điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn (STC), hiệu suất của tấm pin được đo ở nhiệt độ tế bào quang điện 25°C. Trên thực tế, với phần lớn các tấm pin silicon thương mại, hiệu suất thường giảm khoảng 0,3-0,5% cho mỗi 1°C nhiệt độ tế bào tăng vượt ngưỡng này.
Trong những đợt nắng nóng, nhiệt độ bề mặt tấm pin có thể vượt 60°C, thậm chí cao hơn, khiến sản lượng điện giảm khoảng 15-25%, tùy theo công nghệ chế tạo và hệ số nhiệt của từng loại pin. Nếu hệ thống không được thiết kế để tản nhiệt hiệu quả, mức suy giảm này có thể còn lớn hơn.
Giữ tấm pin mát hơn để duy trì hiệu suất
Mặc dù không thể kiểm soát nhiệt độ môi trường, người dùng vẫn có thể hạn chế tình trạng quá nhiệt bằng cách tối ưu thiết kế hệ thống điện mặt trời.
Khi lắp đặt trên mái nhà, các tấm pin không chỉ hấp thụ nhiệt từ ánh nắng mà còn chịu lượng nhiệt tỏa lên từ mái. Vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị tạo một khoảng hở khoảng 10-20cm giữa mái và tấm pin để không khí lưu thông tự nhiên, giúp tản nhiệt hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, bộ biến tần (inverter) - thiết bị chuyển đổi dòng điện một chiều từ tấm pin thành dòng điện xoay chiều để sử dụng - cũng cần được lắp đặt ở nơi thông thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp nhằm hạn chế hiện tượng quá nhiệt và duy trì hiệu suất vận hành của toàn hệ thống.
Trong tương lai, các nhà khoa học đang nghiên cứu những vật liệu và lớp phủ mới có khả năng tản nhiệt tốt hơn nhưng vẫn duy trì hiệu quả hấp thụ ánh sáng. Những công nghệ này được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống điện mặt trời hoạt động ổn định hơn trong điều kiện nắng nóng ngày càng cực đoan do biến đổi khí hậu.
Những ngày gần đây, châu Âu đang trải qua một trong những đợt nắng nóng nghiêm trọng nhất từng được ghi nhận.
Nhiều quốc gia như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ý và Hungary ghi nhận nền nhiệt vượt 40 độ C, kéo theo cháy rừng, gây áp lực lên hệ thống điện và làm gia tăng số ca tử vong liên quan đến nắng nóng.
Đáng chú ý, theo phân tích của tạp chí Le Grand Continent, trong ngày 24/6, nhiệt độ trung bình tại Pháp cao hơn mức nhiệt ghi nhận trên khoảng 30,8% diện tích sa mạc Sahara.
So sánh này gây bất ngờ bởi sa mạc Sahara từ lâu được biết đến là sa mạc nóng lớn nhất thế giới.
Hiểu đúng về nhiệt độ của sa mạc Sahara
Nhiều người hình dung Sahara là vùng đất luôn có nhiệt độ trên 45-50 độ C. Thực tế, sa mạc lớn nhất thế giới có diện tích hơn 9 triệu km2, trải dài qua nhiều quốc gia Bắc Phi với địa hình và điều kiện khí tượng rất đa dạng.
Nhiệt độ tại Sahara thay đổi đáng kể theo vị trí, độ cao, thời điểm trong ngày, độ che phủ mây và hoàn lưu khí quyển. Trong khi một số khu vực có thể vượt 45 độ C vào buổi chiều, nhiều nơi khác chỉ dao động quanh 25-35 độ C.
Vì vậy, nếu một đợt nắng nóng cực đoan khiến phần lớn lãnh thổ Pháp đồng loạt vượt 40 độ C, việc nhiệt độ trung bình của nước này cao hơn một phần diện tích Sahara trong cùng thời điểm không phải là điều bất khả thi.
Theo dữ liệu của Cơ quan Khí tượng Pháp, chỉ số nhiệt quốc gia ngày 24/6 đạt khoảng 30°C - mức cao nhất kể từ khi hệ thống quan trắc hiện đại được thiết lập năm 1947.
"Thủ phạm" đứng sau đợt nắng nóng lịch sử
Theo AP News, nguyên nhân chính khiến nhiều quốc gia châu Âu trải qua đợt nắng nóng kỷ lục là hiện tượng heat dome (vòm nhiệt).
Đây là một vùng áp suất cao mạnh hoạt động như một "chiếc nắp" khổng lồ bao phủ bầu khí quyển, giữ không khí nóng ở gần mặt đất trong nhiều ngày.
Dưới tác động của hệ thống này, khối không khí bị nén xuống các tầng thấp của khí quyển, làm nhiệt độ tăng lên theo quy luật vật lý.
Đồng thời, vùng áp cao hạn chế sự hình thành mây và làm suy yếu quá trình đối lưu, khiến nhiệt lượng khó được giải tỏa. Vì vậy, nhiệt độ tiếp tục tích tụ và duy trì ở mức cao trong thời gian dài.
Đợt nắng nóng còn được khuếch đại bởi dòng không khí nóng từ Bắc Phi di chuyển lên Tây Âu. Khi kết hợp với vòm nhiệt, khối khí nóng bị giữ lại lâu hơn bình thường, khiến nhiệt độ tại nhiều nơi tăng lên mức kỷ lục.
Theo các chuyên gia khí hậu, điều đáng lo ngại không nằm ở việc Pháp có lúc nóng hơn một phần Sahara, mà ở xu hướng những hiện tượng cực đoan như vậy đang xuất hiện ngày càng thường xuyên.
Thay vì chỉ hỏi vì sao một quốc gia ôn đới có lúc nóng hơn sa mạc nổi tiếng nhất thế giới, câu hỏi lớn hơn mà giới khoa học đặt ra là: những kỷ lục như vậy sẽ còn xuất hiện với tần suất bao nhiêu lần trong vài thập kỷ tới nếu nhiệt độ toàn cầu tiếp tục tăng?