Ông Đậu Anh Tuấn – Phó tổng thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – cho biết kết quả khảo sát, điều tra năm 2026 với hơn 1.000 hộ kinh doanh trên cả nước từ tháng 2 đến tháng 4-2026 cho thấy bức tranh không mấy lạc quan.
Có tới 73,7% hộ kinh doanh cho biết chỉ “lãi ít” trong năm 2025, hơn 81% hộ bị giảm doanh thu, 75% bị giảm lượng khách hàng và chỉ 1,9% đạt mức lãi như kỳ vọng.
Phần lớn hộ kinh doanh đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng, đủ để tồn tại nhưng không đủ để tích lũy, không đủ để chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo. Sức khỏe kinh doanh yếu và đã chuyển hóa thành tâm lý phòng thủ.
“Điều đáng lưu tâm hơn nữa là khó khăn về pháp lý được đánh giá là nhóm áp lực lớn nhất. Có 73,3% hộ kinh doanh cho biết đây là vấn đề ảnh hưởng lớn hoặc nghiêm trọng, cao hơn cả khó khăn về đầu vào, thị trường hay nguồn lực.
Thời gian bỏ ra để tuân thủ quy định là yếu tố gây sức ép mạnh nhất, với 73% hộ đánh giá ở mức ảnh hưởng lớn hoặc rất lớn. Gánh nặng tuân thủ không chỉ là một khoản tiền phải chi, mà còn là chi phí cơ hội về thời gian, công sức học quy định, chi phí tổ chức lại quy trình kinh doanh và áp lực tâm lý kéo dài đối với chủ hộ”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Ông Tuấn cũng cho biết có một phát hiện rất quan trọng trong khảo sát, điều tra hộ kinh doanh năm 2026 là gánh nặng tuân thủ không giảm đi khi hộ kinh doanh lớn hơn, mức độ khó khăn có xu hướng gia tăng theo quy mô doanh thu.
Điều này có nghĩa là khi hộ kinh doanh phát triển, thay vì cảm thấy thuận lợi hơn trong việc chính quy hóa, nhiều hộ lại nhận thấy chi phí tuân thủ và độ phức tạp thể chế tăng nhanh hơn năng lực hấp thụ của mình.
Nhiều chủ hộ cảm nhận rằng càng mở rộng quy mô thì càng phải đối mặt với kế toán phức tạp hơn, thủ tục thuế nặng nề hơn, chi phí nhân sự và công nghệ tăng lên, thì động cơ đầu tư mở rộng sẽ bị triệt tiêu đáng kể. Môi trường thể chế có thể vô tình duy trì hộ kinh doanh ở trạng thái quy mô nhỏ, phòng thủ và né tránh tăng trưởng.
Đây là một điểm nghẽn rất đáng lưu tâm từ góc nhìn chính sách.
Bà Phạm Chi Lan – chuyên gia kinh tế – cho rằng “sức khỏe” hộ kinh doanh suy giảm trong năm 2025 phần lớn do các nguyên nhân thị trường, hơn 80% hộ kinh doanh được khảo sát gặp khó khăn về điều kiện thị trường, khó tìm khách hàng đầu ra, khó tìm nguồn nguyên liệu đầu vào. Ngoài ra các hộ kinh doanh cũng gặp khó trong tiếp cận vốn; biến động chính sách quá nhiều, hộ kinh doanh không nắm bắt được.
Bà Lan nêu quan điểm cần phân loại khu vực hộ kinh doanh để có giải pháp hỗ trợ phù hợp, giúp họ kinh doanh tốt hơn. Trước mắt nên tập trung hỗ trợ 13% hộ kinh doanh có thể đăng ký lên thành doanh nghiệp. Đối với những hộ kinh doanh còn lại không nên vận động, ép họ lên thành doanh nghiệp.
Nếu các hộ kinh doanh còn lại thấy lên doanh nghiệp là tốt là ổn thì chỉ ngay năm sau sẽ có rất nhiều hộ kinh doanh đi theo. Giờ hộ kinh doanh chưa thấy được điều này nên họ chưa chuyển thành doanh nghiệp.
Đối với 13% hộ kinh doanh sẵn sàng lên thành doanh nghiệp cũng cần hỗ trợ, hướng dẫn họ tường tận khi lên doanh nghiệp sẽ phải làm những gì để nâng cao khả năng quản trị, quản lý tài chính ra sao, cái gì cần xuất hóa đơn.
Bên cạnh đó Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua các hiệp hội ngành hàng để mở những khóa đào tạo cho các hộ kinh doanh chuyển lên thành doanh nghiệp.
“Nếu chúng ta làm được điều này, tôi tin sẽ có rất nhiều hộ kinh doanh sẵn sàng chuyển đổi thành doanh nghiệp để hoạt động minh bạch hơn”, bà Lan nói thêm. Về lâu dài, bà Lan đồng tình rằng rất nên hướng dẫn hộ kinh doanh vươn lên, đăng ký trở thành doanh nghiệp.
Bởi lên doanh nghiệp họ sẽ thuận lợi hơn trong làm ăn lâu dài, đi vào quy củ, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và người tiêu dùng, kiểm soát tốt hơn chất lượng sản phẩm; tránh những rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
TS Tô Hoài Nam – Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa – cho rằng: “Muốn hộ kinh doanh làm ăn tốt hơn thì trước hết phải thay đổi tư duy quản lý, không nên chỉ nhìn hộ kinh doanh dưới góc độ “đối tượng quản lý thuế”, mà phải nhìn đây là một lực lượng kinh tế – xã hội quan trọng của đất nước”.
Để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện “sức khỏe” của hộ kinh doanh theo tinh thần các nghị quyết lớn của Đảng, đặc biệt là nghị quyết 68, ông Nam khuyến nghị nên tập trung vào 5 nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, phải “khoan sức dân”, giảm áp lực chi phí và thủ tục cho hộ kinh doanh nhỏ. Nhiều hộ hiện nay đang khó khăn nếu lại phải gánh thêm chi phí hóa đơn điện tử, phần mềm, kế toán, kê khai… và quy định quá phức tạp sẽ làm nhiều hộ “sợ lớn”, không dám mở rộng kinh doanh.
Thứ hai, chính sách thuế cần phù hợp với thực tế biên lợi nhuận của từng ngành nghề. Ví dụ bán tạp hóa, ăn uống, buôn bán nhỏ có doanh thu lớn nhưng lãi rất thấp. Nếu chỉ nhìn doanh thu để áp thuế hoặc quản lý cứng nhắc thì rất dễ tạo áp lực lên sinh kế của người dân. Nhà nước nên ưu tiên nuôi dưỡng nguồn thu dài hạn, thay vì tận thu ngắn hạn.
Thứ ba, phải hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số theo hướng đơn giản, dễ dùng, chi phí thấp. Nhiều chủ hộ lớn tuổi không quen công nghệ, nên khi tiếp cận hóa đơn điện tử hay quản trị số thường lúng túng. Nếu chỉ bắt buộc mà không hỗ trợ đào tạo, hướng dẫn trực tiếp thì chính sách rất khó đi vào thực tế.
Thứ tư, cần mở rộng khả năng tiếp cận vốn và mặt bằng kinh doanh ổn định. Hộ kinh doanh hiện nay rất khó vay vốn do thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ kế toán chưa chuẩn hóa. Trong khi đó đây lại là khu vực có tính linh hoạt rất cao, tạo việc làm trực tiếp cho xã hội. Nếu được tiếp cận tín dụng phù hợp, họ có thể phát triển rất nhanh.
Thứ năm, phải tạo niềm tin để hộ kinh doanh “muốn lớn lên”, chứ không phải “sợ lớn”. Nguyên nhân không phải vì họ không muốn phát triển, mà vì họ lo chi phí tuân thủ tăng mạnh, thanh tra kiểm tra nhiều hơn, thủ tục phức tạp hơn. Vì vậy, cần xây dựng một lộ trình chuyển đổi mềm mại, có hỗ trợ thật sự về thuế, kế toán, pháp lý và đào tạo quản trị.
Ông Nam khẳng định nếu chúng ta coi hộ kinh doanh là “hạt giống doanh nghiệp” của nền kinh tế, hỗ trợ họ lớn lên một cách tự nhiên và bền vững thì đây sẽ là nguồn lực rất quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển 2 triệu doanh nghiệp và xây dựng nền kinh tế tư nhân vững mạnh trong giai đoạn tới.
Như Tuổi Trẻ Online đã đưa tin, lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long vừa có buổi làm việc với Công ty TNHH Xây dựng Hàm Giang để nghe báo cáo tiến độ triển khai dự án khu bến tổng hợp Định An và các dự án do doanh nghiệp đề xuất đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo, Công ty TNHH Xây dựng Hàm Giang đang triển khai 4 dự án trên địa bàn tỉnh với tổng diện tích khoảng 468ha, tổng vốn đầu tư gần 6.000 tỉ đồng, gồm: Dự án khu bến tổng hợp Định An; dự án xây dựng cảng Trà Cú - Trà Vinh; dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư và dịch vụ thủy hải sản và dự án khu công nghiệp thuộc cảng Trà Cú.
Trong đó dự án khu bến tổng hợp Định An có quy mô lớn nhất với tổng vốn đầu tư 4.804 tỉ đồng, diện tích sử dụng 125,04ha.
Đại diện phía chủ đầu tư dự án - Công ty TNHH Xây dựng Hàm Giang - được giới thiệu là ông Trầm Bê - một doanh nhân từng có ảnh hưởng lớn trên thương trường.
Sau khi chấp hành xong hai bản án hình sự, ông Trầm Bê đã trở lại hoạt động kinh doanh từ vài năm gần đây. Gia đình ông trước đây từng sở hữu và chi phối nhiều doanh nghiệp, ngân hàng; tuy nhiên sau những biến động, cấu trúc và mức độ ảnh hưởng đã có nhiều thay đổi.
Hiện nay, ông Trầm Bê khá kín tiếng trước truyền thông.
Những thông tin hiếm hoi về ông chủ yếu gắn với Bệnh viện Triều An - nơi ông đang đảm nhiệm vai trò lãnh đạo.
Mới đây, lại mới thấy ông xuất hiện với vai trò đại diện phía chủ đầu tư các dự án ở Vĩnh Long như đề cập nêu trên.
Theo dữ liệu từ hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia, Công ty TNHH Xây dựng Hàm Giang có vốn điều lệ lên tới 1.000 tỉ đồng. Hoạt động tăng vốn của Hàm Giang diễn ra mạnh mẽ vào năm 2023.
Trong đó Công ty CP Khải Thịnh Trà Vinh nắm 50% cổ phần, tương ứng 500 tỉ đồng. Còn ông Nguyễn Tấn Sự nắm 30%, tiếp đến hai cá nhân là Liêng Thành Liêm và Tạ Trầm Khải Minh cùng góp tỉ lệ 10%.
Doanh nghiệp này hoạt động chính trong lĩnh vực xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, xây dựng và kinh doanh cảng biển. Hiện do ông Nguyễn Tấn Sự làm Chủ tịch hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc.
Còn tại Công ty CP Bệnh viện tư nhân đa khoa Triều An, tại thời điểm cuối tháng 9-2025, tổng tài sản vượt 1.000 tỉ đồng. Trong đó lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 122 tỉ đồng.
Theo tài liệu họp đại hội đồng cổ đông năm 2025, Triều An đặt mục tiêu doanh thu đạt 820 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 69 tỉ đồng.
Khuyến nghị được các chuyên gia nêu tại hội thảo "Xanh hóa khu công nghiệp tại Việt Nam", ngày 7/7.
Bà Phan Thu Hằng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC), cho hay Việt Nam chịu ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu. Những đợt nắng nóng cực đoan, bão lũ có thể tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
"Khu công nghiệp xanh tương lai vừa phải tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải carbon, vừa cần sử dụng hạ tầng tự nhiên làm giải pháp chống chịu thiên tai", bà Hằng nhận định.
Theo dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam thường hứng chịu hàng chục thiên tai mỗi năm. Riêng năm ngoái, cả nước có 22 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, gây thiệt hại hơn 85.000 tỷ đồng.
Giám đốc điều hành VGBC Douglas Snyder cảnh báo các sự kiện như ngập lụt nghiêm trọng có thể khiến khu công nghiệp phải đóng cửa cả tuần, gây hư hỏng thiết bị và thiệt hại lớn về kinh tế. "Khả năng chống chịu thiên tai đang trở thành yêu cầu thiết yếu về thiết kế khu công nghiệp xanh và quản lý rủi ro do biến đổi khí hậu", ông nói.
Ngoài ra, các hệ thống phân loại tài chính bền vững của Việt Nam và ASEAN cũng bao gồm tiêu chí thích ứng biến đổi khí hậu, khả năng chống chịu. Điều này đồng nghĩa một khu công nghiệp có khả năng chống chịu thiên tai tốt giúp giảm thiệt hại cho cơ sở sản xuất, tăng tiếp cận vốn xanh.
Là đơn vị tham gia vào dự án khu công nghệ cao sinh học Silverlake (Hà Nội), ông Torsten Illgen, Chủ tịch Inros Lackner Vietnam, cho biết khả năng chống chịu bão lũ, thiên tai đã được chủ đầu tư tính đến ngay từ đầu. Theo đó, tổ hợp 199 ha này được thiết kế một hồ điều tiết rộng gần 25 ha ở trung tâm để thu gom và xử lý nước mưa - một phần trong chiến lược "thành phố bọt biển".
Theo ông, mô hình này giúp giảm ngập lụt, tăng không gian xanh, nâng cao khả năng chống chịu khí hậu, đồng thời bổ sung nguồn nước ngầm.
"Với khu công nghiệp xây mới, nên thiết kế khả năng chống chịu ngay từ đầu, trong quy hoạch 1/2000. Nhà đầu tư nên tính đến cụ thể cảnh quan, nguồn nước và cả trồng cây gì... tại đó", ông Torsten Illgen nêu khuyến nghị.
Các chuyên gia nhận định chuyển đổi xanh đã trở thành "yêu cầu bắt buộc" đối với tương lai phát triển và sức cạnh tranh của ngành sản xuất Việt Nam. Trong đó, nếu lĩnh vực công nghiệp không tiến tới phát thải ròng bằng không, Việt Nam có nguy cơ chứng kiến các nhà sản xuất khác rời đi nước khác.
Theo ông Douglas Snyder, thiết kế xanh cho khu công nghiệp cần tích hợp ngay từ giai đoạn ý tưởng, để tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả. "Nên nhìn chi phí cho toàn vòng đời dự án. Nếu không thiết kế trước thì chi phí chuyển đổi có thể cao và triển khai cũng phức tạp hơn", ông nhận định.
Những ngày đầu tháng 6, tại thủ phủ trồng dứa gai Thanh Hóa ở xã Hà Long và phường Quảng Trung, nông dân đang thuê người tất bật thu hoạch giữa thời tiết nắng nóng gay gắt. Trên các triền đồi, dứa chín vàng phủ kín ruộng nhưng không còn cảnh thương lái tấp nập như mọi năm.
Giá giảm sâu, sức mua chậm khiến nhiều người thấp thỏm khi thành quả sau hơn một năm chăm sóc đứng trước nguy cơ thất thu.
Tại cánh đồng dứa ở thôn Khắc Dũng, xã Hà Long, ông Quách Văn Phan liên tục đi kiểm tra những luống dứa đã đến kỳ thu hoạch. Gia đình ông đầu tư khoảng 400 triệu đồng cho hơn 2 ha dứa, nhưng đến nay mới tiêu thụ được khoảng ba sào (tương đương 1.500 m2), thu về gần 50 triệu đồng.
Phần diện tích còn lại vẫn nằm ngoài đồng trong khi nhiều quả bắt đầu nám vỏ, hư hỏng do nắng nóng kéo dài. "Có lúc một kg dứa còn không bằng một bó rau ngoài chợ", ông Phan nói.
Theo ông, năm ngoái dứa loại đẹp có thời điểm bán được 14.000 đồng một kg, giá bình quân các loại khoảng 9.000 đồng một kg. Nhưng năm nay, 1 kg dứa loại một chỉ còn 6.000-7.000 đồng, những quả nhỏ hoặc bị nám gần như không có người mua. Giá giảm mạnh cùng lượng dứa hư hỏng khiến gia đình ông Phan nguy cơ thua lỗ hàng trăm triệu đồng.
Không xa ruộng dứa của ông Phan, bà Trần Thị Hồng cũng bất lực nhìn hàng nghìn quả dứa chín dần rồi hư hỏng ngoài đồng. Gia đình bà trồng khoảng 2 ha dứa nhưng gần một nửa diện tích bị ảnh hưởng do tiêu thụ chậm. "Dứa không bán được, gặp nắng nóng kéo dài nên nám rồi thối ngay trên ruộng", bà Hồng cho biết.
Theo bà, thiệt hại không chỉ nằm ở sản lượng quả mất đi. Nhiều cây dứa bị ảnh hưởng cũng không thể sử dụng phần ngọn để làm giống cho vụ tiếp theo, làm tăng thêm chi phí sản xuất đầu vào.
Toàn xã hiện có khoảng 700 ha dứa. Theo bà Phùng Thị Luyên, chuyên viên Phòng Kinh tế xã Hà Long, giá giảm sâu cùng thời tiết bất lợi khiến nhiều hộ sản xuất rơi vào cảnh thua lỗ.
Nhiều hộ dân phải dùng lưới che nắng nhằm hạn chế tình trạng cháy quả nhưng kết quả không đáng kể. Dọc các tuyến đường liên thôn, nhiều đống dứa bị loại hoặc đổ bỏ vì không có người thu mua.
Ông Quách Văn Nhất, Trưởng thôn Khắc Dũng, cho biết chưa năm nào việc tiêu thụ dứa lại khó khăn như vậy. Lượng thương lái đến thu mua giảm mạnh khiến nhiều diện tích dứa chín quá lứa, mất giá trị thương phẩm. "Dứa đến kỳ thu hoạch nhưng không có người mua, người dân rất sốt ruột", ông Nhất nói.
Nguyên nhân chính khiến giá dứa giảm sâu là diện tích trồng tăng nhanh trong khi đầu ra vẫn phụ thuộc chủ yếu vào thương lái tự do, theo ông Trịnh Văn Chất, Trưởng phòng Trồng trọt, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thanh Hóa. Các chuỗi liên kết tiêu thụ và hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp còn hạn chế, khiến thị trường dễ rơi vào tình trạng cung vượt cầu khi sản lượng tăng mạnh.
Ngành nông nghiệp Thanh Hóa nhận định việc mở rộng diện tích dứa trong những năm gần đây xuất phát từ giai đoạn giá dứa gai tăng cao, có thời điểm lên tới 15.000-16.000 đồng một kg. Nhiều hộ dân đã chuyển đổi đất trồng mía sang trồng dứa, cùng với việc áp dụng kỹ thuật thâm canh tốt hơn giúp năng suất tăng đáng kể.
Theo quy hoạch trước đây, đến năm 2030, Thanh Hóa dự kiến phát triển khoảng 2.300 ha dứa. Tuy nhiên, sau khi quy hoạch này không còn hiệu lực, diện tích dứa trên địa bàn đã tăng lên khoảng 5.500 ha, gấp hơn hai lần so với định hướng ban đầu.
Ông Chất phân tích, hiện chi phí đầu tư cho một ha dứa khoảng 275 triệu đồng, bao gồm giống, phân bón, nhân công và chi phí đất đai. Với mức giá khoảng 5.000 đồng một kg, người trồng mới có thể hòa vốn. Nếu giá tiếp tục giảm hoặc sản lượng bị ảnh hưởng bởi thời tiết, nguy cơ thua lỗ là rất lớn.
Để giải quyết bài toán đầu ra, tỉnh Thanh Hóa vừa thu hút được hai nhà đầu tư lớn xúc tiến xây dựng nhà máy chế biến dứa quy mô lớn. Khi đi vào hoạt động, các nhà máy này dự kiến cần nguồn nguyên liệu tương đương 2.500 ha dứa, góp phần tiêu thụ sản lượng cho vùng nguyên liệu hơn 5.000 ha hiện nay.
Theo ông Chất, địa phương cũng đang triển khai các chính sách hỗ trợ tích tụ đất đai, phát triển vùng sản xuất tập trung, đồng thời yêu cầu các địa phương kiểm soát chặt việc mở rộng diện tích trồng mới, hướng dẫn người dân sản xuất rải vụ, quản lý nguồn giống và hỗ trợ phát triển cây giống nuôi cấy mô nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.