Khi TP HCM đưa ra đề xuất miễn phí vé xe buýt cho toàn dân, phản ứng ban đầu của nhiều người là dè dặt: “Nghe rất hay, nhưng liệu có thực tế không?”. Cá nhân tôi cho rằng điều đáng trân trọng ở đề xuất này không nằm ở chỗ “miễn phí”, mà là dám thay đổi tư duy. Bao năm qua, chúng ta loay hoay mở thêm đường, tăng thêm chuyến, đầu tư thêm phương tiện… nhưng lại chưa đủ mạnh để khiến người dân muốn rời bỏ xe cá nhân.
Khi nghe TP HCM tính đến chuyện miễn phí vé xe buýt, tôi chợt nghĩ: nếu hệ thống đủ thuận tiện, đủ phủ rộng và đủ đáng tin, thì việc rời xe máy không phải là điều quá xa vời. Ngược lại, nó có thể trở thành một lựa chọn rất tự nhiên. Tôi hình dung mình đi làm bằng xe buýt, con tôi đi học bằng xe buýt, những chuyến đi ngắn trong thành phố cũng không cần đến xe cá nhân.
Có một sự thật mà ai sống lâu ở đô thị cũng hiểu, nhưng ít khi nói thẳng: nhiều năm qua, xe buýt ở Hà Nội hay TP HCM vẫn ở một vị trí khá chênh vênh – không tệ đến mức bị quay lưng hoàn toàn, nhưng cũng chưa đủ tốt để người ta chủ động bước lên. Nó giống như một phương án dự phòng khi không còn lựa chọn nào khác thì mới nghĩ tới.
Thực lòng mà nói, 7.000 đồng tiền vé xe buýt chưa bao giờ là lý do khiến tôi bận tâm. Điều tôi và có lẽ nhiều người khác mong muốn hơn, là một cảm giác dễ chịu khi di chuyển: không phải căng mình giữa dòng xe, không phải loay hoay tìm chỗ gửi, không phải mang theo sự mệt mỏi ngay từ khi chưa bắt đầu một ngày làm việc.
>> Đi làm 30 km bằng xe máy vì không dám lái ôtô vào nội thành Hà Nội
Nếu xe buýt thực sự trở thành một lựa chọn dễ chịu, tôi sẵn sàng cùng con mình đi lại bằng xe buýt mỗi ngày. Không phải vì vài nghìn đồng tiền vé, mà vì cảm giác yên tâm khi không phải chen chúc, không phải căng thẳng giữa dòng xe, và biết rằng mình đang góp một phần nhỏ để thành phố bớt ngột ngạt hơn.
Thế giới đã đi con đường này từ lâu. Nhiều đô thị không xem việc trợ giá hay miễn phí giao thông công cộng là “nuôi một hệ thống tốn kém”, mà là khoản chi cần thiết để “mua lại” một thứ quý hơn rất nhiều: một thành phố đáng sống. Một nơi mà người ta không phải trả giá bằng sức khỏe, thời gian và sự căng thẳng chỉ để di chuyển vài cây số.
Nhìn sang Hà Nội, câu chuyện miễn phí xe buýt không còn là “có nên làm hay không?” nữa. Câu hỏi đúng lúc này phải là: bao giờ bắt đầu? Bởi những gì đang diễn ra mỗi ngày trên đường phố đã nói rất rõ – mật độ phương tiện ngày càng dày, không khí ngày càng ngột ngạt, còn hạ tầng thì gần như đã chạm ngưỡng. Nếu cứ đi theo cách cũ, chúng ta chỉ đang kéo dài một trạng thái quá tải vốn đã hiện hữu.
Từ câu chuyện của TP HCM, tôi thực lòng mong Hà Nội và các đô thị lớn khác cũng sẽ cân nhắc nghiêm túc. Không cần làm ngay một bước thật lớn, nhưng cần một quyết định đủ dũng cảm để bắt đầu. Bởi đôi khi, điều khó nhất không phải là tiền bạc hay kỹ thuật, mà là dám thay đổi cách nghĩ. Và một khi đã bắt đầu đúng hướng, phần còn lại sẽ là câu chuyện của thời gian và của niềm tin.
Tôi là nữ, độc thân, năm nay 27 tuổi. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi làm việc ở Việt Nam 3 năm với mức lương 10-14 triệu đồng một tháng (mới tốt nghiệp 10 triệu đồng và tăng dần lên 14 triệu đồng).
Vì yêu thích văn hóa Nhật, tôi quyết định sang Nhật vào năm 25 tuổi. Hiện tôi đang làm việc ở Nhật diện visa kỹ sư, trình độ tiếng Nhật N2. Mức lương hiện tại ở Nhật sau khi trừ các chi phí sinh hoạt, quần áo, mỹ phẩm, thỉnh thoảng du lịch trải nghiệm... thì tôi để dành được khoảng 25-30 triệu đồng một tháng.
Gần đây, mỗi lần gọi điện về nhà, ba mẹ tôi không thúc ép nhưng thường xuyên bày tỏ mong muốn tôi về Việt Nam. Gia đình tôi đang sinh sống tại TP HCM, tôi có đứa em gái đang học đại học, ba mẹ đều đang có việc làm.
Khi còn ở Việt Nam, tôi chỉ phụ một khoản tiền chợ và đảm nhiệm việc nấu nướng cho cả nhà. Từ khi sang Nhật tôi cũng không gửi tiền về nhà hàng tháng, chỉ thỉnh thoảng gửi về đồ dùng, thực phẩm chức năng cho cả nhà dùng, đôi khi lì xì ba mẹ dịp sinh nhật.
Ba mẹ tôi có bốn căn nhà là tài sản ba mẹ gây dựng được, một căn đang ở và ba căn nhà cho thuê, tổng thu nhập từ tiền thuê nhà khoảng 20 triệu đồng một tháng.
Năm ngoái, sau khi bà ngoại tôi mất, mẹ tôi có chia sẻ là mẹ nhận được 3 tỷ đồng thừa kế. Mẹ bày tỏ mong muốn tôi trở về Việt Nam vì lo tôi ở bên này vất vả, áp lực. Mẹ nói nếu tôi thích Nhật thì đi trải nghiệm tầm 3 năm thôi rồi về tìm công việc gần nhà, làm việc gì nhẹ nhàng thôi cũng được.
Tôi vốn thích nấu ăn, mẹ động viên tôi về rồi sau này nếu thích thì mẹ cho tiền mở tiệm. Ba mẹ tôi không hối thúc tôi lập gia đình, vì ba mẹ hiểu tôi từng chia tay một mối tình sâu đậm, mất nhiều thời gian để vượt qua và hiện tại chưa có duyên đến với ai.
Trước đây tôi nói với gia đình là tôi đi Nhật trải nghiệm, học hỏi một thời gian. Bây giờ ở Nhật được hai năm, hiện tôi đang khá thích cuộc sống ở đây. Công việc áp lực nhưng tôi học hỏi được rất nhiều điều, có thêm nhiều trải nghiệm, còn để dành được nhiều hơn hẳn.
Tính cách tôi hướng nội, làm việc tỉ mỉ, hay chú ý tiểu tiết nên lại cảm thấy thích hợp với văn hóa làm việc cũng như cuộc sống ở Nhật hơn là ở Việt Nam. Tôi cảm thấy chuyên môn của tôi làm việc ở Nhật tốt hơn và có cơ hội phát triển bản thân hơn, không như trước đây tôi làm ở Việt Nam tuy cũng từng làm qua công ty lớn nhưng cách làm việc toàn là kiểu đối phó, đồng nghiệp thì toàn tìm cách dìm hàng lẫn nhau.
Với visa kỹ sư, tôi có thể lựa chọn ở Nhật lâu dài nếu muốn. Tôi cũng có vài dự định ở Nhật, ví dụ như học thêm các chứng chỉ chuyên môn trong công việc, học tiếng Nhật lên N1, lấy bằng lái xe hơi. Tôi muốn phấn đấu vì sau này tôi cũng sẽ tự gây dựng được tài sản, nhà cửa giống ba mẹ tôi, và nếu còn được may mắn, cuộc sống dư dả không có biến động gì thì tôi sẽ mở bếp ăn từ thiện.
Tôi đang nghĩ mỗi năm về nhà ăn Tết một lần chứ nếu nói về Việt Nam hẳn thì tôi đang rất băn khoăn. Tôi cũng có lúc nhớ nhà, cũng muốn ở gần ba mẹ và em gái, lúc rảnh thì đi cà phê với bạn bè.
Tuy nhìn chung tôi vẫn thích Nhật nhưng ở đâu cũng có mặt trái của nó. Đôi lúc stress, áp lực chỉ dám khóc một mình vì dù sao chính tôi đã nhất quyết lựa chọn con đường này. Gần đây do phải liên tục tăng ca, tôi toàn ăn uống qua loa cho qua bữa, dẫn đến mắc chứng thiếu máu, tôi cũng không dám chia sẻ với ai. Về sự nghiệp lâu dài, ở Nhật ổn về thu nhập nhưng khá khó để thăng tiến lên cấp quản lý.
Nếu về Việt Nam thì tôi ước tính mức lương tôi ở tầm 15-20 đồng một tháng, dựa vào các mối quan hệ cũ, cộng thêm tiếng Nhật, tôi nghĩ sẽ không quá khó để tìm việc khi quay về và cũng có hy vọng thăng tiến hơn. Tôi chỉ mới có dự định phát triển ở môi trường doanh nghiệp, chưa có ý định kinh doanh lúc này vì cảm thấy bản thân còn nhiều thứ phải học hỏi.
Tôi nghe ba mẹ nói muốn tôi về thì tôi thương ba mẹ, và cũng hiểu rằng bản thân tôi nên đưa ra quyết định sớm để xác định hướng đi và lên kế hoạch cho tương lai. Mong các cô chú, anh chị, bạn độc giả cho tôi lời khuyên. Tôi xin cảm ơn.
Tôi từng là du học sinh tại Anh, một hành trình mà gia đình tôi đã đầu tư hàng tỷ đồng với nhiều kỳ vọng. Ngày tốt nghiệp loại giỏi, tôi cũng từng tin rằng tấm bằng "ngoại" sẽ là một lợi thế đủ lớn để mở ra những cánh cửa nghề nghiệp tốt ngay khi trở về nước. Nhưng thực tế lại không dễ dàng như tưởng tượng.
Công việc đầu tiên của tôi tại Việt Nam có mức lương chỉ 11 triệu đồng, cũng không phải một vị trí hào nhoáng đúng với những gì tôi từng nghĩ. Thú thực, đó là một cú sốc thật sự với tôi, vì nó trái ngược hoàn toàn với kỳ vọng của bản thân, gia đình và những ánh nhìn xung quanh.
Tôi từng cay đắng tự hỏi: "Mình đã bỏ ra từng ấy tiền, ngấn ấy năm ở nước ngoài, để rồi bắt đầu như thế này sao?". Nhưng rồi tôi nhận ra, thị trường lao động không trả lương cho quá khứ hay chi phí bạn đã bỏ ra, mà tùy thuộc giá trị bạn có thể tạo ra ngay tại thời điểm đó. Và ở thời điểm ấy, tôi gần như là con số 0 về kinh nghiệm.
Vậy là tôi quyết định kiên nhẫn đi làm, hiểu rằng mình cần một điểm khởi đầu. Những ngày ấy, tôi phải học lại gần như từ đầu: cách làm việc trong môi trường doanh nghiệp Việt Nam, cách giao tiếp với đồng nghiệp, cách xử lý những công việc rất thực tế mà ở giảng đường không dạy...
>> 'Hối hận du học vì về nước lương 13 triệu đồng'
Dần dần, tôi cũng thích nghi và không còn đặt nặng câu hỏi "mình xứng đáng với mức lương bao nhiêu?". Thay vào đó, tôi tập trung vào việc "mình có thể làm gì tốt hơn hôm qua?". Sau mỗi lần chuyển việc, mỗi dự án hoàn thành, thu nhập của tôi tăng lên từng bước, không nhanh, nhưng đủ chắc.
Đến hiện tại, thu nhập của tôi đã chạm mốc 100 triệu đồng mỗi tháng. Nhìn lại, điều giúp tôi đi được đến đây không phải chỉ là nhờ tấm bằng đại học ở nước ngoài, mà là cách tôi sử dụng nó như một nền tảng để tiếp tục học hỏi và tiến lên.
Tôi không phủ nhận giá trị của bằng đại học ở nước ngoài. Ngược lại, tôi tin phần lớn du học sinh đều có lợi thế về ngoại ngữ, tư duy, tính kỷ luật nhờ được tiếp cận những nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới. Nhưng cần nhìn thẳng vào thực tế, đó chỉ là điểm xuất phát, không phải tấm vé đảm bảo cho một vị trí cao hay mức lương "khủng".
Thị trường lao động không phân biệt bạn học ở đâu, mà quan tâm bạn làm được gì, giải quyết vấn đề ra sao và có phù hợp với tổ chức hay không? Một người chưa từng đi làm, dù có bằng cấp từ nước ngoài, vẫn cần thời gian để chứng minh năng lực của bản thân.
Cú sốc "bằng ngoại, lương nội" có thể khiến nhiều du học sinh hụt hẫng khi mới trở về, giống như tôi trước đây. Nhưng nếu nhìn theo hướng khác, đó lại là một phép thử cần thiết. Nó buộc chúng ta phải điều chỉnh kỳ vọng, học cách thích nghi và hiểu rằng con đường sự nghiệp là một quá trình tích lũy, không phải một bước nhảy vọt. Điều quan trọng không phải là bạn bắt đầu ở mức lương bao nhiêu, mà là bạn đi được bao xa sau đó.
Văn phòng công ty của tôi nằm ở trung tâm thành phố. Dọc tuyến đường dài hơn một km có rất nhiều tòa nhà văn phòng. Bên cạnh đó cũng có nhiều quán cơm, quán cà phê phục vụ đông đảo nhân viên văn phòng.
Tháng trước có một quán cơm văn phòng khai trương, tôi và nhiều đồng nghiệp gọi vui là quán "bình ổn giá": Suất cơm một món giá 40.000 đồng, có trà đá, trái cây... rất đông khách tới ăn.
Suốt chục năm làm việc ở đây, tôi thấy có nhiều quán khai trương rồi đóng cửa. Giá một phần ăn từ 35.000 - 45.000 rồi tăng lên 50.000 đồng theo thời gian. Nhưng kỳ lạ là, dù mặt bằng giá thay đổi, số phận của nhiều quán vẫn giống nhau: mở ra vài tháng, rồi vắng khách dần và biến mất.
Duy chỉ có một quán bún chả và một quán cà phê trụ lại, dù giá của họ không hề rẻ. Ban đầu, tôi cũng nghĩ đơn giản: Giá rẻ thì đông khách, đông khách thì sống được. Nhưng dường như hai quán kia đã đi ngược lại điều này?