Những ngày đầu hè, các sạp hoa quả bắt đầu phủ kín sắc đỏ tím của mận. Loại quả chua ngọt này luôn nằm trong nhóm trái cây được nhiều người “săn đón” mỗi khi vào mùa.
Theo bác sĩ Đông y Trương Văn Quân, nếu ăn đúng cách, loại quả này có thể hỗ trợ thanh nhiệt, kích thích tiêu hóa và giúp cơ thể dễ chịu hơn trong thời tiết nóng bức.
Cụ thể, mận trong Đông y được xem là loại quả có khả năng “sinh tân dịch”, hỗ trợ thanh nhiệt và giải khát cho cơ thể.
Theo bác sĩ Đông y Trương Văn Quân, mận còn được gọi là lý tử. Trong y học cổ truyền, loại quả này có vị chua ngọt, tính bình, thường được dùng nhằm hỗ trợ thanh nhiệt, sinh tân dịch, lợi tiểu và kích thích tiêu hóa.
“Khái niệm sinh tân dịch trong Đông y có thể hiểu là hỗ trợ cơ thể bớt khô nóng, giảm cảm giác háo nước, khô miệng trong những ngày thời tiết oi bức. Vì vậy, mận từ lâu đã được dùng như một loại quả giải nhiệt mùa hè”, BS Quân chia sẻ.
Giàu vitamin C và chất chống oxy hóa
Không chỉ xuất hiện trong các bài thuốc dân gian, mận còn được đánh giá là loại quả giàu dinh dưỡng.
Theo BS Quân, mận chứa nhiều vitamin C, vitamin A, vitamin K cùng chất xơ và các khoáng chất như kali, magie. Đặc biệt, loại quả này còn giàu anthocyanin, quercetin và các hợp chất chống oxy hóa tự nhiên.
Một số nghiên cứu cho thấy các hoạt chất chống oxy hóa trong mận có thể giúp trung hòa gốc tự do, hỗ trợ bảo vệ tế bào trước quá trình oxy hóa.
Những đặc tính này có thể góp phần giúp cơ thể cảm thấy dễ chịu hơn khi ăn mận đúng cách trong mùa hè.
“Mận chứa khá nhiều nước và vitamin C. Khi dùng với lượng phù hợp, loại quả này giúp kích thích vị giác, hỗ trợ tiêu hóa và góp phần giảm cảm giác mệt mỏi do nóng bức”, BS Quân nói.
Ngoài ra, chất xơ trong mận cũng được cho là có lợi cho hệ tiêu hóa. Trong dân gian, mận khô từ lâu đã được dùng để hỗ trợ giảm táo bón nhờ chứa sorbitol và một số hợp chất kích thích nhu động ruột tự nhiên.
Theo BS Quân, trong những ngày nắng nóng, nhiều người dễ gặp tình trạng ăn uống kém, khô miệng, cảm giác nóng trong hoặc háo nước. Với đặc tính chua ngọt, nhiều nước, mận có thể giúp kích thích tiết nước bọt và tạo cảm giác dễ ăn hơn.
“Trong Đông y, các loại quả có vị chua nhẹ thường có tác dụng sinh tân dịch, giúp cơ thể bớt khát và hỗ trợ tiêu hóa. Mận là một trong những loại quả được sử dụng khá phổ biến vào mùa hè với mục đích này”, bác sĩ Quân cho biết.
Không chỉ ăn tươi, dân gian còn có nhiều cách dùng mận khác như ép nước uống, ngâm đường hoặc làm ô mai. Một số gia đình dùng nước mận ngâm như thức uống giải khát trong ngày nóng.
Ngoài phần quả, một số tài liệu y học cổ truyền còn nhắc tới việc sử dụng rễ, vỏ hoặc hạt mận trong các bài thuốc dân gian. Tuy nhiên, BS Quân cho rằng người dân không nên tự ý áp dụng các bài thuốc truyền miệng khi chưa có hướng dẫn chuyên môn.
Theo BS Quân, mận là loại quả có lợi nếu ăn điều độ. Tuy nhiên, vì vị chua khá mạnh nên không nên ăn quá nhiều trong một lúc.
“Ăn lượng vừa phải sẽ giúp cơ thể cảm thấy dễ chịu, kích thích tiêu hóa. Nhưng nếu ăn liên tục quá nhiều, nhất là khi chấm muối cay hoặc ăn lúc đói, nhiều người có thể gặp tình trạng nóng rát dạ dày, nhiệt miệng hoặc nổi mụn”, BS Quân nói.
Chuyên gia này khuyến nghị mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng vài quả mận tùy kích thước, kết hợp cùng chế độ ăn cân bằng và uống đủ nước.
Ngoài ra, những người có bệnh lý dạ dày hoặc hệ tiêu hóa nhạy cảm nên hạn chế ăn khi bụng đói do lượng axit tự nhiên trong mận có thể gây cảm giác cồn cào, khó chịu.
Một lưu ý khác là nên rửa sạch mận trước khi ăn, tránh thói quen chấm quá nhiều muối ớt vì có thể làm tăng lượng muối nạp vào cơ thể.
Ngày 16-4, Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng cho biết vừa điều trị một trường hợp bệnh nhi ngộ độc hóa chất nặng.
Bệnh nhi P.T.N. (2 tuổi) nhập viện trong tình trạng nôn ói nhiều, đi cầu phân lỏng màu xanh nhạt lẫn máu đỏ tươi. Qua khai thác bệnh sử, các bác sĩ ghi nhận trước đó bé nuốt phải tinh thể màu xanh do anh trai mang từ trường về sau buổi học thực hành.
Các bác sĩ xác định đây là tinh thể đồng sunfat (CuSO₄), hóa chất thường sử dụng trong các thí nghiệm khoa học.
Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng cho biết khi nhập viện, trẻ li bì, môi tím tái, mạch quay bắt nhẹ, thở gắng sức, SpO₂ thấp. Bệnh nhi được truyền dịch, thở oxy và chuyển đến khoa hồi sức nhi để tiếp tục điều trị.
Trong quá trình điều trị, tình trạng bệnh nhi diễn tiến nặng với suy chức năng đa cơ quan do độc tính của hóa chất.
Trẻ được điều trị hồi sức tích cực, gồm đặt nội khí quản thở máy, dùng thuốc vận mạch, truyền dịch, sử dụng thuốc tăng thải đồng qua nước tiểu, điều chỉnh rối loạn điện giải, toan kiềm và theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn.
Do diễn tiến nặng, bệnh nhi được chỉ định lọc máu liên tục nhằm hỗ trợ chức năng các cơ quan và kiểm soát các rối loạn nghiêm trọng.
Sau hơn 2 tuần điều trị hồi sức tích cực, tình trạng bệnh nhi dần cải thiện, qua giai đoạn nguy hiểm.
BS Võ Tấn Ngà, khoa cấp cứu - hồi sức tích cực và chống độc, cho biết đồng sunfat là hợp chất có màu xanh lam, dễ khiến trẻ nhỏ tò mò.
Khi nuốt phải, chất này có thể gây ngộ độc qua nhiều cơ chế, trong đó có tình trạng methemoglobinemia, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu đến các mô.
Ngoài ra, ngộ độc đồng sunfat còn có thể gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, nôn ói dữ dội, tan máu cấp, tổn thương gan, suy thận cấp và rối loạn chuyển hóa nặng. Trường hợp nặng có thể dẫn đến suy chức năng đa cơ quan, cần điều trị hồi sức tích cực.
Các bác sĩ lưu ý những hóa chất phục vụ học tập khi được mang về nhà nếu không được bảo quản an toàn có thể trở thành nguy cơ đối với trẻ nhỏ.
Trẻ nhỏ có thói quen cầm nắm và đưa đồ vật vào miệng, vì vậy phụ huynh cần kiểm tra các vật dụng trẻ mang từ trường về, không để hóa chất trong tầm với, bảo quản ở nơi an toàn và có nhãn cảnh báo rõ ràng.
Khi nghi ngờ trẻ nuốt phải hóa chất cần đưa đến cơ sở y tế sớm, không tự ý gây nôn, không cho uống các dung dịch trung hòa khi chưa có hướng dẫn của nhân viên y tế, đồng thời mang theo mẫu hoặc bao bì hóa chất để hỗ trợ chẩn đoán.
Theo các bác sĩ, sự giám sát của gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc phòng tránh những tai nạn đáng tiếc cho trẻ nhỏ.
Theo khuyến cáo, mỗi người nên uống từ 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày. Tuy nhiên, thói quen uống nước quá lạnh, quá nhiều, uống nhiều nước ngọt, nước đường có thể gây hại sức khỏe.
Uống quá nhiều nước trong thời gian ngắn để giải cơn khát, làm gia tăng áp lực lên hệ tuần hoàn, thận, khiến bạn đi tiểu nhiều, gây rối loạn chất điện giải. Nếu vượt quá khả năng thải nước của thận (khoảng 0,8-1 lít mỗi giờ), cơ thể có nguy cơ bị hạ natri máu, một tình trạng rối loạn điện giải có thể gây phù não và co giật trong trường hợp nặng.
Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy khi cơ thể đã đủ nước, việc nuốt thêm trở nên khó khăn hơn rõ rệt. Điều này giải thích vì sao nhiều người cảm thấy rất khó uống tiếp khi đã uống quá nhiều nước.
Ngoài ra, bạn không nên uống nước quá lạnh, đặc biệt là nước đá. Nước lạnh có thể làm co mạch máu, rối loạn vi tuần hoàn máu. Uống đá lạnh nhiều hoặc kéo dài làm tổn thương niêm mạc hô hấp, mũi họng, làm giảm các dịch nhờn, tạo điều kiện cho virus hoặc vi khuẩn thuận lợi xuyên qua niêm mạc, tấn công cơ thể, gây bệnh.
Đặc biệt, những người đang có sẵn bệnh như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), viêm thanh quản, viêm phế quản... uống nước đá lạnh có thể gây tổn thương niêm mạc họng, làm trầm trọng triệu chứng của bệnh.
Khi uống nước, nên uống chậm thành từng ngụm nhỏ để cơ thể kịp đáp ứng và dần dần đưa nước đều đến các cơ quan, giúp quá trình hấp thu được thuận lợi.
Nhiều người uống nước dừa, nước mía thay cho nước lọc, có thể gây rối loạn điện giải, ảnh hưởng chức năng cơ, gây tăng cân.
Theo bác sĩ Harsha Mandadi Varadaraju, chuyên gia thận học tại Bệnh viện Amrita (Ấn Độ), thận hoạt động âm thầm mỗi ngày để lọc độc tố, loại bỏ dịch dư thừa, điều hòa huyết áp và duy trì sức khỏe xương. Trên thực tế, phần lớn mọi người chỉ chú ý đến thận khi cơ quan này đã gặp vấn đề, điển hình từ các “sai lầm” về dinh dưỡng dưới đây.
Việc ăn quá nhiều muối làm tăng huyết áp - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương thận. Huyết áp cao kéo dài khiến thận phải hoạt động quá sức và dần suy yếu, theo Times of India (Ấn Độ).
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo nên tiêu thụ dưới 5 g muối/ngày, nhưng nhiều gia đình lại tiêu thụ tới 20 - 25 g mỗi ngày (cao gấp 4 - 5 lần). Nguồn muối không chỉ đến từ việc nêm nếm khi nấu ăn mà còn “ẩn” trong đồ ăn đóng gói, thức ăn vặt, dưa muối và thực phẩm chế biến sẵn.
Do đó, bác sĩ Varadaraju khuyên nên hạn chế thực phẩm nhiều muối; ông cũng lưu ý rằng muối hồng Himalaya không “tốt cho thận” hơn muối thường như nhiều người nghĩ. Với thận, đó vẫn chỉ là muối.
Nhiều người hiện nay có xu hướng ăn nhiều protein hơn mức cần thiết. Theo bác sĩ Varadaraju, người khỏe mạnh thường cần khoảng 0,8 - 1 g protein/kg cân nặng mỗi ngày. Ví dụ, người nặng 70 kg cần khoảng 56 - 70 g protein/ngày. Người tập gym hoặc vận động cường độ cao có thể cần nhiều protein hơn nếu chức năng thận bình thường. Tuy nhiên, với người đã mắc bệnh thận, ăn quá nhiều protein có thể khiến thận phải làm việc vất vả hơn để xử lý chất thải chuyển hóa.
Rau xanh và trái cây thường tốt cho sức khỏe, nhưng với người mắc bệnh thận, một số loại cần hạn chế. Nguyên nhân là vì nhiều thực phẩm chứa kali hoặc phốt pho - đây là các khoáng chất mà thận khỏe mạnh có thể đào thải dễ dàng, nhưng thận đang suy yếu thì không. Do đó, chế độ ăn cho người bệnh thận cần được cá nhân hóa thay vì áp dụng chung 1 thực đơn cho mọi người.
Bác sĩ Varadaraju nhấn mạnh rằng bảo vệ thận không chỉ nằm ở thực phẩm. Duy trì cân nặng hợp lý, tập thể dục đều đặn, hạn chế đồ chế biến sẵn, nước ngọt, bỏ thuốc lá và giảm rượu bia đều giúp thận “già đi” chậm hơn.
Ngoài ra, uống đủ nước cũng giúp giảm nguy cơ hình thành sỏi thận. Nhu cầu nước tùy thuộc mức độ vận động ở mỗi người. Mục tiêu là duy trì lượng nước tiểu khoảng gần 2 lít/ngày với màu vàng nhạt. Vì khi cơ thể thiếu nước, nước tiểu trở nên cô đặc, khoáng chất dễ kết tinh và hình thành sỏi thận.