“Mỗi lần đọc tranh luận ‘nên thuê hay mua nhà?’, tôi thấy có một áp lực vô hình rằng bằng mọi giá phải sở hữu một căn nhà càng sớm càng tốt, nếu không sẽ bị coi là bấp bênh, thiếu ổn định. Nhưng với cá nhân tôi, thuê hay mua đơn giản chỉ là lựa chọn sống của mỗi người mà thôi.
Tôi đi thuê nhà gần 20 năm nay và chưa bao giờ thấy cuộc sống của mình bất ổn như nhiều người vẫn tưởng tượng. Thậm chí, tôi thấy giai đoạn còn trẻ, con còn nhỏ mới là lúc cần tiền để đầu tư cho chất lượng sống và học hành để lo cho tương lai của con cái, chứ căn nhà xét cho cùng cũng chỉ là nơi để đi về. Tôi không muốn vì áp lực mua nhà mà phải thắt lưng buộc bụng suốt nhiều năm, để rồi con cái thiếu thốn đủ thứ: ăn uống dè sẻn, ít được trải nghiệm, không được học hành hay vui chơi bằng bạn bè đồng trang lứa. Theo tôi, đó mới là điều đáng suy nghĩ với những người làm cha mẹ.
Nhiều người nói thuê nhà là sống trong cảm giác tạm bợ vì phụ thuộc chủ nhà. Nhưng trải nghiệm của tôi lại hoàn toàn trái ngược. Với tôi, người trả tiền mới là người có quyền lựa chọn. Tôi thường thuê những căn hộ mới, có sẵn nội thất cơ bản, chỉ cần mang quần áo đến ở. Đồ đạc hỏng thì chủ nhà sửa, nhà xuống cấp hoặc ở không còn phù hợp thì tôi chuyển sang nơi khác.
Có thời gian, tôi chuyển nhà chỉ vì thấy hàng xóm không thân thiện hoặc khu vực an ninh không tốt. Mọi thứ diễn ra khá nhẹ nhàng, không phải đau đầu chuyện sửa chữa, bảo trì hay gánh nặng tài chính kéo dài hàng chục năm. Và một điều tôi thích khi thuê nhà là gia đình mình luôn có cơ hội ở những căn nhà mới, phù hợp với từng giai đoạn cuộc sống.
>> 10 năm sống trong nợ nần khi tôi mua chung cư Hà Nội
Tôi cũng không đồng tình với quan điểm cho rằng mua nhà sẽ giúp con cái ổn định chuyện học hành hơn. Thực tế, từ mẫu giáo đến hết phổ thông rồi đại học, chuyện thay đổi môi trường học tập vài lần là bình thường. Nếu đã mua nhà cố định ở một nơi, nhiều gia đình lại phải chấp nhận cảnh con đi học xa vì không thể chuyển đến gần trường. Trong khi đó, tôi chọn cách rất đơn giản: con học ở đâu thì thuê nhà gần trường ở đó.
Nhờ vậy mà con tôi không phải dậy từ tinh mơ để chen chúc xe cộ hay ngáp ngắn ngáp dài đứng đợi xe đưa đón từ 5h30-6h sáng như tôi vẫn thường thấy mỗi ngày khi đi tập thể dục. Trong khi đó, nhiều đứa trẻ còn rất nhỏ nhưng đã phải bắt đầu ngày mới trong trạng thái mệt mỏi chỉ vì quãng đường đi học quá xa. Còn con tôi, 6h sáng vẫn ngủ ngon lành trong chăn, 6h30 dậy vệ sinh cá nhân, ăn sáng tử tế rồi đi bộ khoảng 5 phút là tới trường. Với tôi, đó mới là sự ổn định và chất lượng sống thực sự.
Đúng là việc sở hữu một căn nhà mang lại cảm giác an tâm với không ít người. Nếu đủ khả năng tài chính mà vẫn duy trì được cuộc sống thoải mái thì đó là lựa chọn rất tốt. Nhưng tôi nghĩ không nên mặc định rằng ai chưa mua nhà cũng là sống tạm bợ hay thiếu trách nhiệm với tương lai. Có người chọn dồn toàn lực để sở hữu tài sản sớm. Có người ưu tiên trải nghiệm sống, giáo dục con cái và sự linh hoạt trong nhiều năm đầu đời. Mỗi lựa chọn đều có cái giá và giá trị riêng.
Xét cho cùng, căn nhà vốn dĩ cũng chỉ là chỗ chui ra chui vào, sao phải khổ vì nó?”.
Đó là quan điểm của độc giả Vuhaianh sau bài viết “10 năm sống trong nợ nần khi tôi mua chung cư Hà Nội” của tác giả Doan NH. Trong bối cảnh giá nhà tại Hà Nội ngày càng leo thang, nhiều gia đình trẻ phải vay nợ hàng chục năm để đổi lấy một căn hộ nhỏ, câu chuyện nên thuê hay mua nhà vẫn luôn gây tranh luận. Áp lực phải mua nhà ở các thành phố lớn đang khiến nhiều người trẻ chấp nhận sống chật vật suốt hàng chục năm chỉ để đổi lấy cảm giác “an cư”.
Dữ liệu từ Numbeo 2026 – nền tảng thống kê chi phí sinh hoạt toàn cầu – cho thấy chỉ số giá nhà trên thu nhập (Price to Income Ratio) của Việt Nam ở mức khoảng 30-32,8 lần, thuộc nhóm cao nhất châu Á và nằm trong top 10 quốc gia khó mua nhà nhất thế giới. Riêng TP HCM, chỉ số này khoảng 32 lần, còn Hà Nội khoảng 31 lần. Điều này đồng nghĩa một hộ gia đình phải mất hơn 30 năm thu nhập mới có thể mua được nhà nếu không chi tiêu cho các nhu cầu khác.
Trong khi đó, nguồn cung nhà ở, đặc biệt phân khúc bình dân, ngày càng khan hiếm dù nhu cầu ở thực vẫn lớn. Căn hộ dưới 35 triệu đồng mỗi m2 gần như biến mất, còn căn hộ trung cấp diện tích 70 m2 hiện phổ biến ở mức 5-7 tỷ đồng.
Tôi nghỉ hưu khi vừa bước qua tuổi 50 - thời điểm mà nhiều người nói tôi đang ở "đỉnh cao" của tiền bạc, vị trí và các mối quan hệ. Trước khi dừng lại, tôi là Trưởng phòng tại một công ty thương mại, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 70 triệu đồng, chưa kể thưởng. Quyết định ấy khiến không ít người thân, bạn bè của tôi tiếc nuối. Có người bạn thân còn mắng tôi: "Ông có điên không khi buông bỏ tất cả lúc này?".
Thật ra, tôi không điên. Tôi chỉ mệt. Nhiều năm trước đó, cuộc sống của tôi gắn liền với những buổi tiếp khách kéo dài, những cuộc nhậu triền miên, những mối quan hệ xã giao mà đôi khi chính tôi cũng không còn phân biệt được đâu là thật lòng, đâu là nghĩa vụ? Lịch làm việc kín mít, điện thoại không lúc nào ngừng đổ chuông. Nhiều người nghĩ đó là thành đạt, nhưng cơ thể tôi thì không nghĩ vậy.
Sức khỏe của tôi bắt đầu lên tiếng. Tôi mất ngủ triền miên, viêm loét dạ dày, huyết áp cao... Đó là lúc tôi nhận ra mình không còn đủ sức để "đánh đu" với chính guồng quay công việc mà mình đã tạo ra nữa. Tôi bắt đầu tự hỏi: nếu cứ tiếp tục như vậy, mình sẽ giữ được gì và đánh mất những gì?
Tôi muốn dừng lại, để xem mình là ai nếu không còn danh xưng, chức vụ? Tôi muốn sống chậm hơn, cảm nhận rõ hơn những điều giản dị mà trước đây mình đã bỏ lỡ.
>> Tôi 'sợ' nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Những ngày đầu nghỉ hưu quả thực không hề dễ chịu. Tôi có nhiều thời gian hơn, nhưng cũng có những khoảng trống khó lấp. Thỉnh thoảng, nghe bạn bè kể về những chuyến du lịch sang trọng, những bữa tiệc xa hoa, những món đồ hiệu đắt tiền, tôi cũng chạnh lòng. Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra: chẳng phải chính vì những điều đó mà mình đã chọn rời đi hay sao?
Tôi không nghỉ hưu để tiếp tục chạy theo những cuộc vui khác. Tôi nghỉ để thoát khỏi vòng xoáy mà mình từng thấy mệt mỏi. Vậy thì có gì phải tiếc nuối khi người khác vẫn đang sống trong điều mà mình đã chủ động buông bỏ?
Dần dần, tôi học cách tận hưởng cuộc sống theo cách rất khác. Một buổi sáng dậy sớm đi bộ, một tách trà uống chậm, một buổi chiều ngồi đọc sách mà không bị làm phiền... Sức khỏe cải thiện, tinh thần nhẹ nhõm hơn, và quan trọng nhất, tôi cảm thấy mình "trở lại" với chính mình.
Ở tuổi này, tôi hiểu rằng con người ta cuối đời không hối tiếc vì đã từ bỏ một chức danh hay một khoản thu nhập. Điều khiến ta day dứt thường là những điều ta từng muốn làm nhưng không dám làm. Tôi đã chọn làm điều mà mình tin là đúng, dù nó đi ngược lại kỳ vọng của nhiều người. Và đến bây giờ, tôi không hối hận.
Khi bạn cảm thấy cần dừng lại, hãy lắng nghe chính mình. Cuộc đời này không dài như ta tưởng. Có những trải nghiệm, nếu không làm ngay, có thể sẽ không còn cơ hội. Vì vậy, nếu đã nghĩ đến, thì hãy dám làm để sau này, khi nhìn lại, ta không phải tiếc nuối vì mình đã không thử.
Sau 21 năm làm việc trong môi trường sản xuất, đặc biệt tại các doanh nghiệp Nhật Bản, tôi nhận ra một nghịch lý khá phổ biến ở ta: rất nhiều kỹ sư ra trường phải được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu về quản lý chất lượng, trong khi đây lại là kỹ năng quyết định giá trị nghề nghiệp của họ trong nhà máy hiện đại. Nhiều người nghĩ chỉ cần giỏi chuyên môn kỹ thuật là đủ để một kỹ sư phát triển tốt trong doanh nghiệp sản xuất. Nhưng thực tế đi làm cho tôi thấy mọi thứ phức tạp hơn nhiều.
Trong các nhà máy tôi từng làm việc, hầu như không ai tuyển một người chỉ học "quản lý" để trực tiếp phụ trách hệ thống chất lượng. Thay vào đó, họ thường chọn những kỹ sư đã làm thực tế ở dây chuyền, hiểu máy móc, hiểu quy trình sản xuất, rồi mới đào tạo thêm về ISO, Kaizen, Lean, quản lý chất lượng hay cải tiến sản xuất.
Lý do là quản lý chất lượng trong nhà máy không phải công việc thiên về giấy tờ như nhiều người nghĩ. Người làm chất lượng phải hiểu lỗi phát sinh từ đâu, công đoạn nào gây lãng phí, tiêu chuẩn nào bất hợp lý, vì sao sản phẩm bị lỗi lặp lại và cách cải tiến quy trình để giảm sai sót. Nếu không hiểu thực tế vận hành, rất khó để xây dựng một hệ thống chất lượng hiệu quả.
Thế nhưng, điều tôi thấy đáng tiếc là nhiều chương trình đào tạo kỹ sư trong nước hiện nay vẫn nặng về lý thuyết kỹ thuật, trong khi phần quản lý chất lượng và quản trị sản xuất lại khá mờ nhạt. Nhiều sinh viên ra trường có thể tính toán rất tốt, nắm kiến thức chuyên ngành khá sâu, nhưng khi bước vào nhà máy lại lúng túng trước các quy trình ISO, kiểm soát chất lượng, quản trị tài liệu, phân tích nguyên nhân lỗi hay phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật với sản xuất.
>> Kỹ sư 'việc nhẹ lương cao' ngày gồng 8 tiếng vì không đam mê
Doanh nghiệp vì thế phải mất thêm nhiều năm để "đào tạo lại" kỹ sư thành những người có tư duy hệ thống. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều kỹ sư thế hệ 7X, 8X, 9X dù có nền tảng chuyên môn tốt nhưng chưa phát huy hết giá trị của mình trong doanh nghiệp. Họ thường phải vừa làm vừa tự tích lũy kiến thức về quản trị sản xuất và quản lý chất lượng trong suốt nhiều năm.
Trong khi đó, xã hội lại đang có xu hướng đánh giá cao những ngành nghề "phi sản xuất" như tài chính, kinh tế hay quản trị. Nhiều bạn trẻ sinh sau năm 2000 dần ít chọn học kỹ thuật hơn vì cho rằng con đường này vất vả, chậm thành công và ít cơ hội bằng các ngành khác.
Theo tôi, đây không phải tín hiệu tích cực cho tương lai công nghiệp Việt Nam. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể thiếu đội ngũ kỹ sư giỏi, người làm sản xuất mạnh, người hiểu công nghệ và có khả năng cải tiến hệ thống thực tế.
Qua nhiều năm làm việc, tôi nhận ra một kỹ sư hiểu quản lý chất lượng luôn có giá trị cao hơn kỹ sư chỉ giỏi chuyên môn thuần túy. Bởi doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần người làm ra sản phẩm, mà cần người giúp hệ thống vận hành ổn định, giảm lỗi, giảm lãng phí và tăng năng suất. Nếu được đào tạo bài bản về quản lý chất lượng ngay từ đại học, kỹ sư sẽ thích nghi nhanh hơn với doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian đào tạo lại và phát huy giá trị sớm hơn.
Mùa hè này, vợ chồng ông bạn tôi hẹn rủ nhau sẽ chạy xe máy lên thăm farm cà phê của ông ấy trên vùng cao nguyên. Nếu như thời điểm vài năm trước, danh xưng đầy đủ của nó phải là "farmstay".
Trước đó, từ một rẫy cà phê, ông bạn tôi dự tính đầu tư một tỷ đồng để làm farmstay, theo trào lưu đang nổi lúc đó. Những dự tính đầy vẻ mộng mơ: Khu này trồng hoa, khu kia làm một cái sàn, trên đó kê cái bàn và vài cái ghế để thưởng trà sáng chiều, khu kia thì đắp một cái lò để buổi tối nướng thịt.
À, trong lúc ông bạn tôi đang tham khảo nên ngồi bệt uống trà hay dùng ghế thì chi phí đã đội lên thêm vài trăm triệu đồng nữa.
Đã vào thế phóng lao phải theo lao, cứ vung tiền ra đầu tư trang trí, thất thoát trong quá trình xây dựng, chi phí vận hành... hai vợ chồng làm việc ở thành phố thì tất nhiên phải thuê thêm vài người săn sóc, quản lý, tiếp khách, dịch vụ quảng cáo... thế rồi ông bạn tôi trót quăng vào đó hơn 3,5 tỷ đồng.
Mở cửa đón khách được vỏn vẹn hai mùa mưa thì sứ mệnh "một nơi chốn xả hơi, chữa lành" coi như kết thúc. Phải đến 30% lượng khách năm đầu là mối quan hệ bạn bè, người quen lên chơi ủng hộ.
Một cặp vợ chồng người quen chung nói với tôi: "Ước gì cũng có đất, có tiền làm như anh chị ấy". Tôi bảo ngay: "Có tiền thì cứ làm khu nhà vườn mình ở cho sướng, bày ra kinh doanh thì mất luôn tiền mà khu farm cũng chẳng sửa chữa để ở được".
Và sự thật là sau khi đi vào hoạt động, hàng tháng phải chi một đóng tiền trả lương nhân viên, bảo dưỡng... làm vợ chồng ông bạn tôi hụt hơi. Mấy tháng cuối còn có chương trình đăng ký ở một đêm khuyến mãi xem tarot chữa lành, khai vấn... cho lời khuyên các kiểu nhưng cũng không ăn thua.
Các mô hình kinh doanh homestay, farmstay chết vì sao? Theo tôi nếu bỏ qua hình thức, thì sự thất bại của mô hình do việc xây theo ý thích và mộng mơ của chủ, chứ không phải khách.
Farmstay có nguồn gốc từ Italy, xuất hiện từ thế kỷ trước, mô hình này kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch. Nông dân mở cửa một phần trang trại của họ, vừa để sản xuất nông nghiệp vừa cung cấp chỗ ở và trải nghiệm cho khách du lịch.
Hãy nhớ các từ khóa "nông dân", "trang trại", "vừa sản xuất nông nghiệp vừa cung cấp chỗ ở và trải nghiệm cho khách du lịch", ta có thể biết được lý do thoái trào và vì sao một cặp vợ chồng ở thành phố, rót tiền tỷ đầu tư farmstay thất bại.
Kế đến là mục đích "kinh doanh chữa lành". Thật ra, khách du lịch Việt nói chung và giới trẻ Việt Nam nói riêng, khi đi du lịch phần đông họ chẳng thiết tha gì chữa lành đâu.
Mỗi nơi họ ghé một tí, cưỡi ngựa xem hoa, chụp cả trăm pô hình rồi tìm một quán cà phê nào đó ngồi lựa ảnh, đăng dần lên mạng xã hội mà thôi. Trong khi số thật sự cần chữa lành rất ít, thì mô hình sinh ra phục vụ cho ai?
Tôi thấy có quá nhiều lý do thất bại nếu người muốn kinh doanh loại hình du lịch này không tính toán kỹ. Thà đầu tư xây một khách sạn, không có khách tự túc thì còn có khách theo tour (khách đi tour chả công ty du lịch nào liên hệ farm).
Và bây giờ, cái farm của ông bạn tôi lại quay về với cái rẫy cà phê, thật ngao ngán vì số tiền ném qua cửa sổ coi như mất.