Viện Kinh tế xây dựng cho biết như vậy khi báo cáo Bộ Xây dựng về so sánh giải pháp làm đường cao tốc tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây) bằng cầu cạn và nền đắp từ đất, cát.
Viện Kinh tế xây dựng cho biết theo quy hoạch, hệ thống đường cao tốc miền Tây đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 có tổng chiều dài khoảng 1.256km, gồm 3 tuyến trục dọc và 3 tuyến trục ngang.
Dự kiến đến cuối năm 2026, miền Tây sẽ hoàn thành khoảng 554km cao tốc. Còn lại khoảng 702km sẽ tiếp tục đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 và sau năm 2030.
Tuy nhiên, đây là khu vực có điều kiện địa chất, thủy văn đặc thù bậc nhất cả nước. Địa hình thấp, cao trung bình chỉ từ 0,5-1,5m so với mực nước biển, thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập úng, triều cường và nước biển dâng.
Nền đất trong khu vực chủ yếu là bùn, sét hữu cơ và đất yếu có khả năng chịu tải thấp, dễ lún kéo dài khi thi công các công trình giao thông quy mô lớn.
Bên cạnh đó, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch tại miền Tây dày đặc cũng khiến việc đắp nền đường truyền thống gặp nhiều khó khăn, làm gia tăng nguy cơ sạt lở và ảnh hưởng dòng chảy tự nhiên.
Theo tính toán của Viện Kinh tế xây dựng, một trong những bài toán nan giải nhất hiện nay là nguồn cát đắp nền đường tại miền Tây khi làm đường cao tốc bằng nền đắp.
Nếu đầu tư khoảng 700km cao tốc bằng nền đắp, miền Tây sẽ cần khoảng 147,69 triệu m3 cát cùng hơn 4 triệu m3 đá xây dựng.
Trong khi đó, tổng trữ lượng cát của các mỏ đang được cấp phép khai thác chỉ khoảng 20 triệu m3, công suất khai thác khoảng 8 triệu m3 mỗi năm. Đáng chú ý, chỉ có cát ở Đồng Tháp và An Giang (đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu) được đánh giá đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho các dự án đường cao tốc.
Nguồn cát từ các mỏ đã quy hoạch nhưng chưa cấp phép hiện khoảng 106 triệu m3. Tuy nhiên, lượng vật liệu này còn phải phục vụ hàng loạt dự án khác như khu công nghiệp, khu đô thị, hạ tầng dân dụng và san lấp mặt bằng.
Điều này khiến nguy cơ thiếu cát cho các dự án cao tốc ngày càng rõ rệt, kéo theo giá vật liệu tăng cao và ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công.
Ngoài ra, việc khai thác cát quá mức tại hệ thống sông ở miền Tây còn gây nhiều hệ lụy như sạt lở bờ sông, ảnh hưởng sinh kế người dân và làm tăng chi phí xử lý môi trường.
Trong bối cảnh đó, phương án xây dựng cao tốc bằng cầu cạn được đặt ra nhằm giảm phụ thuộc vào cát đắp nền.
Theo tính toán của Viện Kinh tế xây dựng, với đường cao tốc quy mô 4 làn xe, rộng 17m, tốc độ thiết kế 80-100km/h, chi phí xây dựng 1km đường nền đắp khoảng hơn 154,2 tỉ đồng, chưa bao gồm giải phóng mặt bằng.
Trong khi đó, nếu xây bằng cầu cạn, chi phí lên tới hơn 379,6 tỉ đồng/km, cao gấp khoảng 2,5 lần.
Tuy nhiên, nếu tính tổng chi phí quản lý, khai thác, bảo trì và sửa chữa trong vòng đời dự án khoảng 100 năm, khoảng cách chi phí được thu hẹp đáng kể.
Cụ thể, tính cả tổng chi phí quản lý, vận hành khai thác, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ trong vòng đời dự án (100 năm) thì 1km cao tốc nền đắp là gần 224 tỉ đồng, còn 1km cầu cạn là gần 387,5 tỉ đồng. Mức chênh lệch còn khoảng hơn 163,5 tỉ đồng/km, tương đương hơn 73%.
Ngoài yếu tố chi phí, mỗi phương án còn có những ưu và nhược điểm riêng.
Đối với đường đắp nền truyền thống, thời gian thi công thường kéo dài 30-36 tháng do phải xử lý đất yếu và chờ lún. Cầu cạn có thể rút ngắn đáng kể tiến độ, thời gian thi công phổ biến khoảng 18-24 tháng.
Cầu cạn cũng có lợi thế về giải phóng mặt bằng khi diện tích sử dụng đất nhỏ hơn đáng kể so với nền đường đắp và thích ứng biến đổi khí hậu tốt hơn
Về tuổi thọ công trình, đường đắp nền với kết cấu mặt đường nhựa thường có tuổi thọ thiết kế khoảng 15-20 năm, tuổi thọ khai thác thực tế khoảng 30-50 năm tùy điều kiện nền đất và lưu lượng xe.
Trong khi đó, cầu cạn có tuổi thọ thiết kế từ 50-100 năm, ít chịu tác động của ngập úng và nước biển dâng nên khả năng khai thác ổn định cao hơn.
Đường đắp nền có nhu cầu cát đắp rất lớn, tạo áp lực khai thác cát sông; làm tăng vật liệu thừa và nước thải, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Tuy nhiên, cầu cạn cũng không phải phương án tối ưu tuyệt đối vì dù sử dụng cát ít hơn nhưng cần nhiều xi măng và thép hơn dẫn tới tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, phát thải nhiều bụi mịn và chất thải rắn, phát thải lượng lớn khí nhà kính.
Với chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn đáng kể, giải pháp làm đường cao tốc chạy trên nền đất có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế, khả năng huy động nguồn lực đầu tư của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, về lâu dài, để giảm phụ thuộc vào cát tự nhiên đang ngày càng khan hiếm, cần tiếp tục nghiên cứu các loại vật liệu thay thế như cát biển, tro xỉ nhiệt điện, vật liệu tái chế và các loại vật liệu địa phương khác.
Với cầu cạn, nên ưu tiên tại các khu vực đô thị đông dân cư, vùng thường xuyên ngập sâu, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc những nơi nền đất yếu có chiều sâu lớn, vượt phạm vi xử lý bằng giải pháp thông thường.
Ngày 8.5, Công an xã Pơng Drang (Đắk Lắk) cho biết đang củng cố hồ sơ để xử lý thiếu nữ A. (ở xã Thăng Trường, TP.Đà Nẵng) sát hại con ruột tử vong ngay sau khi vừa sinh.
Ngày 4.5, Công an xã Pơng Drang tiếp nhận tin báo của một người dân về việc khoảng 4 giờ 30 cùng ngày, có một đôi nam nữ đến nhà xin đi nhờ vệ sinh. Người đàn ông ngồi chờ bên ngoài, còn người phụ nữ vào nhà vệ sinh. Khoảng 15 phút sau, cả hai rời đi.
Ít phút sau, chủ nhà kiểm tra thì phát hiện một trẻ sơ sinh đã tử vong, bị giấu phía sau bồn cầu trong nhà vệ sinh. Người dân sau đó nhờ một người làm nghề bốc mộ đưa thi thể cháu bé đi chôn cất và phát hiện trong miệng nạn nhân có nhét giấy vệ sinh.
Ngay sau đó, Công an xã Pơng Drang phối hợp các phòng nghiệp vụ Công an tỉnh Đắk Lắk tiến hành khám nghiệm tử thi, đồng thời truy xét đôi nam nữ liên quan vụ việc.
Qua xác minh ban đầu, nạn nhân là bé gái, nặng khoảng 3,6 kg.
Đến trưa 6.5, lực lượng chức năng đã tìm được đôi nam nữ trên khi đang ở tại phường Phú Hội (Gia Lai).
Tại cơ quan công an, người phụ nữ khai tên A., mới 15 tuổi 7 tháng. Vào tháng 8.2025, A. có quan hệ tình dục với một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch, quen biết trên ứng dụng hẹn hò rồi có thai.
Cuối tháng 4.2026, A. đến chòi rẫy của anh V. (37 tuổi, ở xã Pơng Drang) chơi. Khoảng 4 giờ ngày 4.5, A. đau bụng nên nhờ anh V. chở đi khám. Trên đường đi, do đau bụng dữ dội, A. xin vào nhà người dân ven đường để đi vệ sinh rồi sinh con tại đây.
Theo lời khai, sau khi sinh con, do lo sợ tiếng khóc của cháu bé khiến mọi người phát hiện, A. đã nhét giấy vệ sinh vào miệng trẻ sơ sinh rồi giấu phía sau bồn cầu trước khi cùng anh V. quay lại chòi rẫy.
Quá trình làm việc với công an, anh V. khai nhận không biết A. mang thai. Đồng thời, anh V. không biết việc A. sinh con, bỏ lại con trong nhà vệ sinh.
Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh, làm rõ vụ thiếu nữ sát hại con ruột nói trên để xử lý theo quy định của pháp luật.
Dòng sông uốn lượn qua núi rừng, làng mạc, mang theo phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ven bờ. Không chỉ là nguồn nước, sông Trà Khúc từ lâu còn được ví như "bầu sữa" nuôi sống bao thế hệ cư dân xứ Quảng. cá bống sông trà
Những sản vật đặc trưng như cá bống, don… đã trở thành dấu ấn riêng của vùng đất này. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn đó những con người lặng lẽ mưu sinh bằng nghề cũ - đặt ống tre bắt cá bống, một nghề thủ công đã tồn tại hàng trăm năm trên dòng sông Trà.
Khi trời còn tờ mờ sáng, ánh nắng đầu ngày vừa kịp nhuộm vàng mặt sông, những chiếc ghe nhỏ bắt đầu rẽ nước. Không tiếng động ồn ào, chỉ có nhịp chèo khua nhẹ và làn nước loang ra trong buổi sớm tĩnh lặng.
Trên những chiếc ghe ấy, người dân mang theo hàng chục ống tre thả xuống những đoạn sông quen thuộc - nơi họ đã "thuộc lòng" từng con nước, từng luồng cá. Nghề này không cần máy móc hiện đại, chỉ cần sự kiên trì và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng.
Ông Nguyễn Phan Văn Định (65 tuổi, ở tổ dân phố Liên Hiệp 2, P.Trương Quang Trọng, Quảng Ngãi) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề. Hơn nửa thế kỷ lênh đênh trên sông Trà, cuộc đời ông gắn liền với những ống tre và con nước lên xuống mỗi ngày.
"Mỗi ngày tôi dậy từ 4 giờ sáng, chèo ghe ra sông đặt bẫy rồi quay lại gỡ những ống đã đặt trước đó để thu cá. Nghề này không nặng nhọc, nhưng phải hiểu con nước, biết chỗ cá ở thì mới có ăn", ông Định nói.
Trên sông Trà, cá bống sinh sống khá đa dạng với các loại như bống cát, bống dừa, bống mú… Trong đó, cá bống cát được xem là ngon nhất, thịt chắc, thơm, được thị trường ưa chuộng với giá khoảng 300.000 đồng/kg. Các loại khác dao động từ 150.000 - 200.000 đồng/kg. Chính giá trị ấy khiến cá bống trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ dân ven sông, dù sản lượng ngày nay không còn dồi dào như trước.
Để có được những mẻ cá bống, người làm nghề phải chuẩn bị những chiếc bẫy rất đặc biệt. Những ống tre tưởng chừng đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều kinh nghiệm dân gian.
Theo ông Định, tre dùng làm bẫy thường là tre đã qua sử dụng, được xin hoặc đổi từ người dân. Tre mới có mùi nồng, cá sẽ không vào, vì vậy phải chọn loại đã "già", thậm chí đã từng dùng qua.
Những thân tre được cưa thành từng đoạn dài khoảng 60 - 70 cm, hai đầu thông nhau. Ở giữa thân, người thợ đục một lỗ để đóng cọc dài khoảng 50 cm nhằm cố định khi cắm xuống cát, tránh bị nước cuốn trôi. "Ống tre mới thả xuống thì cá chưa vào đâu. Phải chờ 2 - 3 ngày cho ống có rêu bám, mất mùi tre thì cá mới tìm đến trú ngụ", ông Định giải thích.
Hiện ông sở hữu khoảng 300 ống tre, được đặt luân phiên trên các bãi cát ven sông. Mỗi vị trí đều được đánh dấu bằng một cây tiêu nhỏ, vừa để nhận biết, vừa tránh nhầm lẫn với bẫy của người khác.
Bẫy thường được đặt ở những đoạn nước nông, độ sâu không quá 1,5 m - nơi cá bống thích trú ẩn. Đặc biệt, việc đặt bẫy phải "canh" theo con nước. Khi nước lớn hoặc chảy xiết, người dân không thể thả bẫy, phải chờ nước rút mới tiếp tục công việc.
Nghề này cũng mang tính thời vụ rõ rệt. Một năm chỉ có khoảng 5 tháng, từ tháng 4 đến hết tháng 8 là thời điểm thuận lợi để đặt bẫy. Những tháng còn lại, khi cá còn nhỏ hoặc vào mùa mưa lũ, người dân phải chuyển sang làm nông để duy trì cuộc sống.
Theo ông Định, vào mùa sinh sản, cá bống thường sống theo cặp, thậm chí nhiều con cùng trú trong một ống tre. Có những hôm mở bẫy, ông bắt gặp 3 - 4 con cá mập ú nằm chung, "nhìn mà thích mắt".
Trung bình mỗi ngày vào mùa, ông Định thu được khoảng 3 - 4 kg cá. Cá vừa bắt lên thường được thương lái đến tận nơi thu mua, hoặc người dân trong vùng tìm đến đặt mua từ sớm. "cá bống sông Trà là đặc sản rồi, nên không lo đầu ra. Có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu", ông Định nói.
Tuy nhiên, niềm vui từ "lộc sông" không còn trọn vẹn như trước. Ông Định trầm ngâm khi nhắc đến sự suy giảm của nguồn cá. "Hồi trước cá nhiều vô kể, đặt bẫy là có vài ký mỗi ngày. Giờ cá ít dần do môi trường ô nhiễm, rồi có người dùng kích điện đánh bắt nên nguồn cá ngày càng cạn", ông chia sẻ, giọng đầy tiếc nuối.
Không chỉ ông Định, nhiều người dân ven sông cũng cảm nhận rõ sự thay đổi. Sản lượng cá giảm, nhưng giá tăng, phần nào bù đắp thu nhập. Dẫu vậy, nỗi lo về sự mai một của nguồn lợi tự nhiên vẫn luôn thường trực.
Với ông Định, nghề đặt ống tre không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gắn bó suốt đời. Nhờ nghề này, ông nuôi 3 người con ăn học đến nơi đến chốn, nay đều đã trưởng thành, có công việc ổn định. "Giờ tuổi cao rồi, con cái cũng yên bề gia thất, tôi đi bẫy cá chủ yếu để giữ nghề, cho đỡ nhớ sông nước, với lại rèn luyện sức khỏe", ông cười hiền.
Ông nhớ lại thời trước, dọc hai bên sông Trà, người làm nghề chài lưới đông đúc. Mỗi sáng, hàng chục chiếc ghe xuôi ngược, người thả lưới, người đặt rập, người cắm ống tre… gặp nhau giữa dòng sông, rộn ràng tiếng cười nói. "Giờ thì ít hơn nhiều rồi. Người trẻ không còn mặn mà với nghề nữa, họ đi làm công ty, buôn bán. Nghề này chắc rồi cũng mai một dần", ông Định trầm ngâm.
Không chỉ là nguồn sinh kế, cá bống sông Trà còn là một phần ký ức của nhiều người con Quảng Ngãi xa quê. Chị Lê Thùy Trang (30 tuổi, quê Quảng Ngãi, hiện sinh sống và làm việc tại TP.HCM) cho biết, mỗi lần về quê, chị đều mua cá bống sông Trà làm quà cho bạn bè, người thân. "Cá bống sông Trà là ký ức tuổi thơ của tôi. Ngày nhỏ, ba mẹ hay nấu cá bống kho nghệ hoặc cá bống rim, ăn với cơm nóng rất ngon. Cá ở đây thịt chắc, thơm, vị rất riêng, không giống nơi khác", chị Trang chia sẻ.
Hiện nay, trên các quầy bán đặc sản Quảng Ngãi, cá bống sông Trà luôn là mặt hàng không thể thiếu. Từ những món dân dã trong bữa cơm gia đình đến quà biếu cho người thân, cá bống đã trở thành "hồn quê" của vùng đất này. (còn tiếp)
Ngày 8.7, trao đổi với phóng viên Thanh Niên, ông Nguyễn Hồng Quân, quyền Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, cho biết qua nhiều đợt tuần tra và khảo sát trong các năm 2023 và 2026, lực lượng chức năng đã phát hiện 4 cây kim giao núi khổng lồ tại tiểu khu 37, thuộc xã Sơn Lang (Gia Lai).
Điều khiến các nhà khoa học bất ngờ là kích thước đồ sộ của những cây này. Mỗi cây có đường kính thân trung bình khoảng 1,7 m, cao trên 50 m và vươn vượt hẳn tầng tán của rừng nguyên sinh. Theo đánh giá chuyên môn, đây là những cây kim giao núi lớn nhất từng được ghi nhận tại Việt Nam.
Dưới tán các cây cổ thụ, đoàn khảo sát còn ghi nhận nhiều cây non đang tái sinh tự nhiên, cho thấy loài vẫn duy trì khả năng phục hồi trong điều kiện sinh thái phù hợp.
Ngay sau khi phát hiện, đơn vị đã chụp ảnh, xác định tọa độ, đo đạc các chỉ số sinh trưởng và hoàn thiện hồ sơ khoa học để đề xuất công nhận quần thể này là cây di sản Việt Nam, phục vụ công tác bảo tồn và nghiên cứu.
Theo ông Quân, câu chuyện phát hiện quần thể cây quý bắt đầu từ một chuyến điều tra động vật hoang dã năm 2023. Trong lúc nghỉ trưa giữa rừng, anh Nguyễn Văn Tây, điều phối dự án của Hội Động vật học Frankfurt tại Việt Nam, cùng lực lượng bảo vệ rừng phát hiện nhiều quả màu đen rụng dưới đất.
Từ kinh nghiệm nhận diện thực vật quý hiếm, đoàn khảo sát nhanh chóng xác định đây là quả của loài kim giao núi (tên khoa học Nageia wallichiana), một loài cây lá kim được Sách đỏ Việt Nam xếp vào nhóm sắp nguy cấp.
Điều bất ngờ hơn cả là cây mẹ có kích thước vượt xa những ghi nhận trước đây. Theo các nhà khoa học, cây kim giao núi tái sinh trong tự nhiên không phải hiếm, nhưng những cây mẹ có kích thước lớn như ở Kon Chư Răng rất hiếm gặp. Điều này cũng cho thấy khả năng khu vực vẫn còn những cây cổ thụ khác chưa được phát hiện.
Đến tháng 4 năm nay, trong chuyến khảo sát tiếp theo, ông Nguyễn Văn Tứ, Phó giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, cùng lực lượng bảo vệ rừng và các thành viên Hội Động vật học Frankfurt tiếp tục phát hiện thêm 3 cây mẹ cỡ lớn, nâng tổng số cây cổ thụ được ghi nhận lên 4.
Theo ông Tứ, quần thể cây quý nằm sâu trong vùng lõi rừng nguyên sinh, nơi địa hình hiểm trở và gần như tách biệt với hoạt động của con người. Để tiếp cận vị trí này, đoàn khảo sát phải băng rừng, lội suối gần một ngày.
"Việc phát hiện quần thể cây mẹ có kích thước lớn tại Kon Chư Răng là tư liệu khoa học đặc biệt quan trọng, góp phần bổ sung dữ liệu về phân bố, cấu trúc quần thể và nguồn gen của loài trong hệ sinh thái", ông Tứ nhấn mạnh.
Kim giao núi là một trong 15 loài cây lá kim đã được ghi nhận ở Tây nguyên. Dù phân bố tại nhiều địa phương trên cả nước, loài cây này đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn gen. Tại nhiều nơi, kim giao núi chỉ còn xuất hiện dưới dạng cây tái sinh hoặc cây có đường kính nhỏ, trong khi những cây mẹ trưởng thành ngày càng hiếm.
Theo Sách đỏ Việt Nam, kim giao núi hiện được xếp ở mức sắp nguy cấp. Vì vậy, quần thể cây cổ thụ vừa được phát hiện tại Kon Chư Răng có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác bảo tồn.
Theo các nhà khoa học, đây được xem như một "ngân hàng gen sống", tạo điều kiện nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, khả năng tái sinh cũng như xây dựng các giải pháp bảo tồn lâu dài đối với loài cây quý hiếm này.
Hiện Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng đang hoàn thiện hồ sơ khoa học, gồm dữ liệu tọa độ, hình ảnh và các chỉ số sinh trưởng chi tiết để đề xuất công nhận quần thể kim giao núi là cây di sản Việt Nam. Nếu được công nhận, đây sẽ là cơ sở quan trọng nhằm tăng cường công tác bảo vệ, đồng thời mở rộng cơ hội nghiên cứu chuyên sâu về loài thực vật quý hiếm này.
Phát hiện mới tại Kon Chư Răng một lần nữa khẳng định giá trị đa dạng sinh học đặc biệt của những cánh rừng nguyên sinh Gia Lai và Tây nguyên, nơi vẫn còn lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm cần được bảo tồn cho các thế hệ sau.