Asian Scientist là tạp chí khoa học công nghệ tiếng Anh, hiện do Wildtype Media Group – công ty truyền thông STEM có trụ sở tại Singapore xuất bản.
Danh sách Asian Scientist 100 được công bố thường niên từ năm 2016 nhằm tôn vinh những nhà khoa học có thành tựu nghiên cứu nổi bật tại châu Á. Các nhà khoa học được lựa chọn phải đạt được giải thưởng quốc gia hoặc quốc tế quan trọng trong năm trước đó, có phát hiện khoa học tiêu biểu hoặc thể hiện vai trò ảnh hưởng lớn trong giới học thuật và công nghiệp.
Asian Scientist 100 năm nay quy tụ nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới, trong đó có hai chủ nhân giải Nobel năm 2025: GS Susumu Kitagawa (Đại học Kyoto, Nhật Bản) – giải Nobel Hóa học 2025 cho công trình về vật liệu khung kim loại – hữu cơ (MOFs); và GS Shimon Sakaguchi (Đại học Osaka, Nhật Bản) – giải Nobel Y học 2025 cho phát hiện tế bào T điều hòa.
Nhiều nhà khoa học khác trong các lĩnh vực lý thuyết công nghệ thông tin, hàng không vũ trụ và hàng loạt tên tuổi từng đạt nhiều giải thưởng lớn trong khu vực cũng được vinh danh trong năm 2026.
Năm 2026, Việt Nam có 5 nhà khoa học được vinh danh trong danh sách Asian Scientist 100, cho thấy vị thế ngày càng rõ nét của khoa học Việt Nam trong cộng đồng học thuật khu vực và quốc tế.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – lĩnh vực khoa học vật liệu
Ở lĩnh vực khoa học vật liệu có sự góp mặt của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ông là chủ nhân Giải thưởng Bảo Sơn năm 2024 trong lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ. Bên cạnh đó, ông đã công bố hơn 400 bài báo và công trình khoa học, trong đó có khoảng 250 công bố trên các tạp chí quốc tế ISI uy tín.
Trong nhiều năm liên tiếp, GS Nguyễn Đình Đức nằm trong nhóm 10.000 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới, được xếp hạng top 51 thế giới trong lĩnh vực Engineering & Technology năm 2025.
GS.TS Trần Xuân Bách – lĩnh vực y tế cộng đồng
GS.TS Trần Xuân Bách, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội được vinh danh ở lĩnh vực y tế cộng đồng. Trước đó, ông từng nhiều năm liền nằm trong top 10.000 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới, được ghi nhận với Global Health Innovation Leadership Award 2025.
Đáng chú ý, ông Trần Xuân Bách nhận bằng tiến sĩ ngành Y tế công cộng tại Đại học Alberta năm 2012. Chỉ bốn năm sau, ở tuổi 32, ông được công nhận chức danh phó giáo sư ngành Y học, trở thành phó giáo sư trẻ nhất Việt Nam thời điểm đó.
Đến năm 2023, ở tuổi 39, ông tiếp tục trở thành giáo sư trẻ nhất Việt Nam và được Hiệp hội ISPOR trao giải thưởng Nghiên cứu xuất sắc cho những đóng góp trong lĩnh vực đánh giá kinh tế y tế.
PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung – lĩnh vực công nghệ nano
Ở lĩnh vực công nghệ nano, PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung được vinh danh nhờ các nghiên cứu về công nghệ in phun nano ứng dụng trong điện tử, y sinh và môi trường.
PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung đã công bố 60 bài báo quốc tế, sở hữu 3 bằng sáng chế, 2 giải pháp hữu ích và 5 bằng kiểu dáng công nghiệp. Bà cũng chủ trì phát triển 4 sản phẩm khoa học – công nghệ được ứng dụng thực tiễn, đồng thời tham gia đào tạo nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học.
Năm 2024, bà được trao Giải thưởng Kovalevskaya dành cho các nhà khoa học nữ có đóng góp nổi bật trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học. PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung hiện là Phó viện trưởng Viện Công nghệ Vật liệu tiên tiến thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM.
PGS.TS Nguyễn Minh Tân – lĩnh vực Công nghệ hóa học
PGS.TS Nguyễn Minh Tân hiện đang công tác tại Đại học Bách khoa Hà Nội góp tên trong danh sách vinh danh nhờ những đóng góp trong lĩnh vực công nghệ hóa học, được ghi nhận với giải thưởng Kovalevskaya 2024 về hợp chất tự nhiên và hoạt chất sinh học. Bà đồng thời sở hữu 7 bằng sáng chế tại Việt Nam và một công bố sáng chế quốc tế PCT.
Đồng thời, PGS.TS. Nguyễn Minh Tân có nhiều nghiên cứu ứng dụng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm và giải bài toán tìm lối đi bền vững cho nông sản Việt Nam.
TS Trương Hải Bằng (sinh năm 1990) hiện là nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Văn Lang. Anh nhận Giải thưởng Quả cầu vàng 2024, có 1 bằng sáng chế ở Hàn Quốc và 1 bằng sáng chế ở Việt Nam về lĩnh vực môi trường.
Anh là một trong số ít nhà khoa học công bố những nghiên cứu chuyên sâu về bản chất và hiệu quả ứng dụng xúc tác quang hoạt hóa trong vùng ánh sáng nhìn thấy nhằm xử lý hợp chất hữu cơ tổng hợp. TS Trương Hải Bằng đã công bố nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí trong nước và quốc tế trong lĩnh vực công nghệ môi trường.
Nếu được xác nhận, đây sẽ là một phương pháp hoàn toàn mới để khám phá bí ẩn lớn nhất của vũ trụ.
Theo nhóm nghiên cứu từ Mỹ, Anh và châu Âu, nếu hai hố đen va chạm trong một đám mây vật chất tối, các sóng hấp dẫn lan truyền khắp vũ trụ sẽ mang theo những đặc điểm riêng biệt của môi trường đó. Khi áp dụng mô hình này vào hàng chục lần phát hiện sóng hấp dẫn, họ đã tìm thấy một sự kiện tiềm năng phù hợp với giả thuyết.
"Sử dụng hố đen để tìm kiếm vật chất tối sẽ thật tuyệt vời", Nhà vật lý học Rodrigo Vicente từ Đại học Amsterdam, Hà Lan, nhận định. "Chúng ta sẽ có thể khảo sát vật chất tối ở những quy mô nhỏ hơn bao giờ hết".
Lý thuyết tương đối rộng của Einstein, công bố năm 1916, đã mô tả trọng lực là sự cong của không-thời gian và dự đoán sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Tuy nhiên, phải đến năm 2015, những gợn sóng này mới được phát hiện trực tiếp, mở ra một kỷ nguyên mới trong thiên văn học.
Mỗi sự kiện sóng hấp dẫn mang theo thông tin quý giá về các vật thể tham gia, từ sự hợp nhất của các hố đen, sao neutron, cho đến những vật thể kỳ lạ hơn như lỗ sâu. Giờ đây, các nhà khoa học đặt câu hỏi liệu những tín hiệu này có thể giúp giải mã một bí ẩn khác: vật chất tối - loại vật chất vô hình chỉ tương tác với vật chất thường thông qua lực hấp dẫn.
Các nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình vật chất tối từ các hạt siêu nhẹ, có khả năng tạo thành trường và tương tác với môi trường cực đoan như gần hố đen.
Họ giả định rằng năng lượng quay của hố đen có thể ảnh hưởng đến các đám mây vật chất tối, và ngược lại, những đám mây này sẽ thay đổi động lực học của các hố đen khi chúng va chạm, để lại dấu vết trong sóng hấp dẫn.
Khi áp dụng mô hình này vào 28 phát hiện của mạng lưới quan sát sóng hấp dẫn LVK (LIGO, Virgo, KAGRA), 27 tín hiệu cho thấy các mẫu xuất phát từ chân không.
Tuy nhiên, sự kiện đặc biệt có tên GW190728, được phát hiện vào tháng 7/2019, lại cho thấy một mẫu phù hợp với việc một cặp hố đen hợp nhất trong đám mây vật chất tối dày đặc.
Mặc dù kết quả này rất thú vị, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh cần thận trọng. "Độ ý nghĩa thống kê của điều này không đủ cao để khẳng định việc phát hiện ra vật chất tối, và cần thực hiện các kiểm tra thêm bởi các nhóm độc lập", Nhà vật lý học Josu Aurrekoetxea từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) cho biết.
Ông cũng lưu ý rằng: "Nếu không có các mô hình sóng như của chúng tôi, chúng ta có thể đang phát hiện các vụ hợp nhất hố đen trong môi trường vật chất tối, nhưng lại phân loại chúng theo hệ thống là đã xảy ra trong chân không".
Vật chất tối vẫn là một bí ẩn lớn, với nhiều giả thuyết về bản chất của nó. Dù vậy, nghiên cứu này mở ra một hướng đi đầy hứa hẹn, cho phép các nhà khoa học sử dụng sóng hấp dẫn như một công cụ mới để vén màn bí mật về thành phần vô hình nhưng chiếm phần lớn vũ trụ của chúng ta.
Trên thế giới, graphene, CNTs và hBN được xem là những vật liệu chiến lược của thế kỷ XXI. Chúng xuất hiện trong nhiều hướng nghiên cứu như cảm biến thông minh, pin lưu trữ năng lượng, thiết bị điện tử linh hoạt hay công nghệ xử lý môi trường.
Trong khi đó tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu mới chỉ dừng ở từng vật liệu riêng lẻ, chưa hình thành chuỗi công nghệ hoàn chỉnh từ chế tạo, biến tính bề mặt đến tích hợp vào sản phẩm.
Nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Văn Chúc - Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam lựa chọn hướng tiếp cận xuyên suốt: làm chủ toàn bộ quy trình từ tạo vật liệu nền đến thử nghiệm ứng dụng.
Một trong những kết quả nổi bật là phát triển thành công quy trình bóc tách các tấm nano graphene và hBN từ vật liệu khối bằng công nghệ rung siêu âm công suất lớn kết hợp nghiền bi hành tinh - kỹ thuật nghiền cơ học năng lượng cao giúp tạo ra các lớp vật liệu siêu mỏng với chất lượng ổn định.
Sau quá trình bóc tách, bề mặt vật liệu tiếp tục được xử lý và chức năng hóa để dễ dàng kết hợp với nhiều vật liệu khác, mở rộng khả năng ứng dụng trong cảm biến, lưu trữ năng lượng, điện tử và xử lý môi trường.
Song song đó, nhóm cũng làm chủ công nghệ gắn các hạt nano vàng (Au) và bạc (Ag) lên bề mặt CNTs, graphene và hBN.
Theo các nhà nghiên cứu, đây là bước then chốt bởi khi kết hợp giữa vật liệu carbon nano với nano kim loại sẽ tạo ra các vật liệu tổ hợp đa chức năng có khả năng truyền điện tích tốt hơn, tăng hoạt tính xúc tác và cải thiện đáng kể độ nhạy của các hệ cảm biến.
Chia sẻ về ý nghĩa của nhiệm vụ, PGS.TS Nguyễn Văn Chúc cho biết, điều quan trọng nhất không phải chỉ tạo ra vật liệu mới mà là làm chủ công nghệ chế tạo và xử lý vật liệu.
"Khi có nền tảng đó, chúng ta có thể phát triển nhiều ứng dụng khác nhau phục vụ môi trường, năng lượng và điện tử. Thành công của nhiệm vụ cho thấy Việt Nam hoàn toàn có khả năng tham gia những hướng nghiên cứu vật liệu tiên tiến của thế giới bằng chính năng lực của các nhà khoa học trong nước", ông nói.
Từ phòng thí nghiệm đến các bài toán thực tế
Không dừng lại ở việc tạo ra vật liệu mới, nhóm nghiên cứu còn đưa chúng vào nhiều bài toán ứng dụng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả trong điều kiện thực tế.
Ở lĩnh vực môi trường, nhóm đã phát triển điện cực cảm biến dựa trên vật liệu tổ hợp graphene, CNTs và nano vàng có khả năng phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nồng độ chỉ cỡ phần tỷ (ppb).
Độ nhạy này có ý nghĩa quan trọng trong giám sát chất lượng nông sản, kiểm soát an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Ở một hướng nghiên cứu khác, vật liệu tổ hợp giữa graphene, hBN và TiO₂ được chứng minh có hiệu quả cao trong quá trình quang xúc tác phân hủy các chất màu độc hại như Rhodamine B và Methylene Blue - những hợp chất thường xuất hiện trong nước thải dệt nhuộm, in ấn và nhiều ngành công nghiệp.
Bên cạnh xử lý môi trường, nhóm nghiên cứu cũng hướng đến bài toán đang được nhiều doanh nghiệp công nghệ quan tâm là quản lý nhiệt cho các thiết bị điện tử.
CNTs, graphene và hBN được ứng dụng để phát triển kem tản nhiệt và chất lỏng tản nhiệt dành cho vi xử lý máy tính cũng như chip LED công suất lớn.
Kết quả thử nghiệm cho thấy các vật liệu mới giúp cải thiện đáng kể khả năng truyền nhiệt so với vật liệu truyền thống. Điều này không chỉ giúp thiết bị vận hành ổn định hơn mà còn kéo dài tuổi thọ trong bối cảnh trung tâm dữ liệu, máy tính hiệu năng cao và hệ thống chiếu sáng công suất lớn ngày càng phát triển.
Ngoài ra, nhóm còn ứng dụng CNTs, graphene và hBN để gia cường các lớp phủ composite nền niken. Kết quả ban đầu cho thấy vật liệu có thể cải thiện cơ tính, tăng khả năng chống mài mòn và nâng cao độ bền của các chi tiết cơ khí làm việc trong điều kiện khắc nghiệt.
Ở lĩnh vực năng lượng, nhóm nghiên cứu tiếp tục thử nghiệm ứng dụng các vật liệu nano trong pin lithium - loại pin đang được sử dụng rộng rãi trên xe điện và thiết bị điện tử.
Các kết quả bước đầu cho thấy khả năng nâng cao hiệu suất lưu trữ năng lượng, tăng độ ổn định của điện cực và phát triển các màng dẫn điện trong suốt phục vụ linh kiện quang điện tử thế hệ mới.
Các kết quả của nhóm đã được công bố trên nhiều tạp chí khoa học quốc tế thuộc nhóm Q1, Q2. Đồng thời, một sáng chế cũng đã được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận đơn hợp lệ.
Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá nhóm đã làm chủ nhiều công nghệ chế tạo, biến tính và tích hợp vật liệu carbon nano tiên tiến; đồng thời phát triển thành công nhiều hướng ứng dụng trong các lĩnh vực môi trường, năng lượng và điện tử.
Trong giai đoạn tiếp theo, nhóm sẽ tiếp tục phát triển các vật liệu nano đa chức năng phục vụ cảm biến thông minh, năng lượng sạch, điện tử và công nghệ môi trường, đồng thời tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để từng bước đưa các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Tuy nhiên, đây không phải là loài rắn thông thường, mà là robot được phát triển bởi Cục Cung cấp Điện quận Quan Đô (thành phố Côn Minh).
Robot được thiết kế dài với các khớp nối hoạt động linh hoạt, có thể quấn chặt quanh đường dây điện và mô phỏng cách trườn của rắn để di chuyển.
Robot được tích hợp camera và các cảm biến gắn trên thân để kiểm tra và phát hiện các sự cố, như dây điện bị đứt, linh kiện bị quá tải, hư hỏng hoặc nhiệt độ dây điện bị tăng cao bất thường…
“Thân robot có nhiều khớp nối, cho phép hoạt động linh hoạt và mô phỏng chuyển động trườn của rắn, giúp di chuyển quanh đường dây điện và vượt qua các chướng ngại vật, chẳng hạn như sứ cách điện trên đường dây, để tiếp cận những khu vực được xem là điểm mù trong quá trình kiểm tra đường dây điện”, Từ Hải Xuân, nhân viên Cục Cung cấp Điện Côn Minh, cho biết.
Ông Từ cho biết phần đuôi robot còn được tích hợp thiết bị thu năng lượng không tiếp xúc, cho phép sạc pin trực tiếp từ đường dây điện để duy trì hoạt động lâu dài.
Những robot hình rắn này sẽ làm thay các nhân viên điện lực trong quá trình kiểm tra đường dây điện theo cách thủ công, vốn tốn nhiều công sức và tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến tai nạn lao động.
Theo đại diện của Cục Cung cấp Điện Côn Minh, robot hình rắn đã giúp kiểm tra hơn 130 km đường dây điện, cho thấy hiệu quả công việc cao gấp ba lần so với quá trình kiểm tra thủ công.
Trước đây, cơ quan điện lực thường sử dụng máy bay không người lái để kiểm tra tình trạng dây điện và các linh kiện trên cột điện cao. Tuy nhiên, giải pháp này gặp hạn chế tại những khu vực cấm sử dụng máy bay không người lái, chẳng hạn như khu vực gần sân bay hoặc quân sự… do vậy, robot rắn sẽ được triển khai mà không lo ngại bất kỳ hạn chế nào.
Những con rắn robot hình rắn đang được triển khai tại thành phố Côn Minh và một số tỉnh thành ở phía tây nam Trung Quốc.
Sau khi thử nghiệm trong một phạm vi nhỏ, rắn robot dự kiến sẽ được triển khai tại những khu vực rộng lớn hơn, đồng thời chúng sẽ được sử dụng để kiểm tra ở những khu vực điện áp cao và nguy hiểm, nhằm thay thế con người.