Nội dung của nghiên cứu được nêu trong Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) vừa công bố.
Ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký IAV cho biết, đây là lần đầu tiên sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) Việt Nam chung tay thực hiện một nghiên cứu độc lập về nhận thức và hành vi của người dân trong lĩnh vực này.
“Việc công bố nghiên cứu không chỉ cung cấp bức tranh toàn cảnh về mức độ nhận biết và tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ trong đời sống xã hội, mà còn là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và toàn ngành bảo hiểm xây dựng các giải pháp phù hợp để phục vụ người dân tốt hơn trong thời gian tới”, ông Nguyễn Phong Cầm chia sẻ.
Kết quả nghiên cứu của IFM Research cho thấy, có đến 89% người được khảo sát đánh giá bảo hiểm nhân thọ là thiết yếu trong cuộc sống. Tỷ lệ này đạt 91% ở nhóm đang sở hữu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, 86% ở nhóm chưa sở hữu và 91% ở nhóm từng sở hữu. Đây là một tín hiệu tươi sáng, khẳng định bảo hiểm nhân thọ đã và đang được nhận diện rộng rãi như một giải pháp có vai trò quan trọng trong đời sống tài chính của người dân, không chỉ trong nhóm đã tham gia mà cả ở nhóm chưa sở hữu sản phẩm.
Đồng thời, nghiên cứu cũng ghi nhận mức độ hiểu biết tương đối tích cực của mọi người về loại hình sản phẩm này. Theo đó, 58% người tham gia tự đánh giá mình có mức độ hiểu biết cao về BHNT. Tỷ lệ này khá đồng đều giữa các nhóm tuổi: 57% ở nhóm 22-29 tuổi, 59% ở nhóm 30 – 40 tuổi và 58% ở nhóm trên 40 tuổi.
Những lý do chính khiến BHNT được xem là cần thiết đều gắn với các nhu cầu rất căn bản của mỗi gia đình: 57% cho rằng BHNT giúp bảo vệ trước rủi ro bệnh tật, tai nạn, tử vong; 45% nhấn mạnh vai trò ổn định tài chính cho gia đình.
Thực tế cho thấy, việc chủ động đưa BHNT vào kế hoạch tài chính vẫn còn một khoảng cách nhất định. Thay vì sử dụng bảo hiểm như một công cụ quản lý rủi ro chủ động, phần lớn người dân vẫn duy trì tư duy tài chính mang tính “phòng vệ”.
Khi có biến cố, giải pháp đầu tiên họ nghĩ tới là sử dụng tiền tiết kiệm (67%), cắt giảm chi tiêu (53%) hoặc tìm thêm nguồn thu nhập (39%). Điều này phản ánh thực tế rằng bảo hiểm nhân thọ hiện vẫn được nhìn nhận như một lớp bảo vệ bổ sung, chưa phải là giải pháp cốt lõi trong chiến lược tài chính cá nhân.
Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành IFM Research nhận định: Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để các thương hiệu định hình lại thị trường thông qua đơn giản hóa các điều khoản trong Hợp đồng bảo hiểm, minh bạch thông tin, nâng cao chất lượng tư vấn và giáo dục tài chính bài bản.
Theo khảo sát, những rào cản chính kéo dài quyết định mua BHNT của người dân gồm: thời gian đóng phí dài, ưu tiên các kênh tiết kiệm/đầu tư khác, khó khăn tài chính hoặc chưa thấy nhu cầu cấp thiết. Riêng nhóm 22 – 29 tuổi, thiếu tư vấn phù hợp là trở ngại lớn nhất.
Đáng chú ý, áp lực tài chính được chỉ ra là nguyên nhân chính dẫn đến việc khó duy trì hợp đồng dài hạn. Mức phí đóng trung bình hiện nay đạt khoảng 1,8 triệu đồng/tháng (22 triệu đồng/năm), được xem là rào cản đáng kể khi thu nhập biến động hoặc khi người dân chưa thấu hiểu rõ giá trị thực nhận so với kỳ vọng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ thành thục trong lập kế hoạch tài chính còn thấp. Có đến 83% người tham gia khảo sát có kế hoạch tài chính, trong đó 46% có cả mục tiêu ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, hầu hết chỉ mới nghĩ đến việc lập kế hoạch tài chính mới đây, sau dịch Covid-19, và ít được rà soát.
“Điều này cho thấy người dân đã bắt đầu hình thành thói quen lập kế hoạch nhưng mức độ thành thục chưa cao, từ đó đặt ra các yêu cầu về sự cần thiết phải truyền thông giáo dục người dùng về hoạch định tài chính dài hạn và vai trò của BHNT trong chiến lược dự phòng”, nghiên cứu của nhận định.
Theo nghiên cứu của IFM Research, để một thương hiệu bảo hiểm được xem là đáng tin cậy, người dân ưu tiên thông tin và điều khoản rõ ràng, năng lực tài chính ổn định, và tư vấn viên chuyên nghiệp, giải thích dễ hiểu.
Trong nhóm chưa sở hữu BHNT, 80% cho biết có dự định mua trong 12 tháng tới. Con số này cho thấy nhu cầu tiềm năng của thị trường vẫn còn lớn, nhưng giá trị quan trọng hơn nằm ở sự thay đổi trong cách người dân tiếp cận bảo hiểm. Họ không đứng ngoài bảo hiểm nhân thọ, mà đang tìm hiểu, so sánh và cân nhắc kỹ hơn trước khi đưa ra một quyết định dài hạn.
Ông Nguyễn Phong Cầm nhận định: “Điều này cho thấy thị trường đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế. Đây là dấu hiệu của một thị trường trưởng thành hơn. Khi khách hàng đặt câu hỏi rõ hơn, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thêm cơ hội để tư vấn sát hơn, thiết kế giải pháp phù hợp hơn và đồng hành dài hạn hơn”.
IFM Research nhận định, BHNT cần được tiếp tục nhấn mạnh như một công cụ bảo vệ tài chính chủ động, với quyền lợi minh bạch và hỗ trợ sau bán để tạo sự yên tâm khi quay lại sản phẩm.
Các số liệu thực tế về rủi ro là đáng báo động. Số liệu thống kê từ Bộ Y tế cho thấy, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 1,1 triệu trường hợp mắc tai nạn thương tích đến khám và điều trị tại cơ sở y tế và hơn 30 nghìn người tử vong do tai nạn thương tích. Đáng chú ý, tai nạn giao thông đường bộ, đuối nước và tai nạn lao động là những nguyên gây tử vong hàng đầu do tai nạn thương tích.
“Do đó, cần thúc đẩy chuyển hóa nỗi lo lắng thành hành động, rằng BHNT là giải pháp tài chính thiết thực để đảm bảo thu nhập gia đình và chi phí y tế khi biến cố bất ngờ xảy ra, giúp ổn định cuộc sống và hỗ trợ các mục tiêu tài chính dài hạn của mỗi cá nhân, gia đình”, ông Ralf Matthaes – Giám đốc Điều hành IFM Research nhấn mạnh.
“Khi được hiểu đúng, lựa chọn đúng và duy trì phù hợp, BHNT không chỉ là một hợp đồng tài chính. Đó là một cách mỗi người thể hiện trách nhiệm với bản thân, với gia đình và với tương lai. Đây cũng là giá trị bền vững mà ngành BHNT có thể đóng góp cho xã hội: giúp nhiều gia đình Việt Nam sống chủ động hơn, an tâm hơn và vững vàng hơn trước những biến động của cuộc sống”, ông Nguyễn Phong Cầm – Phó Tổng thư ký IAV khẳng định.
Ông Lê Minh Hải - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Hạ tầng Viễn thông (QCC) vừa đăng ký bán toàn bộ 434.500 cổ phiếu QCC đang nắm giữ. Giao dịch dự kiến được thực hiện theo phương thức khớp lệnh và/hoặc thỏa thuận trong khoảng thời gian tới.
Nếu hoàn tất, ông Hải sẽ không còn là cổ đông tại doanh nghiệp do chính mình giữ vai trò lãnh đạo cao nhất. Động thái này nhanh chóng thu hút sự chú ý của thị trường, không chỉ bởi quy mô "thoái sạch" mà còn bởi thời điểm thực hiện.
Đáng nói, thương vụ bán ra diễn ra chỉ sau khoảng nửa năm kể từ khi vị Chủ tịch gia tăng tỷ lệ sở hữu tại QCC. Trước đó, giao dịch mua vào của ông Hải từng được xem là tín hiệu củng cố niềm tin vào triển vọng doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đảo chiều sang bán toàn bộ cổ phần trong thời gian ngắn đang đặt ra nhiều dấu hỏi về chiến lược nắm giữ.
Trên thị trường chứng khoán, giao dịch của cổ đông nội bộ đặc biệt là lãnh đạo cấp cao thường được xem như một chỉ báo quan trọng. Việc mua vào có thể được hiểu là kỳ vọng tích cực, trong khi bán ra, nhất là thoái toàn bộ, dễ khiến nhà đầu tư thận trọng hơn về triển vọng ngắn hạn.
Dù vậy, không phải mọi giao dịch bán ra của lãnh đạo đều phản ánh góc nhìn tiêu cực đối với doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, đây đơn thuần là hoạt động cơ cấu danh mục tài sản, đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân hoặc phục vụ các kế hoạch đầu tư khác.
Với QCC, diễn biến này càng đáng chú ý trong bối cảnh cổ phiếu doanh nghiệp thời gian qua có sự biến động nhất định.
Thanh khoản và xu hướng giá là những yếu tố mà giới đầu tư sẽ tiếp tục theo dõi sát, đặc biệt khi giao dịch của người nội bộ có thể tạo ra tác động tâm lý đáng kể.
Ở góc độ doanh nghiệp, việc lãnh đạo đăng ký bán cổ phiếu không làm thay đổi ngay lập tức hoạt động sản xuất - kinh doanh. Tuy nhiên, về dài hạn, những thay đổi trong cơ cấu cổ đông, nhất là ở nhóm cổ đông lớn hoặc nội bộ, có thể ảnh hưởng đến chiến lược phát triển cũng như niềm tin của thị trường.
CTCP Chứng khoán VPS (HoSE: VCK) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 với kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh.
Trong quý II/2026, doanh thu hoạt động của VPS đạt 2.354 tỷ đồng, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ lãi từ các khoản cho vay và phải thu, đạt 1.031 tỷ đồng, tăng gần 95% và chiếm gần 44% tổng doanh thu hoạt động. Bên cạnh đó, lãi từ tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) cũng tăng mạnh lên hơn 480 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, doanh thu môi giới chứng khoán giảm 15,2% xuống còn 634 tỷ đồng, phản ánh hoạt động giao dịch trên thị trường chưa thực sự sôi động trong giai đoạn này.
Trong khi doanh thu tăng, chi phí hoạt động giảm nhẹ từ 669 tỷ đồng xuống còn 627 tỷ đồng. Nhờ đó, lợi nhuận sau thuế đạt 1.104 tỷ đồng, tăng hơn 57%.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu hoạt động của VPS đạt 4.873 tỷ đồng, tăng 52,7% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận trước thuế đạt 2.925 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt gần 2.340 tỷ đồng, cùng tăng hơn 62%, trong khi lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu (EPS) tăng từ 702 đồng lên 961 đồng.
Với kết quả này, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 42% kế hoạch doanh thu và gần 51% mục tiêu lợi nhuận trước thuế cả năm.
Hoạt động cho vay tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của VPS trong nửa đầu năm. Lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt gần 1.978 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ năm trước.
Đến ngày 30/6/2026, dư nợ cho vay của công ty đạt hơn 31.311 tỷ đồng, tăng 38,6% so với đầu năm và cao hơn khoảng 80% so với cùng kỳ năm trước. Khoản mục này hiện chiếm khoảng 65,4% tổng tài sản, cho thấy phần lớn nguồn lực của doanh nghiệp đang được phân bổ cho hoạt động cấp tín dụng.
Việc mở rộng cho vay cũng kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu tài sản. Tiền và các khoản tương đương tiền giảm từ 8.681 tỷ đồng đầu năm xuống còn khoảng 3.360 tỷ đồng vào cuối tháng 6, trong khi danh mục tài sản tài chính FVTPL và đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM) đều thu hẹp quy mô.
Đồng thời, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm gần 2.970 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, trái ngược mức dương hơn 3.300 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, chủ yếu do doanh nghiệp tăng mạnh giải ngân cho vay khách hàng.
Bên cạnh tăng trưởng lợi nhuận, quy mô tài sản và nguồn vốn của VPS cũng có nhiều thay đổi. Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản đạt 47.889 tỷ đồng, trong đó tài sản ngắn hạn chiếm hơn 97% tổng tài sản.
Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả giảm xuống còn 16.683 tỷ đồng từ mức 19.567 tỷ đồng đầu năm. Trong đó, dư nợ vay ngắn hạn còn khoảng 10.639 tỷ đồng, giảm hơn 2.285 tỷ đồng.
Trong khi đó, vốn chủ sở hữu tăng lên 31.206 tỷ đồng, cao hơn khoảng 2.371 tỷ đồng so với đầu năm nhờ đợt tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu trong quý I/2026 và lợi nhuận giữ lại tiếp tục gia tăng.
Danh mục đầu tư tự doanh của VPS tiếp tục tập trung chủ yếu vào các công cụ thu nhập cố định thay vì cổ phiếu.
Tại cuối tháng 6, tài sản tài chính FVTPL đạt khoảng 6.464 tỷ đồng, trong đó phần lớn là chứng chỉ tiền gửi và tiền gửi có kỳ hạn với tổng giá trị hơn 5.000 tỷ đồng.
Danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) gần 3.440 tỷ đồng cũng hoàn toàn là trái phiếu, trong khi giá trị đầu tư cổ phiếu chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ.
Tuyến đường liên cảng Cát Lái - Phú Hữu dài 6 km, rộng 60 m với quy mô lên tới 12 làn xe (vận tốc thiết kế 60 km/giờ) có điểm đầu giao với đường Nguyễn Thị Định và điểm cuối tại nút giao cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây - Vành đai 3 TP.HCM (nút giao HLD), đi qua địa bàn các phường Cát Lái và Long Trường.
Khi hoàn thành, dự án sẽ trực tiếp hút dòng xe tải nặng, giảm tải áp lực giao thông đang đè nặng lên các tuyến đường độc đạo hiện hữu như Nguyễn Thị Định, Nguyễn Duy Trinh.
Theo Quyết định vừa ban hành của UBND TP, phạm vi thi tuyển tập trung vào hạng mục cầu vượt tuyến chính, là tuyến đường trên cao kết nối từ cảng Phú Hữu đến nút giao HLD. Theo quy hoạch, đoạn từ cảng Phú Hữu đến cảng SP-ITC sẽ xây dựng cầu cạn quy mô 4 làn xe, kết nối với đường hiện hữu tại 3 vị trí. Đoạn từ cảng SP-ITC đến nút giao HLD được đầu tư cầu cạn 6 làn xe.
Tại nút giao cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, phương án tổ chức giao thông giữ nguyên dạng nút trumpet kép kết nối với Vành đai 3 TP.HCM, đồng thời bổ sung các nhánh kết nối tuyến đường liên cảng với hai tuyến cao tốc.
Trong đó, ưu tiên dòng xe từ đường liên cảng nhập vào cao tốc nhằm tăng khả năng giải tỏa hàng hóa từ cụm cảng. Các nhánh xe từ bên ngoài sẽ kết nối qua đường song hành Vành đai 3 và cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây nhằm hạn chế phương tiện dồn vào khu vực cảng.
Mục tiêu cuộc thi là lựa chọn phương án kiến trúc tối ưu, bảo đảm tính khả thi, tạo điểm nhấn đô thị tại cửa ngõ phía đông TP.HCM, làm cơ sở triển khai đầu tư xây dựng công trình giao thông quy mô lớn phục vụ phát triển logistics.
Tổng giá trị giải thưởng cuộc thi là 300 triệu đồng, gồm 1 giải nhất trị giá 150 triệu đồng, 1 giải nhì 100 triệu đồng và 1 giải ba 50 triệu đồng.
Theo kế hoạch, công tác giải phóng mặt bằng sẽ được triển khai từ quý 2 năm nay đến quý 1/2027. Dự án dự kiến sẽ chính thức khởi công vào quý 4/2026 và hoàn thành, đưa vào khai thác cuối năm 2028, kết nối đồng bộ với hệ thống hạ tầng liên vùng gồm Vành đai 3, cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây và cao tốc Bến Lức - Long Thành.