Tuyến đường liên cảng Cát Lái – Phú Hữu dài 6 km, rộng 60 m với quy mô lên tới 12 làn xe (vận tốc thiết kế 60 km/giờ) có điểm đầu giao với đường Nguyễn Thị Định và điểm cuối tại nút giao cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây – Vành đai 3 TP.HCM (nút giao HLD), đi qua địa bàn các phường Cát Lái và Long Trường.
Khi hoàn thành, dự án sẽ trực tiếp hút dòng xe tải nặng, giảm tải áp lực giao thông đang đè nặng lên các tuyến đường độc đạo hiện hữu như Nguyễn Thị Định, Nguyễn Duy Trinh.
Theo Quyết định vừa ban hành của UBND TP, phạm vi thi tuyển tập trung vào hạng mục cầu vượt tuyến chính, là tuyến đường trên cao kết nối từ cảng Phú Hữu đến nút giao HLD. Theo quy hoạch, đoạn từ cảng Phú Hữu đến cảng SP-ITC sẽ xây dựng cầu cạn quy mô 4 làn xe, kết nối với đường hiện hữu tại 3 vị trí. Đoạn từ cảng SP-ITC đến nút giao HLD được đầu tư cầu cạn 6 làn xe.
Tại nút giao cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, phương án tổ chức giao thông giữ nguyên dạng nút trumpet kép kết nối với Vành đai 3 TP.HCM, đồng thời bổ sung các nhánh kết nối tuyến đường liên cảng với hai tuyến cao tốc.
Trong đó, ưu tiên dòng xe từ đường liên cảng nhập vào cao tốc nhằm tăng khả năng giải tỏa hàng hóa từ cụm cảng. Các nhánh xe từ bên ngoài sẽ kết nối qua đường song hành Vành đai 3 và cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây nhằm hạn chế phương tiện dồn vào khu vực cảng.
Mục tiêu cuộc thi là lựa chọn phương án kiến trúc tối ưu, bảo đảm tính khả thi, tạo điểm nhấn đô thị tại cửa ngõ phía đông TP.HCM, làm cơ sở triển khai đầu tư xây dựng công trình giao thông quy mô lớn phục vụ phát triển logistics.
Tổng giá trị giải thưởng cuộc thi là 300 triệu đồng, gồm 1 giải nhất trị giá 150 triệu đồng, 1 giải nhì 100 triệu đồng và 1 giải ba 50 triệu đồng.
Theo kế hoạch, công tác giải phóng mặt bằng sẽ được triển khai từ quý 2 năm nay đến quý 1/2027. Dự án dự kiến sẽ chính thức khởi công vào quý 4/2026 và hoàn thành, đưa vào khai thác cuối năm 2028, kết nối đồng bộ với hệ thống hạ tầng liên vùng gồm Vành đai 3, cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây và cao tốc Bến Lức – Long Thành.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo ACV, theo quy hoạch hiện nay, dự kiến sẽ có 3 tuyến gồm đường sắt gồm tuyến tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành và metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên nối dài cùng kết nối trong phạm vi sân bay Long Thành. Cả ba tuyến cùng lúc được đầu tư dọc theo phạm vi đất trống giữa đường trục chính sân bay, đồng thời xây dựng các nhà ga kết nối nhà ga hành khách.
Theo quy hoạch, phạm vi đất trống rộng 40m sẽ dùng cho 2 tuyến gồm đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành. ACV đã có văn bản thỏa thuận với Ban Quản lý dự án đường sắt (Bộ Xây dựng) về phương án tuyến, vị trí đặt ga, phương án kết nối từ tháng 4-2024.
Tuy nhiên, đến nay ACV vẫn chưa nhận được quy hoạch của tuyến metro số 1 nối dài, cũng như phương án tuyến, các vị trí đặt ga được duyệt trong phạm vi sân bay.
Theo ACV, việc cùng lúc nghiên cứu nhiều tuyến đường sắt trong một không gian nhưng chưa có quy hoạch tổng thể thống nhất sẽ gây khó khăn cho quá trình xem xét, phối hợp đầu tư. Nếu không được tính toán đồng bộ từ đầu, nguy cơ chồng lấn hạ tầng, phát sinh vướng mắc trong thi công và ảnh hưởng đến khai thác sau này là điều có thể xảy ra.
Từ thực tế đó, ACV kiến nghị Bộ Xây dựng chủ trì hoặc giao cơ quan có thẩm quyền rà soát lại tổng thể quy hoạch các tuyến đường sắt kết nối sân bay Long Thành. Mục tiêu là xác định rõ hướng tuyến, vị trí nhà ga, phương án kết nối giữa các dự án, qua đó bảo đảm tính đồng bộ trong đầu tư xây dựng và vận hành.
ACV cũng đề nghị Bộ Xây dựng, UBND TP.HCM và UBND TP Đồng Nai chỉ đạo các chủ đầu tư các dự án đường sắt chủ động phối hợp, thống nhất phương án kỹ thuật và quy hoạch ngay từ đầu.
Sân bay Long Thành được định hướng là cửa ngõ hàng không quốc tế lớn của khu vực phía Nam. Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục hàng không, việc sớm hoàn thiện phương án kết nối bằng đường sắt được xem là một trong những yếu tố quan trọng để hình thành mạng lưới giao thông hiện đại, đồng bộ và phát huy tối đa hiệu quả của dự án trong tương lai.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 29.5 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố dự thảo sửa đổi bổ sung Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Điểm mới đáng chú ý được đưa vào dự thảo lần này là bỏ giấy phép con đối với hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức mỹ nghệ (TSMN) kể từ ngày 1.7. Đồng thời, NHNN không còn kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng TSMN như quy định cũ. Dù vậy, dự thảo cũng yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng TSMN có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, đo lường, nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hóa đơn, chứng từ, thuế, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống rửa tiền và pháp luật khác có liên quan.
Giám đốc một doanh nghiệp (DN) sản xuất vàng nữ trang có trụ sở tại TP.HCM cho biết hiện để có được giấy phép sản xuất vàng trang sức, DN sẽ phải mất từ 3 - 6 tháng đáp ứng các điều kiện đưa ra để hoàn tất hồ sơ, trong đó quan trọng nhất là phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường. Ngay cả tiệm chuyên kinh doanh vàng, muốn có thợ sửa trang sức cũng phải có giấy phép. Vì vậy khi được bỏ giấy phép con thì các DN được giảm thủ tục hành chính, rút ngắn được thời gian.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ kim hoàn TP.HCM, phấn khởi cho biết: Nhiều năm qua, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN (VGTA) liên tục kiến nghị đưa hoạt động sản xuất TSMN ra khỏi danh sách ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Đến luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung chính thức được thông qua năm 2025 đã đưa TSMN ra khỏi ngành nghề kinh doanh có điều kiện và nay Dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 24/2012 là tin vui lớn đối với ngành kim hoàn.
"Trên thế giới cũng xem hoạt động sản xuất chế tác và kinh doanh vàng TSMN là ngành nghề sản xuất kinh doanh hàng hóa thông thường, không quốc gia nào quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Các nước Thái Lan, Singapore, Indonesia, UAE… còn có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích để phát triển mạnh mẽ ngành này nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ. Đó là lý do các quốc gia này xuất khẩu sản phẩm vàng TSMN lên tới 5 - 7 tỉ USD mỗi năm", ông Dưng phân tích.
Ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch VGTA, nhận xét: Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30.5.2025 về "khuyến khích phát triển thị trường vàng trang sức đưa VN trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao trong khu vực" là chỉ đạo mang tính đột phá và chiến lược quan trọng để phát triển ngành này thành ngành mũi nhọn, tái tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Bởi năng lực và trình độ của các DN VN không chỉ đủ sản xuất, chế tác vàng trang sức đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể cạnh tranh xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên theo ông Khánh, sau khi tháo gỡ giấy phép con, để ngành TSMN hoạt động minh bạch, phát triển lành mạnh trong thời gian tới, cơ quan chức năng cần sớm giải quyết vấn đề vàng nguyên liệu, cho phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Trong những năm qua, nhu cầu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức trung bình khoảng 50 tấn/năm, tương đương khoảng 5 tỉ USD/năm (khoảng 420 triệu USD/tháng). Sau khi đưa vào sản xuất, chế tác thì môt nửa để đáp ứng nhu cầu trong nước, một nửa để xuất khẩu. Tức là 25 tấn vàng dùng để xuất khẩu, có thể thu về từ 3,5 - 5 tỉ USD. Trong đó giá trị sức lao động chiếm tới trên 30% giá trị sản phẩm xuất khẩu. Như vậy, việc cho DN nhập vàng nguyên liệu về sản xuất, chế tác thành vàng TSMN không những đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn xuất khẩu, tái tạo nguồn ngoại tệ khá lớn cho đất nước.
Để VN trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao trong khu vực, theo ông Nguyễn Văn Dưng, còn nhiều việc cần làm trong thời gian tới, đặc biệt là về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Thực tế, thị trường trang sức vàng VN liên tục suy giảm trong giai đoạn 2023 - 2025 với khối lượng trang sức vàng tiêu thụ giảm trung bình 15%/năm. Nhiều cửa hàng kinh doanh phải đóng cửa, kéo theo nhiều nhân viên bán hàng và công nhân sản xuất phải nghỉ chờ việc hoặc chuyển ngành. Nguyên nhân suy giảm một phần từ sức ép thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu. Các DN chế tác gặp nhiều khó khăn trong vận hành nên không dám mạnh dạn đẩy mạnh đầu tư, từ đó bỏ lỡ các lợi thế cạnh tranh của VN. Trong khi đó, những nước lân cận như Thái Lan, Indonesia đang là những quốc gia xuất khẩu trang sức hàng đầu dù họ cũng chỉ có trình độ tương đương, thậm chí thấp hơn chúng ta trong một số lĩnh vực… Nguyên nhân gốc rễ là do chúng ta gộp chung quản lý vàng TSMN với vàng miếng.
Từ góc nhìn đó, ông Nguyễn Văn Dưng kiến nghị quản lý sản phẩm trang sức vàng mỹ nghệ như là hàng hóa tiêu dùng, tham khảo theo thông lệ quốc tế. Còn vàng miếng, vàng đầu tư thì do ngân hàng trung ương quản lý. Từ đó xây dựng chính sách phát triển ngành kim hoàn VN như một ngành công nghiệp trọng điểm. Ở các quốc gia có ngành kim hoàn phát triển, hằng năm xuất khẩu lượng TSMN lớn ra quốc tế như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, ngành kim hoàn được quản lý như một ngành công nghiệp tiêu dùng. Các quốc gia này cũng có các chính sách hỗ trợ rất chi tiết, từ việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung đến các chính sách triển khai chuỗi giá trị của ngành.
"Cơ chế quản lý ngành kim hoàn VN như một ngành công nghiệp vừa giữ gìn và phát triển một ngành nghề thủ công mỹ nghệ mang bản sắc dân tộc, vừa hướng tới trở thành quốc gia hàng đầu về xuất khẩu TSMN trên trường quốc tế", ông Nguyễn Văn Dưng nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Khoảng 11.000 cơ sở nhà, đất dôi dư sẽ được xử lý theo cơ chế đặc thù mới

Chiều 26/6, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết số 31 về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính.
Theo tổng hợp báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương thì hiện nay còn khoảng 11.000 cơ sở nhà, đất dôi dư đã được thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý nhưng chưa hoàn thành xử lý bước 2 để đưa vào khai thác hoặc xử lý triệt để.
Việc khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất này đang gặp nhiều khó khăn do số lượng lớn, phân tán trên phạm vi cả nước, nhiều cơ sở có quy mô nhỏ lẻ, nằm ở vùng sâu, vùng xa, khu vực có nhu cầu thị trường thấp; nhiều trường hợp hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ, bị thất lạc hoặc đang có tranh chấp, lấn chiếm.
Nếu thực hiện theo quy trình thông thường quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành sẽ khó đáp ứng yêu cầu xử lý nhanh, triệt để theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 31 ngày 24/6/2026 về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
Nghị quyết được ban hành với mục tiêu trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư; sớm đưa các tài sản này vào sử dụng, khai thác hiệu quả; hạn chế tối đa tình trạng bỏ trống, xuống cấp, thất thoát và lãng phí tài sản công.
Nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính (bao gồm sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp).
Gồm: Quản lý, khai thác nhà, đất dôi dư mà cơ quan, người có thẩm quyền có Quyết định giao, điều chuyển, chuyển giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà kể từ ngày 1/3/2025 và chưa đưa vào khai thác.
Xử lý nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính (bao gồm cả nhà, đất đơn vị không còn nhu cầu sử dụng trước thời điểm sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính và sau thời điểm sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính vẫn tiếp tục xác định là dôi dư).
Nghị quyết đã phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh được toàn quyền quyết định việc quản lý, khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư và các cơ sở nhà, đất dôi dư giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương quản lý, khai thác, kể cả các cơ sở nhà, đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý nhưng đã chuyển giao cho địa phương quản lý, xử lý hoặc địa phương thu hồi, đảm bảo lợi ích tổng thể kinh tế, xã hội của địa phương; kiểm soát chặt chẽ các yếu tố ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh quốc gia, môi trường.
Được điều chỉnh các quyết định giao, điều chuyển, chuyển giao nhà, đất để phù hợp với thực tiễn; Quyết định định mức chi hoạt động phục vụ cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà theo tỉ lệ % trên tổng số tiền thu được từ khai thác nhà, đất.
Đồng thời, phân quyền cho thủ trưởng tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt đơn giá cho thuê nhà (thay cho việc phải thuê thẩm định giá, trình UBND cấp tỉnh ban hành Bảng giá cho thuê nhà).
Việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ này sẽ giúp rút ngắn quy trình xử lý, phát huy tính chủ động của địa phương, giảm các khâu trung gian trong quá trình thực hiện.
Nghị quyết đã cắt giảm một số thủ tục hành chính so với quy trình thông thường để góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư.
Theo đó, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được chủ động xây dựng phương án quản lý, khai thác nhà, đất được giao quản lý, khai thác mà không phải thực hiện quy trình lập, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh, bổ sung kế hoạch quản lý, khai thác như quy định hiện hành.
Đối với các cơ sở nhà, đất đã có quyết định chuyển giao về địa phương và giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tiếp nhận thì không phải thực hiện thêm thủ tục giao tài sản một lần nữa.
Nghị quyết cũng cắt giảm thủ tục xây dựng bảng giá cho thuê nhà và thay thế bằng cơ chế xác định đơn giá cho thuê nhà theo công thức thống nhất, minh bạch, dễ áp dụng, giảm chi phí thuê tư vấn thẩm định giá và rút ngắn đáng kể thời gian đưa tài sản vào khai thác.
Ngoài ra, thủ tục lấy ý kiến của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi thực hiện chuyển giao các cơ sở nhà, đất dôi dư, không có nhu cầu sử dụng của trung ương về địa phương quản lý, xử lý cũng được cắt giảm nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý.
Một điểm mới quan trọng của Nghị quyết là cho phép khai thác các cơ sở nhà, đất trong một số trường hợp đặc thù như chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận bị thất lạc; cho phép khai thác đối với nhà, đất dôi dư mà không phải thực hiện điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, qua đó giúp tài sản sớm được đưa vào sử dụng.
Đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư có vị trí phù hợp cho mục đích công cộng như công viên, sân chơi, thiết chế văn hóa hoặc phục vụ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, Nghị quyết cho phép phá dỡ công trình hiện hữu không còn phù hợp để thực hiện phương án sử dụng mới.
Điều chỉnh cơ chế xử lý đối với tài sản gắn liền với đất khi thực hiện giao đất, cho thuê đất nhằm tạo điều kiện thu hút tổ chức, cá nhân tham gia khai thác và sử dụng hiệu quả các khu đất dôi dư.
Theo đó, đối với trường hợp phá dỡ, hủy bỏ tài sản gắn liền với đất trước khi giao đất, cho thuê đất thì không phải hoàn trả giá trị của tài sản cho Nhà nước; đối với trường hợp không phá dỡ, hủy bỏ tài sản gắn liền với đất trước khi giao đất, cho thuê đất thì người được giao đất, cho thuê đất có nghĩa vụ hoàn trả giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất đang được theo dõi trên sổ kế toán.
Đồng thời, Nghị quyết cho phép thực hiện chuyển đổi công năng sử dụng nhà, đất trước và cập nhật, điều chỉnh quy hoạch sau khi thực hiện chuyển đổi công năng các cơ sở nhà, đất để làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp công lập, các mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

