Lấy bằng tiến sĩ toán tại Đại học Harvard khi mới 27 tuổi, trở thành giáo sư trẻ nhất Việt Nam năm 2020 ở tuổi 37, là Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (Bộ GD-ĐT), gần đây Lê Anh Vinh còn được biết tới là tác giả sách thiếu nhi rất có duyên với giải thưởng.
Sau giải khuyến khích giải thưởng Sách quốc gia năm 2023 với bộ sách Những đứa trẻ hạnh phúc (Lê Anh Vinh chủ biên), anh lại vừa được trao giải thưởng Khát vọng Dế Mèn thuộc Giải thưởng thiếu nhi Dế Mèn lần thứ 7 năm 2026 cho cuốn truyện Chú robot tưởng mình là người. Và đề thi tuyển sinh lớp 10 THPT của TP.HCM hôm 1-6 môn ngữ văn đã chọn trích Chú robot tưởng mình là người.
Trò chuyện với Tuổi Trẻ, GS.TS Lê Anh Vinh cho biết là một người làm toán, làm giáo dục rồi viết sách thiếu nhi, được bạn đọc và các hội đồng chuyên môn ghi nhận khiến anh rất vui và biết ơn.
* Thưa anh, câu chuyện một người cha viết sách từ những cuộc kể chuyện mỗi đêm cho các con của mình thật là đẹp. Mối duyên đưa anh tới việc viết sách cho thiếu nhi đã bắt đầu thế nào?
– Hồi nhỏ tôi rất thích đọc sách, đặc biệt là những cuốn sách thiếu nhi có yếu tố khoa học, phiêu lưu và tưởng tượng. Một trong những cuốn sách tôi yêu thích nhất là Thuyền trưởng Đơn vị của một nhà toán học người Nga, bản in của NXB Cầu Vồng và NXB Kim Đồng.
Cuốn sách kể về hành trình khám phá của cậu bé Số Không đi theo bác thuyền trưởng đơn vị. Tôi đọc cuốn sách đó từ những năm đầu tiểu học và đã luôn tự hỏi vì sao lại có một cuốn sách có thể khiến trẻ con thấy toán học thú vị đến thế.
Sau này khi có con, các con tôi rất thích nghe kể chuyện mỗi tối. Ban đầu tôi đọc truyện cho các con nghe, nhưng rồi các bạn ấy không thích nghe đọc nữa mà đòi bố phải tự kể. Vậy là tôi bắt đầu tưởng tượng ra những cuộc phiêu lưu mà chính các con trở thành nhân vật chính.
Tôi kể những câu chuyện để các con thấy rằng những điều mình học ở trường, kể cả những kiến thức khoa học rất nhỏ, cũng có thể giúp ích trong cuộc sống. Thấy các con hào hứng, tôi bắt đầu nghĩ đến việc viết lại để nhiều bạn nhỏ khác cũng có thể đọc.
* Với nhiều người, việc một giáo sư toán viết sách kể chuyện cho các em nhỏ thật đặc biệt và có phần… lạ. Bởi vì người ta hay dán nhãn người giỏi toán thường không thích hoặc không giỏi văn?
– Tôi nghĩ đây là một định kiến khá thú vị và có lẽ cũng không hoàn toàn vô lý nếu nhìn vào trải nghiệm đi học của nhiều thế hệ. Quả thật rất nhiều bạn học chuyên toán ngày trước sợ môn văn, nhất là sợ những bài văn phải viết theo một khuôn mẫu nào đó.
Nghĩ lại, tôi cũng phải cảm ơn các thầy cô dạy văn của mình. Hồi đi học, tôi thường nghĩ gì viết nấy, viết khá tự do, vậy mà kiểu gì cũng được các thầy cô cho trung bình 6,5 điểm, vừa đủ để đạt danh hiệu học sinh giỏi.
* Truyện của một tiến sĩ toán học có khác biệt với văn chương của những người khác?
– Tôi có một người bạn học rất giỏi văn, ngày trước đi học toàn được 9-10 điểm văn. Khi đọc truyện của tôi, bạn đó luôn nói “Biết ngay là văn của người học toán, câu chữ quá đơn giản, nhưng được cái nhiều ý”. Tôi thấy nhận xét ấy cũng đúng.
Còn tôi nghĩ mỗi người khi viết đều mang theo cách mình nhìn thế giới. Người làm toán thường có thói quen đi tìm cấu trúc phía sau một vấn đề, vì vậy khi kể một câu chuyện tôi luôn nghĩ đến những câu hỏi như vì sao nhân vật hành động như vậy, tình huống này dẫn tới tình huống kia thế nào và một ý tưởng lớn có thể được kể lại bằng hình ảnh nào để trẻ em hiểu được.
Cũng phải nói thêm là viết một bài báo khoa học, một báo cáo hay một cuốn sách mang tính chuyên môn thì tôi có thể tập trung làm khá nhanh trong một khoảng thời gian cố định. Nhưng viết một cuốn truyện thì khác.
Câu chuyện cần thời gian để hình thành, nhân vật cần thời gian để sống cùng mình, nhiều chi tiết chỉ xuất hiện rất bất ngờ sau một cuộc trò chuyện, một khoảnh khắc với các con hoặc một đêm ngồi nghĩ vu vơ. Viết truyện với tôi thường chậm hơn nhưng cũng có một niềm vui rất riêng.
* Nhà toán học làm việc gì hẳn cũng theo logic chặt chẽ. Vậy anh có “đi lang thang dưới mưa không mục đích, chơi mà không cần lý do” như bài học anh muốn gửi tới các em nhỏ qua những nhân vật trẻ con trong cuốn sách của anh không?
– Tôi không phải là người thường xuyên “đi lang thang dưới mưa không mục đích” theo nghĩa lãng mạn, nhưng tôi tin vào giá trị của những việc không nhất thiết phải có mục tiêu rõ ràng: ngồi chơi với con, nghe một câu chuyện rất dài chưa biết kết thúc ở đâu, đi dạo mà không cần giải quyết việc gì.
Trong giáo dục, đôi khi người lớn muốn mọi thứ đều phải có mục tiêu: chơi để học kỹ năng gì, đọc sách để rút ra bài học gì. Điều đó không sai nhưng nếu cái gì cũng biến thành mục tiêu thì tuổi thơ sẽ rất mệt. Trẻ em cần được chơi chỉ vì vui, tò mò chỉ vì thích và yêu một điều gì đó chỉ vì thấy nó đáng yêu. Có lẽ người lớn cũng cần học lại điều ấy từ trẻ em.
* Đọc sách anh có thể thấy anh dành nhiều thời gian trò chuyện, chơi với các con và dường như học hỏi về gia đình, về cuộc sống từ chính các con vậy. Anh có phải là một người đàn ông của gia đình không?
– Tôi không dám tự nhận mình là một người đàn ông của gia đình theo nghĩa “hoàn hảo nhất” của từ này. Tôi cũng rất bận, cũng có những giai đoạn bị cuốn vào công việc và chắc chắn cũng có những thiếu sót như nhiều ông bố khác. Nhưng nếu hỏi gia đình có phải là phần quan trọng nhất trong cuộc sống của tôi không, câu trả lời chắc chắn là có.
Có lẽ vì vậy việc viết sách thiếu nhi với tôi không tách rời khỏi đời sống gia đình.
Các con thường là những độc giả đầu tiên của tôi, từ lúc ý tưởng còn rất sơ khai cho đến khi bản thảo đã hoàn thiện hơn. Tôi kể chuyện cho các con nhưng nhiều khi chính các con lại dạy tôi cách nhìn thế giới chậm hơn, hồn nhiên hơn và bao dung hơn.
* Cuốn sách của anh có nhắc, điều giáo dục nên làm là bảo vệ quyền được hiện diện của những điều chưa có tên gọi. Anh có thể chia sẻ quan điểm làm giáo dục này của anh? Ở Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, các anh đi theo “tôn chỉ” này?
– Nếu giáo dục chỉ nhìn vào những gì đã có tiêu chí, đã có trong bảng điểm thì rất dễ bỏ sót những điều rất quan trọng như một năng lực khác biệt của trẻ, một khó khăn học tập chưa được nhận ra, một cảm xúc chưa được người lớn hiểu đúng hay một nhóm học sinh chưa có được sự quan tâm đầy đủ.
Vì vậy tôi nghĩ giáo dục trước hết phải biết lắng nghe và thừa nhận. Trước khi gọi tên được một vấn đề, trước khi có chính sách hay giải pháp hoàn chỉnh, ta cần chấp nhận rằng điều đó đang tồn tại.
Với những người nghiên cứu giáo dục, chúng tôi cũng cố gắng làm theo tinh thần ấy, giúp hệ thống nhìn thấy rõ hơn những vấn đề của trẻ em, của giáo viên, của nhà trường, từ đó có các nghiên cứu, bằng chứng và đề xuất chính sách phù hợp hơn.
Đây là nội dung tại hồ sơ thẩm định dự án Luật Hòa giải ở cơ sở sửa đổi vừa được Bộ Tư pháp công bố. Một trong những chính sách lớn của dự án Luật là hoàn thiện cơ chế lựa chọn và nâng cao chất lượng hòa giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, mỗi tổ hòa giải có từ 3 hòa giải viên trở lên. Chủ tịch UBND cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ căn cứ vào đặc điểm, tình hình địa phương.
Theo quy định hiện hành, tiêu chuẩn hòa giải viên là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín trong cộng đồng, khả năng thuyết phục, vận động và hiểu biết pháp luật.
Tại dự án Luật mới, Bộ Tư pháp đề xuất bỏ mô hình tổ hòa giải, thành lập các Trung tâm hòa giải cộng đồng tại cấp xã. Hòa giải viên phải có bằng tốt nghiệp đại học, có chứng chỉ nghề nghiệp và được chính quyền cấp xã tuyển dụng.
Bộ cho biết việc lựa chọn hòa giải viên gắn với trình độ học vấn, bằng cấp và đánh giá năng lực phù hợp với đặc thù địa bàn và từng loại vụ việc. Chính sách này học tập theo mô hình hòa giải của Singapore và Australia. Giải pháp nhằm chuyên nghiệp hoạt động hòa giải ở cơ sở, xử lý ngay tại cơ sở những tranh chấp, bất đồng trên cơ sở pháp luật, bảo đảm tối cao tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.
Dự án Luật cũng nêu rõ hòa giải viên có trách nhiệm giải trình đối với chất lượng vụ việc hòa giải. Cơ chế đánh giá định kỳ hòa giải viên được thiết lập trên cơ sở kết quả hòa giải, mức độ tín nhiệm của cộng đồng và việc chấp hành quy định pháp luật, qua đó tạo động lực nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải.
Về cơ chế hỗ trợ tài chính, ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của Trung tâm hòa giải ở cộng đồng, bao gồm cơ sở vật chất và chi phí bộ máy hoạt động.
Hòa giải ở cơ sở là cơ chế giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ ngay trong cộng đồng dân cư thông qua sự tham gia của những người có uy tín như tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, hội phụ nữ, cựu chiến binh hoặc các hòa giải viên được địa phương công nhận.
Luật Hòa giải ở cơ sở hiện hành hiệu lực từ năm 2014. Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2025, cả nước tiếp nhận 906.763 vụ, việc hòa giải, trung bình 90.676 vụ, việc/năm. Trong đó, vụ hòa giải thành công là 735.785/906.763 vụ, đạt tỷ lệ 80,22%. Một số tỉnh có tỷ lệ hòa giải thành cao như Lào Cai (88,46%); Tây Ninh (88,32%); Tuyên Quang (87,27%); Đồng Tháp (85,84%); Lai Châu (85,80%); TP HCM (85,24%); An Giang (85,17%); Quảng Ngãi (84,96%).
Thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, những tranh chấp, bất đồng phát sinh được giải quyết kịp thời, hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện ra cơ quan nhà nước, khiếu kiện vượt cấp. Công tác hòa giải ở cơ sở cũng góp phần quan trọng giữ gìn, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, xây dựng cộng đồng dân cư yên bình, hạnh phúc.
Bộ Tư pháp cho biết hầu hết mâu thuẫn, tranh chấp được hòa giải chủ yếu phát sinh trong các lĩnh vực đất đai, dân sự; hôn nhân và gia đình. Một số vụ việc phát sinh mâu thuẫn giữa các bên do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt...
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành, Luật xuất hiện một số quy định không còn phù hợp. Hiện nay, hòa giải viên nhận được thù lao hòa giải theo vụ việc 300.000-400.000 đồng, chỉ mang tính chất động viên.
Thực tế cho thấy những vụ việc tranh chấp phức tạp, đông người, hòa giải viên ở cơ sở chưa hòa giải được nhiều, do năng lực không đáp ứng, kiến thức pháp luật còn hạn chế. Đặc biệt, đối với các vụ tranh chấp đất đai, nguồn gốc, chính sách đất đai khá phức tạp, một số vụ thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết.
Quy định về quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên chưa bao quát toàn diện. Điều này khiến cho hòa giải viên còn e ngại, thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực tư vấn chuyên môn hoặc mời người có uy tín phối hợp giải quyết các vụ việc phức tạp.
Ngoài ra, việc thiếu cơ chế gắn kết trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan Tòa án đã tạo ra điểm nghẽn trong quy trình công nhận kết quả hòa giải thành, làm giảm hiệu lực thi hành của các biên bản hòa giải và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên tranh chấp.
Ngày 10.4, Phòng Kinh tế xã Châu Pha (TP.HCM) cho biết sẽ vận động ông T.V.T (43 tuổi, ở phường Tam Long) tự tháo dỡ xưởng may xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp.
"Nếu người vi phạm không tự tháo dỡ thì địa phương sẽ tổ chức cưỡng chế theo quy định. Việc tháo dỡ dự kiến thực hiện sau lễ 30.4 và 1.5", lãnh đạo Phòng Kinh tế xã Châu Pha nhấn mạnh.
Trước đó, Phòng Kinh tế xã Châu Pha phát hiện ông T.V.T đang xây dựng nhà xưởng dạng tiền chế công nghiệp, khung sắt, cột sắt, lợp mái tôn, chưa làm nền, với tổng diện tích 1.600 m2.
Ông T. cho biết đã thuê đất của gia đình bà Đ.T.T (ở phường Tam Long) để xây dựng xưởng may. Phòng Kinh tế xã Châu Pha đã yêu cầu ông T. ngưng thi công công trình.
Ngày 6.10.2025, UBND xã Châu Pha đã ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T. vì có hành vi chuyển đất nông nghiệp (không phải là đất trồng lúa, không phải đất lâm nghiệp) sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của xã mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép.
Theo đó, UBND xã Châu Pha xử phạt ông T. số tiền 15 triệu đồng và buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
UBND xã Châu Pha cũng buộc ông T. tháo dỡ, di dời các công trình vi phạm ra khỏi thửa đất. Thời hạn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là 30 ngày.
Ông T. còn bị buộc nộp lại số tiền thu lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm hành chính hơn 7 triệu đồng. Sau đó, ông T. đã nộp phạt.
Theo ghi nhận của PV Báo Thanh Niên, ngày 10.4, tức sau hơn 6 tháng bị UBND xã Châu Pha ra quyết định xử phạt, ông T. vẫn chưa tháo dỡ công trình. Công trình ngoài nhà xưởng rộng 1.600 m2 còn có hàng ngàn mét vuông đất đã bị đổ bê tông kiên cố. Xung quanh khu đất được xây tường và cổng có nhà bảo vệ.
Ngày 7.5, ông Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, chủ trì cuộc họp với chủ đầu tư cùng phường Tân Thành và các đơn vị liên quan để xử lý tình trạng thi công dự án mở rộng, nâng cấp Cảng hàng không Cà Mau ảnh hưởng đến sản xuất của người dân.
Tại cuộc họp, lãnh đạo tỉnh khẳng định đây là trường hợp bồi thường thiệt hại chứ không phải hỗ trợ. Theo ông Sử, việc xác định thiệt hại không thể chỉ nhìn vào số lượng cây trồng, vật nuôi chết tại một thời điểm mà phải tính đến toàn bộ thu nhập của một mùa vụ, kể cả khoảng thời gian người dân chưa thể tái sản xuất do đất và nguồn nước bị nhiễm mặn.
"Cá là cá nước ngọt, bây giờ nước đã nhiễm mặn thì người dân không thể quay lại nuôi liền được", ông Sử nhấn mạnh.
Từ đó, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đề nghị xác định mức thu nhập bình quân theo từng nghề bằng cách thu thập dữ liệu từ chính quyền địa phương, người nuôi và thương lái. Sau đó kết hợp với ngày tuổi cây trồng, vật nuôi tại thời điểm thiệt hại để tính hệ số bồi thường và lấy mức trung bình làm cơ sở thương thảo với người dân.
Theo khảo sát của UBND phường Tân Thành và ngành chuyên môn, với diện tích 1.000 m2 nuôi trong 12 tháng, cá chình có chi phí khoảng 238 triệu đồng; nếu tỷ lệ sống đạt 70% thì lợi nhuận khoảng 100 triệu đồng. Cá bống tượng có lợi nhuận khoảng 55 triệu đồng trên cùng diện tích. Đối với lúa, mỗi vụ người dân lãi khoảng 800.000 đồng/1.000 m2.
Ông Sử cũng bác bỏ quan điểm cho rằng cần xem xét yếu tố nắng nóng hay nguồn nước tự nhiên ô nhiễm trước đó để xác định nguyên nhân thiệt hại. Theo ông, không thể đặt lại vấn đề này vào thời điểm hiện nay bởi nguồn nước tại địa phương từ trước đến nay vẫn được người dân sử dụng để sản xuất bình thường. Riêng yếu tố nắng gắt, nếu muốn xác định có tác động hay không thì phải có số liệu cụ thể.
"Trách nhiệm không để nước nhiễm mặn không thuộc về người dân", ông Sử nói.
Kết luận cuộc họp, ông Sử cho rằng việc xử lý chậm, thiếu bài bản có thể dẫn đến hệ lụy phức tạp. Tỉnh xác định đây là dự án trọng điểm, phải đảm bảo tiến độ, nhưng không thể vì vậy mà làm ảnh hưởng quyền lợi chính đáng của người dân.
Ông Sử yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu khẩn trương khắc phục các vấn đề đang tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất, đặc biệt trong quá trình bơm cát phải đảm bảo không để nước mặn rò rỉ, tràn ra kênh hoặc thấm vào đất sản xuất. Các đơn vị cũng được yêu cầu cử người tham gia tổ công tác để kiểm đếm, kê khai thiệt hại, khảo sát vị trí đặt trạm bơm và tính toán mức thu nhập bình quân của từng loại cây trồng, vật nuôi.
Theo Sở Nông nghiệp - Môi trường tỉnh Cà Mau, sáng cùng ngày, đơn vị đã phối hợp khảo sát thực tế hiện trường thi công dự án. Kết quả cho thấy độ mặn trên kênh Đường Xuồng dao động từ 20% đến 22%. Toàn bộ nước trong hệ thống kênh khu vực đều là nước mặn nên không thể bơm lên ruộng để tháo chua, rửa mặn.
Đoàn khảo sát cũng ghi nhận nhiều đầu nối của đường ống bơm cát bị xì, làm cát và nước mặn chảy trực tiếp ra khu vực sản xuất của người dân. Trong khi đó, bờ bao ranh giới giữa khu vực Cảng hàng không Cà Mau và đất sản xuất đắp chưa đảm bảo, còn thấp, khiến nước từ khu vực san lấp tiếp tục chảy xuống kênh.
Sở Nông nghiệp - Môi trường đề xuất đặt 2 trạm bơm tại đầu kênh Đường Xuồng và kênh Chùa để bơm nước ra kênh Cái Nhúc khi có mưa, tạo điều kiện rút nước trên ruộng xuống kênh để rửa mặn, đồng thời đặt một trạm bơm tại kênh Cống Nhum (đoạn gần Đoàn cải lương Hương Tràm) để bơm nước mặn ra ngoài hệ thống.
Đến nay, trong số 92 hộ dân bị ảnh hưởng với tổng diện tích hơn 85 ha lúa, hoa màu và ao nuôi cá chình, cá bống tượng, các đơn vị đã kiểm đếm thiệt hại được 39 hộ dân.
Đại diện chủ đầu tư và đơn vị thi công đề nghị tỉnh hỗ trợ đánh giá nguyên nhân, đồng thời xác định chính xác số hộ thiệt hại do quá trình triển khai dự án gây ra.
Cuộc họp cũng thống nhất thành lập tổ công tác liên ngành gồm cơ quan chuyên môn, đơn vị quản lý, chủ đầu tư và đơn vị thi công để tiếp tục lấy thông tin kê khai thiệt hại, xây dựng phương pháp tính bồi thường cụ thể cho từng nhóm đối tượng.
Theo chỉ đạo của tỉnh, phương án bồi thường sau khi hoàn thiện sẽ được lấy ý kiến chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và người có uy tín tại địa phương trước khi tổ chức họp dân công khai phương án chi trả.