Người thợ may này là chỗ quen biết của gia đình tôi. Hơn hai mươi năm trước, thay vì vào đại học hay đi làm công nhân, cô quyết định học nghề may. Số tiền học nghề khi đó tương đương vài chỉ vàng, là khoản đầu tư không hề nhỏ đối với một gia đình nông thôn. Sau khi học xong, cô mở tiệm tại nhà.
Đến nay, khi nhiều người cùng thời đã nghỉ việc hoặc liên tục chuyển nghề, cô vẫn sống tốt bằng chiếc máy may của mình. Tay nghề càng cao, khách càng đông.
Chỉ cần đo số đo, vẽ rập, cắt và may, cô có thể tạo ra những bộ đồ vừa vặn với từng người. Điều quan trọng hơn là hiện nay rất khó tìm được một người may giỏi như vậy.
Trước Tết, tôi đi chợ quê, ghé vào một sạp mua vài mét vải may áo bà ba làm quà cho mẹ. Những tấm vải đẹp, hoa văn đa dạng, màu sắc bắt mắt. Người mua chỉ cần nói với chủ sạp là họ cắt cho một khúc vải đủ may áo bà ba. Tiền vải chỉ khoảng 120 nghìn đồng.
Về nhà, mẹ tôi bảo nếu muốn có áo mặc Tết thì phải đặt may từ tháng 10 âm lịch. Còn cận Tết thì gần như không kịp nữa. Điều khiến tôi bất ngờ hơn là tiền công may một chiếc áo bà ba là 350 nghìn đồng, gần gấp ba lần tiền vải. Ngay cả những tháng bình thường, khách cũng phải chờ hơn một tháng mới nhận được đồ.
Đúng là trên các sàn thương mại điện tử, ao bà ba may sẵn bán rất nhiều, nhưng nhiều người vẫn thích may đo trực tiếp. Họ muốn bộ quần áo vừa với cơ thể, đúng kiểu dáng mình thích, mặc thoải mái và bền hơn. Chính nhu cầu tưởng như rất bình thường đó lại tạo ra một thị trường việc làm ổn định cho những người có tay nghề.
Gần nơi tôi sống trên thành phố có một chị chuyên sửa quần áo, lên lai, thay dây kéo, đóng nút, vắt sổ. Tiệm nhỏ nằm trong con hẻm nhưng lúc nào cũng có khách.
Trong khi nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học đang chật vật tìm việc đúng chuyên môn, không ít nhân viên văn phòng thấp thỏm trước nguy cơ bị AI thay thế, thì những nghề chân tay đòi hỏi kỹ năng thực tế lại đang thiếu nhân lực nghiêm trọng.
Câu chuyện “thừa thầy thiếu thợ” đã được nhắc đến suốt nhiều năm qua. Nhưng dường như xã hội vẫn chưa thật sự thay đổi cách nhìn. Nhiều gia đình vẫn xem đại học là con đường gần như duy nhất dẫn đến thành công.
Học nghề thường bị coi là lựa chọn thứ yếu, thậm chí là giải pháp dành cho những học sinh không đủ khả năng học tiếp. Chính tâm lý đó khiến lượng người trẻ bước vào các ngành nghề kỹ thuật, thủ công, dịch vụ tay nghề ngày càng ít.
Trong khi đó, thị trường lao động lại vận hành theo một quy luật rất đơn giản: nơi nào khan hiếm lao động thì giá trị lao động sẽ tăng lên.
Một người có thể mất bốn năm đại học để cạnh tranh cho một vị trí văn phòng với hàng trăm ứng viên khác. Nhưng cũng có người chỉ cần vài năm học nghề, rèn luyện tay nghề thật tốt là đã có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định, thậm chí cao hơn mặt bằng chung. Thời gian linh hoạt, có thể vừa làm việc tại nhà, vừa có thời gian đưa rước con đi học.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng phù hợp với nghề may, nghề sửa đồ hay các công việc thủ công khác. Xã hội cần cả kỹ sư, bác sĩ, giáo viên lẫn thợ lành nghề. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đã quá lâu đề cao bằng cấp mà xem nhẹ giá trị của kỹ năng thực hành.
Có phải chúng ta đang dư thừa nhân công ngồi bàn giấy? Và cần những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, sửa chữa đồ vật, xây dựng công trình, vận hành máy móc và cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống?
Hai tháng trước, hóa đơn tiền điện của gia đình cũng từng khiến tôi giật mình. Bình thường, gia đình tôi dùng điện khoảng trên dưới 3 triệu đồng mỗi tháng. Thế nhưng, hóa đơn tháng 5 bất ngờ tăng lên hơn 5 triệu đồng, tức cao hơn khoảng 70% so với mức thông thường.
Điều khiến tôi khó hiểu là thói quen sử dụng điện của cả nhà gần như không thay đổi. Điều hòa vẫn được cài ở 26-27 độ C, chưa bao giờ để thấp hơn. Thời gian sử dụng cũng tương tự những tháng trước. Ban đầu, tôi nghi ngờ công tơ điện có vấn đề nên liên hệ điện lực để kiểm tra. Sau khi nhân viên xuống kiểm tra, kết quả cho thấy công tơ vẫn hoạt động bình thường. Khi đó, tôi mới bắt đầu nghĩ đến những nguyên nhân khác mà trước đây mình ít khi để ý.
Cuối cùng, tôi gọi thợ đến vệ sinh toàn bộ máy lạnh trong nhà. Sau khi vệ sinh xong, kết quả khiến tôi khá bất ngờ. Hóa đơn tiền điện tháng tiếp theo quay trở về mức quen thuộc, khoảng 3 triệu đồng. Điều đáng nói là tháng 6, dù đơn giá điện đã tăng và thời gian sử dụng điều hòa của gia đình còn nhiều hơn một chút vì các con nghỉ hè, tổng tiền điện vẫn chỉ quanh mức cũ.
Từ đó, tôi mới nhận ra điều hòa không chỉ cần sử dụng đúng cách mà còn phải được bảo dưỡng định kỳ. Mỗi lần vệ sinh máy, tôi đều thấy lượng nước bẩn chảy ra khá nhiều. Dù chỉ cách lần vệ sinh trước khoảng ba tháng, bụi bẩn vẫn bám dày trên các lá tản nhiệt. Điều đó cho thấy không khí trong nhà mang theo rất nhiều bụi, lâu ngày khiến máy hoạt động kém hiệu quả hơn.
>> Tôi đi tìm nguyên nhân tiền điện tháng 6 tăng đột ngột lên 3,9 triệu đồng
Theo tôi, nhiều người khi thấy tiền điện tăng thường chỉ nghĩ đến việc giảm thời gian sử dụng điều hòa hoặc tăng nhiệt độ cài đặt. Nhưng điều quan trọng hơn là máy có còn hoạt động tốt hay không? Dàn nóng đặt ngoài trời rất dễ bám bụi, nhưng vì ở vị trí cao nên nhiều gia đình ngại vệ sinh. Dàn lạnh trong phòng cũng vậy, không ít người trì hoãn vì sợ làm bẩn tường hoặc mất thời gian.
Ngoài vấn đề vệ sinh, còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến mức tiêu thụ điện của điều hòa. Lốc lạnh nếu hoạt động yếu, thiếu nhớt hoặc hở bạc sẽ làm giảm sức nén, khiến máy phải chạy lâu hơn mới đạt nhiệt độ mong muốn. Ga lạnh có được nạp đúng áp suất hay không cũng rất quan trọng. Đường ống dẫn gas nếu lắp quá dài hoặc lớp bảo ôn không kín cũng làm giảm hiệu suất làm lạnh.
Chưa kể đến những yếu tố bên ngoài như diện tích phòng, khả năng cách nhiệt của cửa, tường nhà có bị nắng chiếu trực tiếp hay không. Nếu phòng hấp thụ nhiều nhiệt, điều hòa sẽ phải chạy liên tục để bù lại lượng nhiệt đó, và hóa đơn tiền điện chắc chắn sẽ tăng.
Sau trải nghiệm của mình, tôi nhận ra đôi khi nguyên nhân khiến tiền điện tăng vọt lại nằm ở chính chiếc điều hòa đã hoạt động quá lâu mà không được kiểm tra, bảo dưỡng đúng cách. Chỉ một lần vệ sinh và kiểm tra tổng thể cũng có thể giúp máy vận hành hiệu quả hơn, làm mát nhanh hơn và tiết kiệm được một khoản tiền điện không hề nhỏ mỗi tháng.
"Công ty tôi đến bây giờ vẫn đánh giá nhân viên theo số giờ làm việc. Người làm hiệu quả, nhanh gọn như tôi để về đúng giờ thì không được đánh giá cao. Thay vào đó, họ cứ theo dõi camera, thấy nhân viên nào ngồi ở văn phòng lâu, đến 9-10 tối thì lại họp tuyên dương vì đã cố gắng, chăm chỉ, chứ không xem lại hiệu suất công việc hoàn thành đến đâu?
Nhiều lúc những người đó làm việc kém hiệu quả, khiến tiến độ công việc chậm lại, nhưng sếp vẫn hoàn toàn không để ý, cứ nghĩ đó là việc khó, nhân viên đã rất nỗ lực. Lâu dần tôi cũng thấy chán, có suy nghĩ 'không lẽ trong giờ làm việc mình cứ ngồi chơi, đợi đến 5h chiều tan ca rồi mới bắt đầu làm để được đánh giá cao?'".
Đó là chia sẻ của độc giả Pngqtq khi so sánh những khác biệt trong văn hóa lao động của người Việt và các nước châu Âu. Môi trường công sở châu Âu ưu tiên hiệu suất, trách nhiệm cá nhân, nhân viên chủ động nêu ý kiến, phản biện và đưa ra sáng kiến mà không cần chờ cho phép. Trong khi đó, tại Việt Nam, nhân viên thường ít "dám" phản biện quản lý, thường phải làm việc tăng ca, ngoài giờ.
Lấy dẫn chứng từ trải nghiệm thực tế của bản thân ở cả hai môi trường làm việc trong nước và nước ngoài, bạn đọc Mai bình luận: "Tôi là người từng làm việc ở Việt Nam (15 năm) và hiện tại đang có 8 năm làm việc ở Đức. Khi còn ở trong nước, rất nhiều đồng nghiệp của tôi có mặt ở công ty suốt 9-10 tiếng một ngày. Nhưng thời gian họ thực sự dành cho công việc thì chỉ tầm 5-6 tiếng, còn lại họ làm việc riêng, lướt mạng, mua bán, tám chuyện, xem video...
Theo lịch 17h là hết giờ làm nhưng nhiều người vẫn ngồi lại văn phòng để làm việc riêng, hay hưởng điều hòa của công ty. Nhưng ngoài giờ, buổi đêm, hay cuối tuần, tôi vẫn phải nhận tin nhắn, điện thoại của khách hàng, đồng nghiệp, trong khi hoàn toàn có thể giải quyết ngay trong giờ làm.
>> Kiệt sức vì 7 giờ tối vẫn phải ở lại văn phòng 'chạy deadline'
Còn ở Đức không có chuyện đó. Nhân viên ở đây làm phải ra làm, tập trung cao, có thể thi thoảng giải lao 5-10 phút để uống cà phê, chào hỏi đồng nghiệp vài câu, chứ không có kiểu buôn chuyện cả tiếng đồng hồ. Buổi tối, cuối tuần, ngày lễ ở đây không có chuyện tôi phải nhận điện thoại về công việc.
Thi thoảng tôi cũng phải làm thêm buổi tối 1-2 tiếng ở nhà nếu có dự án gấp, nhưng hoàn toàn không bị bắt buộc. Ai cũng có công việc và cuộc sống riêng tách bạch, vừa vì quan điểm, văn hóa, vừa vì theo luật. Nếu có người nghỉ phép thì người khác phải làm thay. Vì thay phiên nhau nên tôi cũng không thấy ai phàn nàn".
Có cùng nhận định khi làm việc ở môi trường nước ngoài, độc giả Louis Vu bổ sung thêm: "Tôi đang làm việc ở Bỉ, nhận thấy rằng người châu Âu không rốt ráo trong công việc như ở ta. Có thể một phần lớn là do văn hóa và mục tiêu cuộc sống của họ hoàn toàn khác. Với quỹ thời gian làm việc được trả công (38-40 giờ một tuần) nhìn chung tôi thấy họ làm việc hiệu quả và tập trung hơn so với hồi tôi còn làm ở Việt Nam.
Tôi và các đồng nghiệp bên này đôi khi vẫn làm thêm ở nhà vào buổi tối, hay cuối tuần, hay đôi khi là trong kỳ nghỉ. Nhưng đó thật sự chỉ là việc bất đắc dĩ vì deadline gấp mà thôi chứ không bao giờ trở thành một điều bắt buộc, thường xuyên. Sếp ở Bỉ không thể ép buộc chuyện này, vì nó liên quan tới phẩm giá của người lãnh đạo và luật pháp. Chưa kể, công ty phần lớn không trả thêm tiền làm ngoài giờ và thuế thu nhập rất cao (như tôi năm 2025 phải mức thuế trung bình là 37%)".
Tôi không biết từ bao giờ, chúng ta có lệ là người đi xa, đi chơi từ đâu về là phải có quà. Nếu như đi núi mua mật ong, thịt gác bếp... để lâu được thì không nói làm gì.
Như gia đình tôi mới đây, sau khi tắm biển và ăn uống thỏa thích, vợ tôi đi dạo một vòng mua về một thùng hải sản tươi ướp đá lạnh gần 5 triệu đồng. Đi xe khách nên khệ nệ khiêng, bất tiện. Mà đi ôtô tự lái thì có khi chật chội vì còn phải để valy và đồ đạc khác.
Về đến nhà chưa kịp soạn quần áo cũ ra giặt thì phải chia phần vì sợ để lâu mất tươi. Khi đem qua cho bà chị, bà chị hỏi bao nhiêu tiền một kg thì than trời vì cái đại lý hải sản kế bên nhà chị bán rẻ hơn 50 nghìn một kg. Vợ tôi chậc lưỡi, thôi kệ. Quan trọng hơn là hải sản mua về ướp đá ăn không ngon như ở biển. Cảm quan chung của vợ chồng tôi là vậy.
Không bàn đến chuyện mua hớ vài chục nghìn một kg hay mất công xách nặng. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn là áp lực vô hình: Đi đâu về cũng phải có cái gì đó ra trò để biếu.
Nếu không sẽ ngại với người thân, ngại với bạn bè, thậm chí ngại với chính mình sợ rằng chuyến đi sẽ bị đánh giá là đi mà không biết mang cái gì về.
Thói quen đi đâu cũng phải có quà đem về còn vô tình biến du lịch, vốn là để nghỉ ngơi, trải nghiệm thành một chuỗi nhiệm vụ. Đi chơi nhưng trong đầu luôn có một checklist: Mua gì cho nhà nội, mua gì cho nhà ngoại, mua gì cho đồng nghiệp. Kết quả là thay vì tận hưởng trọn vẹn, ta dành thời gian để lo nghĩ vì những điều đó.
Sau lần đó, tôi tự đặt ra một nguyên tắc khi đi xa: Chỉ mua khi thật sự muốn mua, và món quà phải có ý nghĩa với cả người cho lẫn người nhận. Nếu không, tôi chọn không mua gì cả.