Theo phó giáo sư Greeni Maheshwari, ngành quản trị, Đại học RMIT Việt Nam, các đối tượng lừa đảo đang đẩy mạnh sử dụng email do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, tạo danh tính doanh nghiệp giả mạo, thậm chí sao chép giọng nói hoặc video của lãnh đạo doanh nghiệp nhằm tạo độ tin cậy và thao túng niềm tin.
Theo ghi nhận của chuyên gia RMIT, nhiều vụ việc gần đây trên thế giới cho thấy các hình thức lừa đảo liên tục biến đổi. Tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), các đối tượng đã mạo danh doanh nghiệp hợp pháp bằng cách sử dụng giấy phép kinh doanh và địa chỉ thật, sau đó chuyển hướng thanh toán vào các tài khoản ngân hàng hoặc nền tảng ký quỹ giả trước khi biến mất sau khi nhận tiền.
Một thủ đoạn khác được gọi là “giao hàng rồi để hỏng tại cảng” (deliver-and-rot-at-port). Theo đó, hàng hóa dễ hư hỏng bị cố tình trì hoãn thông quan cho đến khi mất giá trị, khiến doanh nghiệp xuất khẩu chịu thiệt hại nặng nề.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã trở thành nạn nhân của các chiêu trò tương tự.
Năm 2025, một doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu ghi nhận thiệt hại khoảng 600.000 USD khi đối tác sử dụng nhiều pháp nhân trung gian để tạo dựng uy tín, sau đó trì hoãn thanh toán và cung cấp chứng từ chuyển tiền giả nhằm kéo dài thời gian, ép doanh nghiệp Việt phải giảm giá.
Theo bà Maheshwari, số hóa khiến các hành vi gian lận diễn ra nhanh hơn, mở rộng quy mô dễ dàng hơn và khó bị phát hiện hơn nhiều.
Doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn dễ bị tổn thương do phụ thuộc lớn vào đàm phán qua email (thư điện tử), tài liệu điện tử và các giao dịch từ xa. Điều này tạo điều kiện cho các hình thức lừa đảo như email giả mạo do AI tạo ra, giả mạo tên miền hoặc xâm nhập các kênh liên lạc.
“Các đối tượng lừa đảo giờ đây có thể sao chép danh tính nhà cung cấp gần như hoàn hảo, khiến nhiều dấu hiệu cảnh báo truyền thống mà doanh nghiệp từng dựa vào không còn hiệu quả”, bà nói.
Phó giáo sư Maheshwari nhận định doanh nghiệp Việt cần vượt ra khỏi các phương thức quản trị rủi ro truyền thống để ứng phó với các hình thức gian lận được hỗ trợ bởi công nghệ số.
“Các vụ lừa đảo ngày nay ngày càng dựa trên AI và dữ liệu. Đối tượng lừa đảo sử dụng danh tính số giả, website sao chép và thông tin bị rò rỉ để tạo ra những kịch bản rất thuyết phục, khiến các bước xác minh cơ bản không còn đủ nữa”, bà nói.
Bà khuyến nghị doanh nghiệp cần chú ý tới các dấu hiệu cảnh báo sớm như hồ sơ người mua không thể xác minh, hành vi đàm phán bất thường, tạo cảm giác cấp bách một cách bất thường, yêu cầu thanh toán đáng ngờ hoặc sự không nhất quán trong các loại giấy tờ.
Bà Maheshwari cũng nhấn mạnh vai trò của cơ quan quản lý trong việc bảo vệ doanh nghiệp trước các hình thức gian lận mới. Theo đó, cần đẩy mạnh hoạt động nâng cao nhận thức, hoàn thiện khung pháp lý cho thương mại xuyên biên giới và tăng cường hợp tác quốc tế trong giải quyết tranh chấp.
Bên cạnh đó, việc xây dựng các cơ sở dữ liệu đối tác đã được xác thực, thúc đẩy tiêu chuẩn xác minh số và cơ chế chia sẻ thông tin sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro. Các cơ quan chức năng cũng có thể ứng dụng AI để phát hiện giao dịch bất thường, tài liệu giả mạo và thiết lập các hệ thống cảnh báo sớm về gian lận.
Mục tiêu được đặt ra để TP phấn đấu và để mọi người cùng hướng về một định hướng rõ ràng. Lộ trình TP vạch ra, theo tôi là hợp lý. Kinh tế số chiếm khoảng 30% GRDP vào năm 2026, tăng lên 40% vào năm 2030 và khoảng 60% vào năm 2035.
Đó là một lộ trình đi lên ổn định, chắc chắn, chứ không phải một bước nhảy vọt. Có nhiều yếu tố khiến tôi lạc quan. TP sau khi mở rộng đã quy tụ một nền tảng sản xuất công nghệ cao và điện tử lớn hơn nhiều so với trước đây, qua đó củng cố phần lõi của nền kinh tế số.
Bên cạnh đó, nghị quyết đã hậu thuẫn mục tiêu này bằng cam kết thực chất: bố trí ít nhất 4 - 5% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Để biến mục tiêu thành hiện thực, theo tôi, trước hết cần mở rộng nguồn kỹ sư, chuyên gia dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI), đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn để thu hút nhân tài từ nước ngoài.
Tiếp đến là hạ tầng không chỉ giới hạn ở độ phủ 5G, mà TP đặt mục tiêu đạt 95%, mà còn là nguồn điện ổn định, xanh và có giá cạnh tranh, bởi giá điện là yếu tố ngày càng quyết định dòng vốn đầu tư chảy vào AI và trung tâm dữ liệu.
Hỗ trợ các ngành truyền thống như sản xuất, logistics, bán lẻ, tài chính... chuyển đổi số, bởi đây là nơi tạo ra phần lớn giá trị cho nền kinh tế. Và cuối cùng là tốc độ thực thi: sớm đưa Luật Đô thị đặc biệt và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) vào cuộc sống. Làm tốt những điều này thì mức độ khả thi sẽ tự nâng cao.
Về những biện pháp ưu tiên, tôi nghĩ nên xem các công cụ này như một chuỗi tuần tự, thay vì phải chọn một trong số đó. Nền tảng là nhân lực và hạ tầng - kỹ sư, hạ tầng kết nối, năng lực trung tâm dữ liệu và nguồn điện. Thiếu những yếu tố này, các công cụ khác sẽ khó phát huy tác dụng.
Công cụ chính sách có sức lan tỏa lớn nhất là cơ chế sandbox. Với những mô hình kinh doanh số thực sự mới, rào cản lớn nhất là sự rõ ràng về pháp lý, chứ không phải vốn. Vì vậy, một cơ chế sandbox được thiết kế tốt sẽ khơi thông nguồn vốn tư nhân rất lớn với chi phí công rất thấp.
Song hành với đó, TP có thể sử dụng các ưu đãi thuế có mục tiêu, vốn hiệu quả nhất khi gắn với những kết quả cụ thể như nghiên cứu và phát triển (R&D), các công việc có hàm lượng giá trị cao, hoặc thúc đẩy sở hữu trí tuệ trên địa bàn TP.
Trong khi đó, hình thức quỹ hỗ trợ vốn sẽ phát huy giá trị lớn nhất ở những phân khúc chưa nhận được nhiều đầu tư như hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số, hoặc hỗ trợ các dự án deep-tech ở giai đoạn đầu.
Có hai cơ chế nữa cũng quan trọng không kém. Thứ nhất, một hành lang pháp lý rõ ràng quy định dữ liệu như một loại tài sản - cho phép hình thành các sàn giao dịch dữ liệu và những quy định hợp lý về luồng dữ liệu xuyên biên giới. Đây chính là xương sống của bất kỳ nền kinh tế dữ liệu thực thụ nào.
Thứ hai, Nhà nước đóng vai trò khách hàng chủ lực thông qua mua sắm công, tạo nguồn cầu ổn định cho các doanh nghiệp số và AI trong nước. Và việc cấp phép nhanh, theo cơ chế một cửa, bản thân nó đã là một ưu đãi mạnh mẽ và rất hiệu quả về chi phí.
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán. Dự thảo này bổ sung nhiều quy định mới nhằm tăng bảo mật, minh bạch và chống các hành vi thao túng.
Theo dự thảo, có 6 hình thức xác thực giao dịch điện tử như mã khóa bí mật dùng một lần (OTP), chữ ký số, khớp đúng thông tin sinh trắc học, xác thực hai kênh... Trong đó, thông tin sinh trắc học của khách hàng phải được đối chiếu với dữ liệu sinh trắc học lưu trong chip của căn cước công dân, tài khoản VNeID hoặc trong cơ sở dữ liệu của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán trực tuyến.
Để mua bán chứng khoán trực tuyến, nhà đầu tư phải xác thực khớp đúng thông tin sinh trắc học khuôn mặt. Tần suất thực hiện ít nhất một lần tại giao dịch đầu tiên của mỗi phiên đăng nhập. Nếu nhà đầu tư liên tiếp xác thực sai (tối đa 10 lần), tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán khóa chức năng và chỉ mở lại sau khi kiểm tra, nhận biết khách hàng.
Tổ chức cung cấp dịch vụ phải có biện pháp kỹ thuật để việc xác thực và mua bán chứng khoán được thực hiện trên cùng một thiết bị. Điều này nhằm hạn chế hành vi gian lận, tăng khả năng kiểm soát người giao dịch và người sở hữu tài khoản là một.
Xác thực sinh trắc học khuôn mặt cũng được yêu cầu đối với giao dịch mở, đóng tài khoản chứng khoán và rút, chuyển tiền trên 10 triệu đồng. Theo dự thảo, quy định này tương tự ngân hàng đang thực hiện, nhằm bảo vệ an toàn cho tài sản của khách hàng.
Thực tế hiện nay nhiều công ty chứng khoán và quản lý quỹ đã định danh, xác minh khách hàng trực tuyến (eKYC) bằng thông tin sinh trắc học khi mở tài khoản. Đối với giao dịch trực tuyến, tùy đặc điểm và mức độ rủi ro của từng giao dịch, họ xác thực bằng OTP hoặc sinh trắc học. Tuy nhiên, do chưa có quy định bắt buộc, việc này đang được các tổ chức triển khai trên tinh thần tự nguyện.
Theo Bộ Tài chính, việc thị trường chứng khoán được FTSE Russell nâng hạng lên mới nổi thứ cấp từ tháng 9/2026 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có quy định pháp luật về giao dịch điện tử theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế. Quy định mới dự kiến có hiệu lực từ tháng 8 năm nay. Quy định này bảo đảm khả năng tiếp cận thị trường thuận lợi, minh bạch cho nhà đầu tư nước ngoài và tăng tính ổn định, khả năng chống chịu rủi ro của hệ thống giao dịch trực tuyến.
Việt Nam hiện có hơn 12,9 triệu tài khoản chứng khoán. Cá nhân trong nước chiếm áp đảo với 12,83 triệu, còn lại số ít của tổ chức trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.