Bác sĩ Ngô Quỳnh Trang, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay việc nhịn ăn không giúp “bỏ đói” tế bào ung thư mà ngược lại có thể khiến cơ thể suy kiệt nhanh hơn, làm giảm khả năng đáp ứng với điều trị.
Bác sĩ Trang nhấn mạnh đây là một trong những quan niệm phổ biến nhất ở người bệnh ung thư.
Nhiều người cho rằng cắt giảm tinh bột, ăn rất ít hoặc thậm chí nhịn ăn sẽ khiến tế bào ung thư không có nguồn dinh dưỡng để phát triển. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy.
Các chuyên gia cho biết khối u không chỉ sử dụng năng lượng từ đường hay tinh bột mà còn có thể lấy năng lượng từ đạm và mỡ do chính cơ thể người bệnh phân hủy.
Khi giảm ăn kéo dài, cơ thể sẽ mất cơ, sụt cân nhanh, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch và giảm khả năng chịu đựng các phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, kéo dài thời gian nằm viện và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư.
Mục tiêu dinh dưỡng trong điều trị ung thư không phải là “bỏ đói khối u” mà là cung cấp đủ năng lượng để cơ thể có sức chống chọi với bệnh tật và đáp ứng điều trị hiệu quả.
Không ít người bệnh loại bỏ hoàn toàn thịt bò, thịt lợn hoặc thịt dê khỏi thực đơn vì lo ngại những thực phẩm này làm khối u phát triển nhanh hơn.
Tuy nhiên, thịt đỏ là nguồn cung cấp protein chất lượng cao cùng nhiều vi chất quan trọng như sắt, vitamin B12 và kẽm. Đây đều là những dưỡng chất cần thiết cho quá trình tạo máu, duy trì khối cơ, tăng cường miễn dịch và phục hồi sau điều trị.
Nếu kiêng tuyệt đối trong thời gian dài, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ thiếu đạm, thiếu máu, sụt cân, mệt mỏi và giảm khả năng đáp ứng với các phương pháp điều trị.
“Theo các khuyến cáo quốc tế, việc hạn chế tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ và đặc biệt là thịt chế biến sẵn nhằm giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư, nhất là ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc người đã mắc ung thư phải loại bỏ hoàn toàn thịt đỏ khỏi khẩu phần ăn.
Các chuyên gia khuyến nghị người bệnh nên sử dụng thịt đỏ ở mức hợp lý, ưu tiên thịt tươi và các phương pháp chế biến lành mạnh như luộc, hấp hoặc hầm. Đồng thời cần kết hợp đa dạng nguồn đạm từ cá, thịt gia cầm, trứng, sữa, đậu đỗ và các loại hạt”, bác sĩ Trang khuyến cáo.
Nhiều người còn cho rằng “đường nuôi tế bào ung thư” nên cắt hoàn toàn cơm, cháo, trái cây hoặc các thực phẩm chứa tinh bột với hy vọng làm chậm sự phát triển của khối u.
Tuy nhiên theo bác sĩ Trang, glucose là nguồn năng lượng thiết yếu cho mọi tế bào trong cơ thể, bao gồm cả các tế bào khỏe mạnh. Não, hồng cầu và nhiều cơ quan quan trọng đều cần glucose để hoạt động bình thường.
Khi cắt giảm quá mức tinh bột và đường, cơ thể dễ rơi vào tình trạng thiếu năng lượng, sụt cân, mất cơ, giảm miễn dịch và suy giảm thể trạng. Trong khi đó, tế bào ung thư vẫn có thể sử dụng năng lượng từ các nguồn khác do cơ thể tự phân hủy.
Đặc biệt, đối với người đang hóa trị hoặc xạ trị, thiếu năng lượng kéo dài có thể làm chậm quá trình hồi phục, tăng nguy cơ biến chứng và ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Các chuyên gia khuyến cáo người bệnh vẫn cần sử dụng carbohydrate với lượng phù hợp, ưu tiên các nguồn tinh bột lành mạnh như cơm, khoai củ, yến mạch, ngũ cốc nguyên hạt, sữa và trái cây. Trong khi đó, nên hạn chế nước ngọt, bánh kẹo nhiều đường và các thực phẩm siêu chế biến.
Dinh dưỡng là một phần quan trọng trong điều trị ung thư. Một chế độ ăn cân đối, đa dạng và phù hợp với tình trạng bệnh không chỉ giúp duy trì thể trạng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Người bệnh không nên tự áp dụng các chế độ ăn kiêng cực đoan hoặc loại bỏ hoàn toàn một nhóm thực phẩm khi chưa có chỉ định từ bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng. Khi có nhu cầu điều chỉnh chế độ ăn, người bệnh nên được tư vấn cá thể hóa để bảo đảm vừa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng vừa phù hợp với quá trình điều trị.
Th.S Nguyễn Ngọc Tuấn, Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và tái tạo, Bệnh viện Đại học Y dược - cơ sở Linh Đàm (Hà Nội), cho biết thực tế điều trị các bác sĩ đã ghi nhận các ca bệnh nhập viện do bị người khác cắn. Tổn thương do người cắn thường gặp nhất trong các vụ bạo lực là mất tai, mất môi hoặc một phần mũi.
Mới đây nhất, người đàn ông 45 tuổi ở Bắc Ninh vào cấp cứu do bị người thân cắn đứt rời môi trên, khuyết toàn bộ phần mềm môi trên. Mảnh môi bị đứt rời và thất lạc, nên các bác sĩ đã phải thực hiện phẫu thuật tạo hình môi mới cho bệnh nhân. Đây là phẫu thuật phức tạp và cần nhiều thời gian "hoàn thiện".
"Vết thương do người cắn là một dạng tổn thương rất đặc biệt", Th.S Nguyễn Ngọc Tuấn nói và cho hay cơ chế tổn thương khác các vết thương thông thường, không chỉ là rách da mà còn có lực nghiền, xé và đâm xuyên do răng dẫn đến dễ làm dập nát mô, tổn thương sâu.
Bác sĩ Tuấn lưu ý thêm, trong các vụ xô xát, ẩu đả, bạo lực, có dạng vết thương rất điển hình khác là "clenched fist injury" (chấn thương do đấm vào răng người khác). Trường hợp này vết thương bên ngoài nhỏ nhưng tổn thương sâu vào khớp bàn tay. Vết thương này có nguy cơ nhiễm trùng cao, dễ bị bỏ sót do biểu hiện ban đầu kín đáo, khiến người có vết thương đến cơ sở y tế muộn, do đó cách xử trí cũng cần thận trọng.
Đáng lưu ý, theo bác sĩ Tuấn, vết thương do người cắn là vết thương bẩn tương đương vết thương do súc vật cắn, vì trong khoang miệng người chứa hệ vi khuẩn rất phức tạp, nhiều hơn cả một số loài động vật. Trung bình có hàng trăm loài vi khuẩn: hiếu khí và kỵ khí, trong đó, có một số vi khuẩn điển hình: Streptococcus, Staphylococcus aureus, Eikenella corrodens (rất đặc trưng trong vết cắn người), vi khuẩn kỵ khí như Fusobacterium, Prevotella…
Khi cắn, các vi khuẩn này được "tiêm" trực tiếp vào mô sâu, là nguy cơ nhiễm trùng cao (10 - 50%), thậm chí gây viêm mô tế bào, áp xe, rất nguy hiểm cho nạn nhân.
"Nếu chẳng may gặp tai nạn này, việc quan trọng nhất là tìm lại các mảnh đã bị cắt (mảnh môi, tai bị cắn rời), bảo quản đúng cách để tăng cơ hội nối lại thành công. Bệnh nhân cần được đưa đến các cơ sở có chuyên khoa phẫu thuật tạo hình càng sớm càng tốt để được xử lý đúng quy trình chuyên môn", bác sĩ Tuấn hướng dẫn.
Purin là hợp chất tự nhiên có trong hầu hết các loại thực phẩm, bao gồm cả cá. Khi cơ thể phân hủy purin, a xít uric sẽ được tạo ra. Ở người khỏe mạnh, a xít uric được thận đào thải ra ngoài, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Tuy nhiên, với người có bệnh gout, cơ thể tạo quá nhiều a xít uric hoặc đào thải không hiệu quả, dẫn đến tăng a xít uric trong máu. Khi đó, các tinh thể urat sẽ lắng đọng trong khớp, gây ra những cơn đau, sưng và viêm đặc trưng của bệnh.
Không phải loại cá nào cũng chứa lượng purin giống nhau. Một số loại có hàm lượng purin thấp nên người bị gout vẫn có thể ăn. Ngược lại, một số loại cá và hải sản chứa rất nhiều purin thì cần hạn chế.
Bác sĩ Chio Yokose, chuyên gia thấp khớp tại trường Yale School of Medicine (Mỹ), cho biết người mắc gout vẫn có thể đạt được nhiều lợi ích sức khỏe nhờ ăn cá. Tuy nhiên, họ cần chọn một số loại phù hợp, ăn với lượng vừa phải và kiểm soát tốt tình trạng tăng a xít uric trong máu.
Người bị gout nên ưu tiên các loại cá trắng có hàm lượng purin thấp hoặc trung bình như cá tuyết, cá bơn, cá rô phi, cá chẽm, cá chép và cá trắm. Đây đều là những loại cá giàu protein, vitamin nhóm B và nhiều khoáng chất thiết yếu nhưng không chứa quá nhiều purin.
Nếu người bệnh kiểm soát tốt nồng độ a xít uric trong máu thì hoàn toàn có thể ăn những loại cá này. Khi chế biến, nên ưu tiên các cách như hấp, luộc hoặc nướng thay vì chiên ngập dầu. Những cách chế biến này sẽ giúp giảm lượng dầu mỡ không cần thiết.
Ngoài ra, luộc có thể làm giảm một phần purin trong cá. Điều này là do purin tan vào nước luộc. Vì vậy, nếu cần hạn chế purin tối đa, người bệnh không nên uống phần nước luộc cá.
Cá hồi, cá ngừ và một số loại cá béo khác đều chứa purin, nhưng hàm lượng lại khác nhau tùy từng loài. Trong đó, cá hồi thường có hàm lượng purin ở mức trung bình. Cá ngừ có thể ở mức trung bình đến khá cao.
Tuy nhiên, những loại cá này đều rất giàu a xít béo omega-3. Đây là dưỡng chất có lợi cho tim mạch và chống viêm. Do đó, các hướng dẫn dinh dưỡng hiện nay không khuyến cáo cần phải bỏ hoàn toàn các loại cá này khỏi chế độ ăn của người bị gout. Thay vào đó, người bệnh nên ăn với khẩu phần hợp lý và không ăn thường xuyên, đặc biệt là cá ngừ, theo Eating Well.
Con số nhai đúng 32 lần bắt nguồn từ việc người trưởng thành thường có 32 chiếc răng. Tuy nhiên, khoa học không xem đây là quy tắc bắt buộc, theo trang sức khỏe OnlyMyHealth (Ấn Độ).
Bà Brunda M.S., bác sĩ Bệnh viện Aster CMI (Ấn Độ), cho biết nhai kỹ là bước quan trọng giúp hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả.
Khi thức ăn được nghiền nhỏ, cơ thể sẽ dễ nuốt hơn. Đồng thời, enzyme amylase trong nước bọt cũng bắt đầu phân giải carbohydrate ngay từ trong miệng trước khi thức ăn xuống dạ dày.
Theo bà Brunda M.S., không có quy định khoa học yêu cầu mỗi miếng thức ăn phải được nhai đúng 32 lần. Số lần nhai phù hợp còn phụ thuộc vào từng loại thực phẩm.
Theo đó, thức ăn mềm cần ít lần nhai hơn, còn thực phẩm cứng hoặc dai cần nhai lâu hơn để đủ mềm trước khi nuốt.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Scientific Reports vào năm 2021 cho thấy nhai kỹ giúp cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng hơn sau bữa ăn.
Nghiên cứu cũng khẳng định việc ăn chậm và nhai có ý thức góp phần thúc đẩy quá trình trao đổi chất, đồng thời hỗ trợ phòng ngừa béo phì.
Theo bà Brunda M.S., ăn chậm và nhai kỹ giúp cải thiện tiêu hóa, giảm nguy cơ hóc nghẹn, hạn chế đầy hơi và khó tiêu. Thói quen này còn giúp cơ thể hấp thu dưỡng chất tốt hơn.
Nhai kỹ cũng tạo điều kiện để não nhận tín hiệu no từ dạ dày kịp thời. Nhờ đó, cơ thể dễ kiểm soát lượng thức ăn nạp vào và hỗ trợ duy trì cân nặng hợp lý.
Ngược lại, nuốt những miếng thức ăn quá lớn hoặc ăn quá nhanh khiến hệ tiêu hóa phải làm việc nhiều hơn. Điều này dễ gây khó chịu, nhất là ở người bị trào ngược axit, khó tiêu hoặc gặp các vấn đề tiêu hóa.
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Physiology & Behavior vào năm 2015 cũng xác nhận nhai lâu hơn giúp giảm cảm giác đói và giảm lượng thức ăn tiêu thụ.
Nghiên cứu này không đưa ra số lần nhai cụ thể, nhưng khẳng định việc nhai kỹ kích thích cơ thể tiết các hormone tạo cảm giác no, từ đó hỗ trợ kiểm soát cân nặng.
Bà Brunda M.S. khuyên nên tập trung vào việc ăn chậm thay vì đếm số lần nhai. Mỗi lần chỉ nên ăn một miếng nhỏ và nhai đến khi thức ăn mềm, dễ nuốt.
Bên cạnh đó, cần tránh nói chuyện khi đang nhai, đặt thìa hoặc nĩa xuống giữa các lần ăn và hạn chế sử dụng điện thoại hoặc xem tivi trong bữa ăn để tập trung thưởng thức thức ăn.
Theo bà Brunda M.S., những thói quen đơn giản này mang lại nhiều lợi ích hơn việc cố gắng nhai đúng một số lần cố định. Nếu vẫn thường xuyên khó nuốt, dễ bị nghẹn, đầy hơi hoặc rối loạn tiêu hóa dù đã ăn chậm, người bệnh nên đến cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và điều trị phù hợp.