Đầu tuần này, CEO Airbus Guillaume Faury cho biết nhà sản xuất máy bay châu Âu đặt mục tiêu khởi động chương trình phát triển máy bay thân hẹp thế hệ mới vào năm 2030 và đưa vào khai thác trong nửa cuối thập niên đó.
“Chúng tôi đang dẫn đầu phân khúc máy bay thân hẹp và muốn duy trì vị thế đó”, ông nói tại triển lãm hàng không quốc tế Farnborough ở Anh, hôm 20/7.
Theo ông Faury, Airbus đang ưu tiên tăng sản lượng để bàn giao đơn hàng, song song việc chuẩn bị cho thế hệ máy bay thương mại tiếp theo. “Đây là ngành có tầm nhìn dài hạn”, ông bình luận. Theo giới quan sát, quyết định quan trọng nhất sắp tới của Airbus là khi nào hãng thay thế dòng A320neo và loại động cơ sẽ sử dụng.
Một số nguồn tin cho rằng Airbus cần hai năm để thử nghiệm động cơ cánh quạt hở RISE của CFM – công nghệ được kỳ vọng trang bị cho thế hệ kế nhiệm dòng A320 và Boeing 737. Hãng từng lên kế hoạch thử nghiệm ban đầu từ 2027, nhưng đã lùi sang 2029. Điều này đồng nghĩa chương trình máy bay mới khó khởi động trước 2031.
Cùng thời điểm, CEO Boeing Kelly Ortberg hé lộ khung thời gian ra mắt máy bay thân hẹp thế hệ mới tương tự Airbus, nhưng để ngỏ khả năng trì hoãn nếu công nghệ hoặc điều kiện thị trường chưa chín muồi.
Ông Ortberg cho biết hãng sẽ cân nhắc ba yếu tố, gồm sự sẵn sàng của công nghệ, thị trường và nền tảng tài chính. “Bản thân Boeing phải củng cố nền tảng tài chính. Chúng tôi đang làm và cần thêm vài năm nữa để đạt được”, ông nói.
Ngoài ra, chuẩn bị công nghệ cũng cần thời gian, từ khởi động chương trình phát triển sản phẩm, xây dựng hệ thống sản xuất, hoàn tất chứng nhận để đưa máy bay vào khai thác rồi mới tăng dần sản lượng, theo CEO Boeing.
Chuyên gia cho rằng cả Airbus và Boeing lên kế hoạch nhưng chưa vội vã thay thế hai dòng thân hẹp A320 và 737 đang mang lại lợi nhuận lớn. Boeing còn chịu gánh nặng nợ vay và Airbus được hưởng lợi nhờ doanh số bùng nổ.
CEO Boeing cho biết khách hàng cũng tập trung vào các dòng máy bay hiện có. “Chúng tôi muốn thấy các sản phẩm hiện tại vận hành ổn định và hoàn thiện hơn trước khi chuyển sang một mẫu máy bay mới”, ông nói.
Phân khúc máy bay thương mại thân hẹp là thị trường lớn nhất của ngành hàng không, hiện dẫn dắt bởi dòng 737 Max của Boeing và A320neo thuộc Airbus. Cuộc cạnh tranh phân khúc này đã kéo dài 40 năm, khởi đầu với chương trình chiếc A320 được Airbus ra mắt năm 1984, khi hãng gặp khó với hai dòng thân rộng trước đó.
Dòng máy bay A320 được khởi xướng bởi đồng sáng lập Airbus Roger Beteille và ban đầu gặp nhiều tranh luận nội bộ. Nhóm ủng hộ, gồm Pháp, muốn đáp ứng nhu cầu các hãng hàng không Mỹ với dòng máy bay chỉ khoảng 150 ghế. Nhóm còn lại được hậu thuẫn bởi Lufthansa, đề cao máy bay thân rộng.
Với A320, các kỹ sư Airbus Toulouse (Pháp) lần đầu áp dụng hệ thống điều khiển điện tử (fly-by-wire) cho một mẫu máy bay thương mại phổ thông. Công nghệ ban đầu cũng vấp phải phản đối từ công đoàn phi công và một số hãng bay, nhưng sau đó trở thành tiêu chuẩn toàn ngành.
Năm 1987, máy bay thân hẹp của Airbus thực hiện chuyến bay đầu tiên và chính thức đưa vào khai thác một năm sau đó. “Đây là dòng máy bay thương mại đầu tiên ngoài nước Mỹ thực sự thành công. Nó buộc các đối thủ phải phát triển những sản phẩm cạnh tranh”, ông Max Kingsley-Jones, Giám đốc tư vấn của Cirium nhận xét.
5 năm sau, Airbus giành được đơn đặt hàng từ United Airlines, buộc Boeing đáp trả bằng dòng 737 Next Generation (737NG). Tại triển lãm hàng không Paris vào tháng 6/2011, Airbus nhận hơn 1.000 đơn đặt hàng cho dòng A320neo và A321neo.
Một tháng sau sự kiện, American Airlines đặt mua 260 chiếc A320, trong đó một nửa là phiên bản neo. Khi biết Airbus sắp chốt được hợp đồng, Jim McNerney – cựu CEO Boeing hủy kế hoạch phát triển một mẫu máy bay hoàn toàn mới thay thế 737 để chuyển sang phương án ít rủi ro hơn, là thay động cơ cho dòng 737 hiện hữu, tạo ra 737 Max.
Dù đạt doanh số cao, dòng 737 Max đã đẩy Boeing vào khủng hoảng sau hai vụ tai nạn năm 2018 và 2019. Còn dòng A320 của Airbus cũng từng đối mặt với những lo ngại về an toàn sau hai vụ tai nạn trong giai đoạn đầu khai thác. Song, nhìn chung nhu cầu với máy bay thân hẹp A320 và 737 mở rộng theo thời gian, khi tăng trưởng kinh tế, đặc biệt tại châu Á, giúp hàng chục triệu người thuộc tầng lớp trung lưu lần đầu được bay.
Tính đến 2025, Boeing và Airbus đã bàn giao hơn 25.000 chiếc thuộc hai dòng máy bay này. Vốn là nhà sản xuất lớn nhất thế giới tính theo số lượng bàn giao hàng năm, năm ngoái cũng là thời điểm Airbus giành vị trí dẫn đầu về tổng số máy bay thân hẹp đã bàn giao. Sự kiện này khép lại hơn 40 năm cạnh tranh xuyên Đại Tây Dương với Boeing.
Tháng 10/2025, Airbus phá kỷ lục hàng chục năm của Boeing về mẫu máy bay thương mại bàn giao nhiều nhất, với sản lượng A320neo đạt 12.260 chiếc từ khi đi vào khai thác, theo công ty phân tích hàng không Cirium (Anh).
“Boeing gần như không thể bắt kịp dòng A320 hiện nay nếu xét theo kế hoạch sản xuất của hai hãng. Tuy nhiên, cột mốc này có thể càng củng cố quyết tâm của nhà sản xuất máy bay Mỹ trong việc tính đến một chương trình kế nhiệm dòng 737 khi các điều kiện phù hợp”, chuyên gia hàng không Rob Morris, cựu quản lý tại Cirium nhận định.
Tuy nhiên, trước khi cạnh tranh thế hệ máy bay thân hẹp mới, Boeing và Airbus vẫn phải ưu tiên hoàn thành bàn giao các đơn hàng hiện tại.
Nhóm phân tích của RBC Capital Markets cho biết, giới đầu tư quan tâm tới khả năng Boeing tăng sản lượng 737 Max, hoàn tất chứng nhận cho Max 7 và Max 10, cải thiện biên lợi nhuận và tạo dòng tiền. “Trọng tâm lớn nhất của nhà đầu tư vẫn là tình trạng chuỗi cung ứng và tiến độ bàn giao”, nhóm phân tích nêu.
Điều tương tự cũng diễn ra với Airbus. Nhà đầu tư muốn thấy lộ trình rõ ràng hơn để Airbus đạt mục tiêu sản xuất A320 và A350, sau khi số lượng máy bay bàn giao trong quý II vượt kỳ vọng. Theo Jefferies, tăng trưởng số máy bay bàn giao trong quý trước gần như hoàn toàn đến từ dòng A320.
Airbus hiện còn tồn đơn hàng hơn 9.000 máy bay, trong khi nhu cầu vẫn vượt xa năng lực cung ứng. Riêng tháng 6, hãng nhận thêm 51 đơn đặt mua A320neo. Với Boeing, mẫu Max 10 đã nhận 1.533 đơn đặt hàng, tương đương khoảng một phần ba tổng lượng đơn hàng tồn của dòng 737.
Trong khi đó, quá trình Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) chứng nhận 737 Max 7 dự kiến hoàn tất “trong thời gian rất ngắn tới đây”, theo ông Ortberg. Boeing cũng đầu tư khoảng một tỷ USD xây dựng dây chuyền sản xuất 737 Max thứ tư tại Everett, bang Washington.
Chiều 23-6, Báo Lao Động tổ chức hội thảo "Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh - động lực cho tăng trưởng kinh tế".
Phát biểu tại sự kiện, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước - cho biết hiện có 82 tổ chức tín dụng triển khai cho vay tín dụng xanh, với dư nợ đạt hơn 828.000 tỉ đồng, tăng 4,6 lần so với năm 2017 - thời điểm bắt đầu triển khai.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh bình quân đạt trên 20% mỗi năm.
Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm khoảng 32% tổng dư nợ tín dụng xanh. Lĩnh vực năng lượng xanh chiếm trên 30%.
Tuy nhiên, theo bà Giang, việc triển khai tín dụng xanh còn gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi xanh là rất lớn, trong khi khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng còn hạn chế do chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn.
Để thúc đẩy dòng vốn này trở thành động lực tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chính sách hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước.
Chính sách dự kiến áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn.
Việc triển khai sẽ được thực hiện sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hướng dẫn về tiêu chí xác định dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Bùi Thanh Minh - Phó giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, dù tín dụng xanh tăng trưởng nhanh, bình quân trên 20% mỗi năm, nhưng tỉ trọng của dòng vốn này trong tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế mới đạt khoảng 4,2 - 4,5%.
Ông Minh cho rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín dụng xanh. Để đủ điều kiện vay, doanh nghiệp phải chuẩn hóa quy trình, xây dựng dữ liệu và thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng đáp ứng các tiêu chí xanh.
"Phần lớn các khoản tín dụng xanh hiện vẫn tập trung vào các dự án quy mô lớn và các tập đoàn", ông Minh nói.
Cùng quan điểm, ông Bùi Khánh Dũng - Giám đốc Công ty TNHH MTV Musa Pacta - cho rằng dòng tín dụng xanh còn khá xa vời với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để tiếp cận tín dụng xanh, theo ông Dũng, doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực tư nhân cần có bộ tiêu chí xanh rõ ràng. Qua đó, doanh nghiệp có thể tự xác định đang ở đâu và cần đáp ứng những điều kiện gì.
Ông Minh đề xuất cần có cơ chế hỗ trợ thực chất để doanh nghiệp nhỏ tham gia chuyển đổi xanh. Trong đó, chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cần sớm được ban hành và triển khai, giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn trong quá trình đầu tư, chuyển đổi mô hình sản xuất - kinh doanh theo hướng xanh, bền vững.
NFT (token không thể thay thế) đang tăng giá gần đây. Với những ai chỉ nhìn vào giá, thị trường có vẻ đang bùng nổ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào mức độ hoạt động tổng thể, câu chuyện lại khác.
Dẫn dắt đợt tăng này là các bộ sưu tập như Bored Ape Yacht Club (BAYC) và Pudgy Penguins. Giá sàn của chúng - tức mức giá thấp nhất để mua một NFT trong bộ sưu tập - đã tăng hai chữ số trong vài tuần gần đây và token liên quan cũng ghi nhận mức tăng tương tự. Dù vậy, sự phục hồi này diễn ra với số lượng người mua ít hơn đáng kể.
Giá sàn của Pudgy Penguins đã vượt 5 Ether (ETH), tăng hơn 20% trong tuần, với 201 giao dịch và gần 1.000 ETH khối lượng trong 7 ngày qua, hỗ trợ đà tăng. Trong khi đó, giá sàn của BAYC tăng 81% trong 30 ngày, phục hồi mạnh từ mức thấp trước đó.
Giá sàn là một chỉ số quan trọng. Trong một bộ sưu tập NFT, đây là mức giá thấp nhất của một NFT đang được rao bán. Ví dụ, nếu con Pudgy Penguin rẻ nhất đang được niêm yết ở mức 5,38 ETH, đó chính là giá sàn của cả bộ. Khi giá sàn tăng, điều đó thường cho thấy người mua sẵn sàng trả giá cao hơn để tham gia. Ngược lại, khi giá sàn giảm, thường là dấu hiệu cho thấy người nắm giữ đang bán tháo.
Tuy nhiên, đằng sau các con số tăng giá, cấu trúc thị trường lại chỉ ra một bức tranh khác: mức độ tham gia đang thu hẹp. Theo CryptoSlam, tổng doanh số NFT toàn cầu giảm xuống khoảng 175 triệu USD trong tháng 4, sụt mạnh so với mức 304 triệu USD vào tháng 2. Đồng thời, số lượng giao dịch và số người dùng hoạt động đều giảm gần một nửa.
Ngược lại, giá trị trung bình mỗi giao dịch lại tăng mạnh, hơn gấp đôi theo tháng, từ 30,6 USD trong tháng 3 lên 67,38 USD trong tháng 4. Hai dữ liệu này phản ánh cùng một hiện tượng: dòng tiền nhỏ hơn nhưng tập trung vào các giao dịch giá trị lớn, chủ yếu ở những bộ sưu tập "bluechip", thay vì nhu cầu quay trở lại một cách rộng rãi trên toàn thị trường.
Ngay cả trong nhóm bluechip, chất lượng nhu cầu cũng khác nhau. Pudgy Penguins vẫn có số lượng giao dịch cao đi kèm giá tăng, cho thấy hoạt động khá bền vững. Trong khi đó, các bộ như CryptoPunks có khối lượng giao dịch tương tự nhưng số giao dịch ít hơn nhiều, tức chỉ một vài giao dịch lớn đang kéo giá lên.
Các tín hiệu trên toàn thị trường vẫn khá lẫn lộn. Giao dịch wash trading - hành vi mua và bán cùng một tài sản bởi một cá nhân hoặc nhóm thông đồng - vẫn chiếm khoảng 50% tổng khối lượng, theo CryptoSlam. Tổng lợi nhuận giao dịch vẫn âm, cho thấy nhiều người tham gia vẫn đang thua lỗ dù giá đã phục hồi gần đây.
Những dữ kiện trên cho thấy thị trường đang có dấu hiệu ổn định nhưng chưa thực sự mở rộng. Giá tăng nhưng số người tham gia giảm và hoạt động tập trung vào một số ít bộ sưu tập.
Bên cạnh đó, Ether đã tăng khoảng 18% trong tháng qua và Bitcoin cũng tăng gần tương tự. Một phần của đợt tăng NFT thực chất phản ánh xu hướng chung của thị trường tài sản số, khi các tài sản rủi ro tăng giá, kéo theo các bộ sưu tập NFT định giá bằng ETH đi lên cùng.
Sau "cơn sốt" trong giai đoạn 2021-2022, thị trường NFT rơi vào trạng thái giảm nhiệt và tái cấu trúc, với thanh khoản và số người tham gia đều suy giảm. Dù giá ở một số bộ sưu tập lớn vẫn tăng, dòng tiền chủ yếu tập trung vào nhóm "bluechip" thay vì lan rộng. Điều này cho thấy thị trường vẫn tồn tại nhưng thu hẹp hơn, mang tính chọn lọc và ít còn là sân chơi đại chúng.
Theo CoinMarketCap, tổng doanh số bán hàng năm 2025 ghi nhận khoảng 5,63 tỷ USD, giảm 37% so với 8,9 tỷ USD năm 2024. Giá bán trung bình giảm xuống 96 USD từ 124 USD cùng kỳ, đánh dấu sự sụt giảm liên tục so với mức trung bình 400 USD được ghi nhận trong giai đoạn bùng nổ 2021-2022. Sự kết hợp giữa số lượng token tăng, tổng khối lượng bán hàng giảm và giá trung bình thu hẹp cho thấy lĩnh vực này đang hoạt động như một thị trường kém nhiệt.
Đây là khẳng định của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng tại phiên khai mạc “Tuần lễ Kinh tế - Tài chính - Công nghệ Đà Nẵng năm 2026” được tổ chức ngày 7/7.
Theo Phó Thủ tướng, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng được tổ chức trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tăng trưởng, hội nhập và phát triển bền vững.
Phó Thủ tướng cũng đánh giá cao sáng kiến của thành phố Đà Nẵng trong việc tổ chức sự kiện này. Đây không chỉ hoạt động xúc tiến đầu tư hay quảng bá hình ảnh địa phương, mà là một diễn đàn kết nối chính sách, tài chính, công nghệ, doanh nghiệp, học thuật và tri thức quốc tế.
Đây cũng là không gian để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà đầu tư và doanh nghiệp cùng trao đổi về những vấn đề phát triển rất mới, rất khó nhưng rất cần thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn tới.
Lãnh đạo Chính phủ cũng cho biết Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và tự chủ hơn.
“Mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới chỉ có thể đạt được nếu chúng ta tối ưu hóa các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời cần chuyển đổi mô hình để tạo ra các động lực mới về công nghệ mới, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tài chính hiện đại, thị trường vốn, nhân lực chất lượng cao và năng lực thực thi chính sách”, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng phát biểu.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ xác định cần hình thành những không gian phát triển mới, cơ chế thử nghiệm mới và cực tăng trưởng mới.
“Chúng ta cần những địa phương đủ năng động, đủ quyết tâm và đủ năng lực để đi đầu trong triển khai các mô hình mới, qua đó vừa tạo động lực cho chính địa phương, vừa đóng góp kinh nghiệm thực tiễn cho quá trình hoàn thiện thể chế và chính sách ở cấp quốc gia”, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh và khẳng định Đà Nẵng là một trong những địa phương có nhiều điều kiện để đảm nhiệm vai trò đó.
Theo Phó Thủ tướng, Đà Nẵng là thành phố có vị trí chiến lược ở miền Trung, với truyền thống năng động, hệ thống hạ tầng đang được đầu tư, nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao và khả năng kết nối quốc tế ngày càng mở rộng.
Đặc biệt với các định hướng mới về trung tâm tài chính quốc tế (IFC), khu thương mại tự do (FTZ), logistics, công nghệ cao, tài chính số, tài chính xanh, chuyển đổi mới sáng tạo và được mệnh danh là “thành phố đáng sống”, Đà Nẵng đang đứng trước cơ hội rất lớn để bứt phá.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng lưu ý cơ hội lớn luôn đi kèm yêu cầu thách thức lớn. Muốn trở thành một cực tăng trưởng mới, Đà Nẵng không chỉ cần tầm nhìn tốt mà cần năng lực thực thi tốt.
Phó Thủ tướng cũng cho rằng không chỉ cần dự án lớn mà phải có cơ chế vận hành hiệu quả. Không chỉ nhu cầu thu hút vốn lớn mà phải thu hút được dòng vốn chất lượng cao, công nghệ, tri thức, nhân tài và các đối tác có khả năng đồng hành lâu dài.
“Tôi mong muốn các hoạt động trong tuần lễ, đặc biệt là hội nghị đối thoại chính sách cấp cao sẽ không chỉ dừng lại ở trao đổi ý tưởng mà cần tạo ra những kết quả cụ thể, khuyến nghị chính sách có giá trị, sáng kiến hợp tác khả thi, kết nối đầu tư thực chất, gợi ý về sản phẩm tài chính, công nghệ, hạ tầng, nhân lực và mô hình tổ chức có thể triển khai trong thực tiễn”, Phó Thủ tướng nói.
Phó Thủ tướng cũng đề nghị các bộ, ngành Trung ương tiếp tục đồng hành với thành phố Đà Nẵng trong quá trình triển khai những cơ chế chính sách đặc thù, chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn vướng mắc về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, đầu tư, tài chính và nhân lực.
Bên cạnh đó là những vấn đề mới như IFC, FTZ, tài chính xanh, dữ liệu, đổi mới sáng tạo... đều cần cách tiếp cận mới, vừa khuyến khích đổi mới vừa kiểm soát rủi ro, vừa tạo ra không gian phát triển vừa bảo đảm ổn định, minh bạch và an toàn hệ thống.