Theo Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh Gia Lai, Công an xã Chư Sê đã bàn giao Y Phơu Byă và Y Đam Mdrang cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai để làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Khoảng 19h ngày 29/4, Công an xã Chư Sê nhận được tin báo của ông Hà Ngọc Kỳ (SN 1970, trú thôn Liên Hung, xã Đam Giông 2, tỉnh Lâm Đồng) về việc bị đối tượng Y Phơu Byă (SN 1981, trú Buôn Ja, xã Hòa Sơn, tỉnh Đắk Lắk) và Y Đam Mdrang (SN 1993, trú Buôn Eea Khit, xã Dray Bhăng, tỉnh Đắk Lắk) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thôn 7, xã Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
Trước đó, khoảng tháng 3/2026, qua bạn bè giới thiệu ông Mbon Ha Năm (SN 1971, trú thôn Đa Kao 2, xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng) gọi điện cho Y Phơu Byă để hỏi Byă có đá thiên thạch để bán không. Sau khi nghe ông Năm hỏi thì Byă trả lời có đá và hẹn ông Năm vài ngày sau đến xem đá.
Sau đó, Byă tìm hiểu trên mạng xã hội thì biết tác dụng của đá thiên thạch là làm vỡ kính và đông thủy ngân nên đã bàn bạc Mdrang làm giả đá thiên thạch mục đích lừa ông Năm mua để chiếm đoạt tiền.
Byă và Mdrang đã mua nguyên liệu làm giả đá thiên thạch, chuẩn bị 2 tấm gương (1 gương đã vỡ), 2 ống thủy ngân (1 ống thủy ngân đã đông) rồi hẹn ông Năm tại Đắk Lắk để thử nghiệm đá cho ông Năm chứng kiến. Ông Năm rủ ông Kỳ cùng đi xem Byă và Mdrang đặt đá thiên thạch giả lên tấm gương và ống thủy ngân sau đó yêu cầu ông Năm, ông Kỳ đứng ra cách 10m để quan sát một lúc. Lợi dụng lúc ông Kỳ và ông Năm không chú ý, Byă đã dùng 1 gương vỡ và 1 ống thủy ngân đã đông chuẩn bị trước đó đánh tráo kết quả, mục đích để ông Kỳ và ông Năm tin đá thiên thạch là thật. Sau đó ông Kỳ nghĩ đá thiên thạch là thật nên hỏi giá thì Byă nói giá bán là 400 triệu đồng, ông Kỳ đồng ý mua và hẹn về chuẩn bị tiền.
Đến ngày 29/4, sau khi ông Kỳ gom đủ tiền đã liên hệ với Byă để mua đá, Byă đưa đá thiên thạch giả cho ông Kỳ và nhận số tiền 400 triệu đồng. Sau khi nhận được tiền, Byă điều khiển xe bỏ đi, Mdrang lợi dụng lúc ông Kỳ, ông Năm không để ý để bỏ chạy nhưng bị bắt giữ lại.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

VKSND Tp.Hà Nội vừa hoàn tất cáo trạng truy tố Nguyễn Thị Biên (46 tuổi, ở xã An Khánh, Tp.Hà Nội) về tội Chứa mại dâm.
Hai con rể của Biên là Tô Văn Bôn (34 tuổi) và Trương Việt Anh (29 tuổi) cùng bị truy tố về tội Môi giới mại dâm. Ngoài ra, Đặng Thanh Tùng (25 tuổi) cũng bị truy tố về cùng tội danh. Liên quan vụ án, 3 bị can Đậu Quang Hữu, Lê Văn Tùng và Đỗ Minh Hiếu bị truy tố về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi.
Theo cáo trạng, năm 2016, Biên mở nhà nghỉ Hai Sao tại thôn Quyết Tiến, xã An Khánh. Đến khoảng tháng 8/2025, do kinh doanh vắng khách, Biên đồng ý cho khách sử dụng nhà nghỉ làm địa điểm mua bán dâm để tăng thu nhập.
Cơ quan tố tụng cáo buộc Biên không ghi sổ sách, không lưu thông tin lưu trú của những khách đến nhà nghỉ nhằm tránh sự kiểm tra, quản lý của lực lượng chức năng.
Trong thời gian này, hai con rể của Biên là Việt Anh, chủ quán karaoke Phố Đêm, và Bôn, chủ quán karaoke Hương Cảng, thường xuyên làm trung gian, giới thiệu khách tại quán karaoke đến nhà nghỉ Hai Sao.
Theo điều tra, Việt Anh còn tuyển nhân viên nữ cho quán karaoke, sau đó gợi ý họ đi bán dâm cho khách. Khi có khách đến hát, Đặng Thanh Tùng, quản lý quán karaoke Phố Đêm, sắp xếp nhân viên nữ phục vụ tại phòng hát.
Nếu khách có nhu cầu mua dâm, các bên tự thỏa thuận giá và di chuyển đến nhà nghỉ của Biên. Với cách thức tương tự, Bôn cũng bị cáo buộc môi giới cho khách tại quán karaoke của mình.
Ngày 20/9/2025, lực lượng công an kiểm tra hành chính nhà nghỉ Hai Sao, phát hiện vụ việc. Làm việc với cơ quan chức năng, Biên khai từ tháng 8 đến ngày 20/9/2025 đã thu lợi bất chính 30 triệu đồng từ việc cho khách mua bán dâm tại nhà nghỉ.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Pháp Luật
Các mắt xích trong đường dây ‘dùng người Việt lừa người Việt’ hoạt động ra sao?

Ngày 7-4, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phiên xét xử 117 bị cáo trong đường dây tội phạm lừa đảo xuyên biên giới từng bị các lực lượng chức năng triệt xóa vào tháng 8-2024. Dự kiến phiên tòa sẽ diễn ra trong 10 ngày (từ ngày 6 đến 16-4).
Theo cáo trạng, A Hào và Cận (là người Trung Quốc, không rõ thông tin, lai lịch) thuê hai căn phòng 304 và 403 tại tòa nhà cao tầng thuộc Đặc khu kinh tế Tam Giác Vàng (tỉnh Bò Kẹo, Lào) hoạt động như một công ty, sau đó tuyển dụng các nhân viên là người Việt Nam để vận hành đường dây lừa đảo trực tuyến thông qua mô hình đầu tư khách sạn "ảo" nhằm chiếm đoạt tài sản.
Các nhân viên khi vào đường dây này sẽ được phân công làm một trong số các nhiệm vụ như: nhân viên quản lý chung; nhân viên phiên dịch; nhân viên chăm sóc khách hàng (hậu đài); các tổ trưởng quản lý; hướng dẫn, đào tạo các nhân viên "sale" (người liên hệ trực tiếp với bị hại).
Đơn cử, tại phòng 304, Hoàng Thùy Linh (bị can đang bỏ trốn) được giao nhiệm vụ quản lý, Hoàng Bích Ngọc (32 tuổi, ngụ Hải Phòng) và Lê Thiên Hóa (34 tuổi, ngụ tại Đắk Lắk) làm nhân viên chăm sóc khách hàng (hậu đài).
Tại phòng 403, Vũ Khắc Bảo Chung (36 tuổi, ngụ Hải Phòng) và Ngô Tuấn Anh (36 tuổi, ngụ Hải Phòng) được giao nhiệm vụ quản lý. Vi Quỳnh Trang (30 tuổi, ngụ tại Nghệ An) là người phiên dịch và cùng tham gia quản lý. Ninh Thị Kim Oanh (35 tuổi, ngụ tại Nam Định) và Ninh Thị Liễu (37 tuổi, ngụ Ninh Bình) làm nhân viên chăm sóc khách hàng (hậu đài) tham gia chỉ đạo các nhân viên “sale”.
Kịch bản lừa đảo của đường dây này là lập các tài khoản Facebook mạo danh những người thành công, giàu có, doanh nhân thành đạt, thường xuyên đăng tải các hình ảnh ăn chơi, du lịch… để kết bạn, làm quen.
Từ đó từng bước tạo dựng được mối quan hệ tình cảm với bị hại là người ở Việt Nam (chủ yếu là phụ nữ) thông qua các cuộc nói chuyện, tâm sự, chia sẻ.
Sau khi đã tạo được lòng tin, chúng sẽ lôi kéo, rủ rê lừa bị hại đầu tư kinh doanh trên mạng thông qua website kinh doanh khách sạn "ảo" mang tên "OYO" (địa chỉ: https //hotel-oyo.cc) để hưởng lợi nhuận với tỉ lệ phần trăm hoa hồng cao.
Với những “người quản lý”, họ có nhiệm vụ quản lý các tổ lừa đảo về giờ giấc, thời gian làm việc, quân số. Kiểm tra nếu có nhân viên “sale” làm việc riêng trong giờ làm, ngủ gật, đi làm muộn thì nhắc nhở, chấn chỉnh.
Nếu có nhân viên “sale” mới tuyển vào thì người quản lý hướng dẫn và gửi các tài liệu bằng giấy để nhân viên “sale” mới đọc kỹ cách thức lừa đảo người Việt Nam.
Nhóm “tổ trưởng” với trách nhiệm khi nào có khách hàng mới sẽ thông báo lên nhóm các thông tin: tên Facebook, số điện thoại, tình trạng hôn nhân, công việc, thu nhập, đã vào app (trang mạng OYO theo địa chỉ truy cập) hay chưa, sau đó người phiên dịch sẽ nhập máy tính để A Hào quản lý chung và theo dõi, đôn đốc.
Nhóm “nội quy công ty” có nhiệm vụ thông báo những ai đi muộn, ngủ gật, không đeo thẻ, ngồi làm việc không nghiêm túc bị phạt.
Nhóm người chăm sóc khách hàng (hậu đài) được phân công nhiệm vụ trực trang web chăm sóc khách hàng, tương tác với bị hại trên trang web này; trao đổi, hướng dẫn và cung cấp cho bị hại tài khoản ngân hàng để người bị hại chuyển tiền…
Người phiên dịch có nhiệm vụ khi người chủ (người Trung Quốc) có thông báo gì, người phiên dịch sẽ phiên dịch từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt cho các thành viên trong nhóm biết để thực hiện theo nội dung chỉ đạo. Đồng thời, người phiên dịch còn tham gia nhiệm vụ quản lý.
Các nhân viên “sale” được phân công nhiệm vụ trực tiếp lập và sử dụng các tài khoản Facebook ảo, đóng giả là người thành đạt, doanh nhân... để kết bạn, làm quen, lấy lòng tin và hướng dẫn bị hại đăng ký ứng dụng OYO, cách chuyển tiền đầu tư.
Khi bị hại muốn rút tiền, nhân viên “sale” sẽ đề xuất với “tổ trưởng” phương án xử lý cho người bị hại rút tiền nhằm tiếp tục dụ dỗ hoặc "giết khách" để chiếm đoạt tiền.
Trong quá trình thực hiện hành vi lừa đảo, A Hào và Cận trả tiền công cho nhóm quản lý từ 5.500 - 7.000 nhân dân tệ/tháng, nhóm chăm sóc khách hàng (hậu đài) dao động từ 6.000 - 7.000 nhân dân tệ/tháng, người phiên dịch 8.000 nhân dân tệ/tháng, nhóm tổ trưởng và nhân viên “sale” được trả công khoảng 5.000 nhân dân tệ/tháng.
Kết quả điều tra của công an trong khoảng thời gian từ tháng 12-2023 đến ngày 1-8-2024, 111 bị can trong đường dây này đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số hơn 23,5 tỉ đồng của 190 bị hại.

Theo Bộ Công an, thực tiễn cho thấy có những hành vi vi phạm gây thiệt hại về kinh tế nhưng xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; không tham nhũng và có khả năng khắc phục toàn bộ hậu quả, song vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, tại dự thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự, Bộ Công an đề xuất bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để người vi phạm có thời gian khắc phục hậu quả; đồng thời bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đã khắc phục đầy đủ thiệt hại, nhằm bảo đảm tính công bằng, thống nhất và khuyến khích khắc phục hậu quả.
Trao đổi với phóng viên về vấn đề trên, luật sư Trần Nam Long - Giám đốc Công ty Luật TNHH Trần Long và Cộng sự cho rằng, thực tiễn xử lý các vụ án kinh tế thời gian qua cho thấy đang tồn tại một "nút thắt" trong hoạt động tố tụng hình sự.
Cụ thể, khi cơ quan chức năng phát hiện sai phạm hoặc dấu hiệu hình sự trong quá trình triển khai các dự án kinh tế - xã hội, các biện pháp tố tụng thường được áp dụng ngay như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam, phong tỏa tài sản. Điều này nhiều khi kéo theo hệ lụy lớn cho doanh nghiệp, người lao động và cả nền kinh tế.
"Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là cần thiết, nhưng hậu quả kéo theo đối với xã hội đôi khi rất lớn. Có doanh nghiệp với hàng nghìn lao động rơi vào nguy cơ đình trệ, các dự án đang triển khai bị đóng băng", ông Long nói.
Từ thực tế đó, luật sư Long đánh giá đề xuất của Bộ Công an về cơ chế "tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự" là cách tiếp cận phù hợp, bởi nó hướng tới việc cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và hạn chế "chi phí xã hội" quá lớn do hoạt động tố tụng gây ra.
Theo luật sư Long, phần lớn các sai phạm trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội đều xoay quanh lợi ích kinh tế, do đó biện pháp xử lý cũng nên ưu tiên theo hướng kinh tế thay vì quá nặng về hình sự.
"Doanh nhân hoạt động vì lợi ích. Nếu họ gian lận để đạt lợi ích thì hãy đánh trực tiếp vào lợi ích đó. Phạt tiền, buộc bồi thường, khắc phục hậu quả sẽ là biện pháp răn đe đúng bản chất hơn là đưa họ vào tù", ông phân tích và khẳng định, khi số tiền phải khắc phục lớn hơn nhiều lần số tiền vi phạm thì hoàn toàn đảm bảo sức răn đe.
Theo ông, trong nhiều lĩnh vực mới như chứng khoán, tài sản số hay các mô hình kinh doanh sáng tạo, pháp luật vẫn chưa theo kịp thực tiễn. Doanh nhân đôi khi phải hoạt động trong "khoảng trống pháp lý" hoặc đối mặt với nhiều cách hiểu khác nhau của quy định pháp luật.
"Khó ai kinh doanh mà tuyệt đối không có rủi ro pháp lý, đặc biệt ở những lĩnh vực mở, pháp luật chưa hoàn thiện. Vì vậy cần tạo ra không gian nhất định để họ dám làm, dám thử nghiệm. Nếu sai phạm có thể khắc phục được thì nên cho họ cơ hội sửa sai", ông nói.
Việc không áp dụng cơ chế trên với các hành vi tham nhũng, vụ lợi như đề xuất của Bộ Công an, ông Long cũng bày tỏ ủng hộ. Theo ông, tham nhũng là hành vi "đánh đổi giữa tiền và quyền", cần phải xử lý nghiêm bằng hình phạt tù để bảo đảm tính răn đe.
Luật gia Dương Đình Khuyến – Uỷ viên Ban thường vụ Hội Luật gia Việt Nam cũng bày tỏ ủng hộ về mặt chủ trương nhưng cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay là cơ chế tố tụng để triển khai đề xuất này.
Theo ông Khuyến, khi cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì toàn bộ quá trình xử lý phải tuân thủ chặt chẽ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, khái niệm "tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự" nếu muốn áp dụng được thì phải được luật hóa bằng các quy định rất cụ thể.
"Khi đã khởi tố hình sự rồi thì mọi việc phải đi theo quy trình tố tụng. Không thể chỉ nói tạm hoãn là tạm hoãn được, phải có căn cứ pháp lý rõ ràng", ông Khuyến nói.
Theo luật gia Dương Đình Khuyến, nếu trong quá trình điều tra xác định người vi phạm không có tư lợi cá nhân, sai phạm xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và có khả năng khắc phục toàn bộ hậu quả, thì cơ quan điều tra có thể kiến nghị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra.
"Thông thường cơ quan điều tra sẽ chọn phương án tạm đình chỉ để bảo đảm an toàn pháp lý. Nếu sau này phát hiện thêm tình tiết mới như có dấu hiệu tham nhũng hay tư lợi thì vẫn có thể phục hồi điều tra", ông phân tích.
Ông Khuyến cũng cho rằng, với tinh thần của Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, nhiều vụ việc hoàn toàn có thể được xử lý dứt điểm ngay từ giai đoạn điều tra mà không cần kéo dài sang giai đoạn truy tố và xét xử.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại phát sinh nhiều tình huống phức tạp, khi có vụ án đã chuyển sang Viện Kiểm sát, thậm chí Tòa án đã thụ lý. Lúc này, việc dừng truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phải có căn cứ tố tụng tương ứng ở từng giai đoạn.
Một trong những vấn đề được cả hai chuyên gia cùng nhấn mạnh là cơ chế xử lý tài sản kê biên, phong tỏa trong các vụ án kinh tế để bảo đảm thực thi và tránh ttình trạng "thả gà ra đuổi".
Trước hết, theo luật sư Trần Nam Long, trên thực tế, nhiều trường hợp ngay khi bị khởi tố thì gần như toàn bộ tài sản của doanh nghiệp hoặc cá nhân đã bị phong tỏa để phục vụ điều tra.
Do đó, khi cơ quan tố tụng yêu cầu bị can khắc phục hậu quả thì họ không còn khả năng tiếp cận tài sản để thực hiện nghĩa vụ. "Không thể vừa trói tay, trói chân người ta rồi lại yêu cầu họ phải khắc phục hậu quả", ông Long nói.
Đồng quan điểm, luật gia Dương Đình Khuyến cho rằng nếu muốn khuyến khích người vi phạm chủ động khắc phục thì cơ quan tiến hành tố tụng phải có cơ chế tạo điều kiện cho họ xử lý tài sản dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan giám sát.
"Ví dụ người ta có nguyện vọng bán tài sản để khắc phục hậu quả thì cơ quan tố tụng có thể giám sát việc bán đấu giá, thu tiền trực tiếp để bảo đảm không xảy ra tình trạng tẩu tán tài sản", ông Khuyến đề xuất.
Theo ông, thay vì phong tỏa tuyệt đối toàn bộ tài sản, cần có cơ chế linh hoạt hơn để vừa bảo đảm thu hồi tài sản cho Nhà nước, vừa tạo điều kiện cho người vi phạm thực hiện nghĩa vụ khắc phục hậu quả.
"Bản chất là cơ quan tố tụng vẫn nắm đằng chuôi, vẫn kiểm soát dòng tiền, nhưng phải mở ra cơ hội để người ta khắc phục. Nếu không thì rất khó khả thi trong thực tế", luật gia Dương Đình Khuyến nói.
Đồng quan điểm, luật sư Long cho hay cần có cơ chế phối hợp giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và cơ quan thi hành án để xử lý linh hoạt tài sản trong giai đoạn tố tụng.
Đặc biệt, ông cho rằng nếu giá trị tài sản bị kê biên nhỏ hơn nghĩa vụ phải khắc phục, cơ quan thi hành án có thể đứng ra tổ chức bán đấu giá tài sản ngay từ giai đoạn điều tra, dưới sự giám sát của các cơ quan tố tụng.
Ngược lại, nếu tổng giá trị tài sản lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải khắc phục, nên cho phép người bị truy cứu hoặc gia đình họ chủ động bán tài sản để nộp tiền khắc phục hậu quả.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

