Ngày 2/6, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết bệnh nhi mất đêm qua dù các bác sĩ đã nỗ lực hồi sức tích cực. Bố và mẹ bé đã tử vong sau vụ cháy.
Nửa tháng trước bé được chuyển từ Cà Mau lên TP HCM trong tình trạng nguy kịch, bỏng độ 2-3 hơn 90% diện tích cơ thể, bỏng đường hô hấp, nhiễm trùng huyết và tổn thương đa cơ quan. Êkíp điều trị cho bé thở máy, dùng thuốc vận mạch, hồi sức chuyên sâu và chăm sóc bỏng tích cực. Tuy nhiên, do diện tích bỏng quá lớn kèm nhiều biến chứng nặng, tình trạng của bé không cải thiện.
Vụ cháy xảy ra sáng 17/5 tại căn nhà cấp 4 ở ấp Nhàn Dân B, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. Người bố tử vong trên đường đến bệnh viện. Mẹ bé, 43 tuổi, bỏng nặng và không qua khỏi vào chiều 18/5. Cơ quan điều tra nghi người bố đã phóng hỏa sau mâu thuẫn tình cảm với vợ.
Tin Gốc: Vnexpress

8 tháng sau khi bé Cassian ra đời, vợ chồng chị Keishera Joubert ở bang Florida vẫn nguyên cảm giác biết ơn và hạnh phúc. Cậu bé đã chào đời "hai lần" sau khi trải qua ca phẫu thuật mang tính đột phá để điều trị một căn bệnh hiếm gặp và thường dẫn đến tử vong, theo ABC News ngày 5/5.
"Không có nhiều phụ nữ trải qua ca sinh mổ nhưng sau đó vẫn tiếp tục mang thai", Joubert chia sẻ.
Khi thai nhi được 19 tuần tuổi, gia đình Joubert được thông báo đứa con thứ hai của họ mắc một hội chứng hiếm gặp mang tên tắc nghẽn đường hô hấp trên bẩm sinh, còn được gọi là CHAOS. Theo Tổ chức Quốc gia về các Rối loạn Hiếm gặp (NORD), hội chứng tắc nghẽn đường hô hấp trên bẩm sinh là một tình trạng hiếm gặp, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường thở, khiến dịch bị ứ đọng trong phổi của thai nhi.
Bác sĩ Emanuel Vlastos, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc Thai nhi thuộc Viện Phụ sản Orlando Health tại Bệnh viện Phụ sản và Nhi khoa Winnie Palmer, cho biết tình trạng trên có nguy cơ tử vong cao. "Phổi của thai nhi sẽ to dần, căng cứng và gia tăng áp lực. Điều này bắt đầu chèn ép tim của bé. Hầu hết các bé mắc hội chứng trên đều không thể sống sót", ông giải thích.
Với vợ chồng chị Joubert, thông tin này là một cú sốc. Người phụ nữ nhớ lại: "Không ai muốn nghe rằng con mình có nguy cơ tử vong ngay trong bụng mẹ, thậm chí không thể chờ đến ngày chào đời".
Ban đầu, chị Joubert thực hiện một thủ thuật y khoa để điều trị cho Cassian nhưng không thành công. Anh Greg Joubert, chồng chị, kể: "Trước ca phẫu thuật đầu tiên, chúng tôi chỉ có khoảng 20 đến 25% hy vọng vào một kết quả khả quan".
Sau đó, bác sĩ Vlastos đã đề xuất một phương án phẫu thuật đột phá. Nếu thành công, Cassian sẽ ra khỏi tử cung không chỉ một mà là hai lần. Ở tuần thai thứ 25, ông đã đưa một phần cơ thể Cassian ra ngoài bằng cách rạch một đường qua bụng và tử cung, tương tự sinh mổ. Phần đầu và cổ của bé được đưa ra ngoài còn cơ thể vẫn nằm trong tử cung và kết nối với nhau thai, trong khi đội ngũ y tế đặt một ống tạm thời vào đường thở của bé.
"Theo hiểu biết của tôi, việc đặt ống thông bên dưới vị trí tắc nghẽn bằng cách đưa đầu và cổ thai nhi ra ngoài như vậy chưa từng được thực hiện trước đây", bác sĩ Vlastos cho hay. "Sau đó, chúng tôi đưa em bé trở lại tử cung, khâu lại và người mẹ tiếp tục lưu viện cho đến ngày sinh".
Trong ca phẫu thuật đó, các bác sĩ thậm chí đã chụp được một bức ảnh của Cassian. "Đó là một hình ảnh thoáng qua về tương lai, là khoảnh khắc về cậu bé mà cuối cùng tôi cũng có thể đón về nhà", chị Joubert nhớ lại.
Chị tiếp tục dưỡng thai tại bệnh viện đến tuần thứ 31 thì vỡ ối. Các bác sĩ đã thực hiện ca sinh mổ để đưa Cassian chào đời lần thứ hai. Sau 132 ngày điều trị tại khoa hồi sức tích cực sơ sinh (NICU), em bé hiện đã được về nhà. Dù con vẫn đang phải sử dụng máy thở, ống nuôi ăn và đối mặt với ít nhất hai ca phẫu thuật nữa, gia đình vẫn cảm thấy biết ơn phép màu đã giúp bé đi được đến tận bây giờ.
"Còn chiến thắng nào lớn lao hơn việc cuối cùng chúng tôi cũng có thể đưa con về nhà?", người mẹ nói. Chồng chị chia sẻ thêm: "Chúng tôi từng chuẩn bị tâm thế để vĩnh biệt con nhưng cuối cùng đã có thể chào đón con".
Chị Joubert cho biết gia đình dự định làm một bữa tiệc nhỏ vào ngày kỷ niệm ca phẫu thuật đã cứu sống con. Hôm sinh nhật chính thức, họ sẽ tổ chức tiệc lớn hơn để kỷ niệm tròn một năm con đến với thế giới.
Tin Gốc: Vnexpress

Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày… Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Theo Cục Phòng bệnh - Bộ Y tế, vi khuẩn Burkholderia pseudomallei tồn tại tự nhiên trong đất, bùn và nước ô nhiễm. Người có thể mắc bệnh khi tiếp xúc với đất, bùn, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước, vết thương hở trên da; do hít phải bụi hoặc giọt nước bị nhiễm khuẩn; hoặc do sử dụng nguồn nước, thực phẩm bị ô nhiễm.
Bệnh Whitmore có biểu hiện lâm sàng đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác, gây khó khăn cho chẩn đoán sớm. Bệnh có thể diễn biến nặng với các biểu hiện như viêm phổi, áp xe ở nhiều cơ quan, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng và có nguy cơ tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh gan, bệnh thận, bệnh phổi mạn tính, suy giảm miễn dịch và người thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn là nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn, nhất là sau mưa bão, ngập lụt, nếu có biểu hiện sốt, ho, đau ngực, khó thở, nổi áp xe, nhiễm trùng da hoặc tình trạng nhiễm trùng kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Whitmore là bệnh ít gặp, chủ yếu liên quan đến phơi nhiễm từ môi trường, không phải là bệnh lây truyền phổ biến từ người sang người. Bệnh ghi nhận nhiều tại khu vực Đông Nam Á và miền bắc nước Úc. Tại VN, hằng năm ghi nhận một số ca bệnh rải rác, thường tăng sau mưa lớn, ngập lụt, bão lũ.
Tin Gốc: Thanh Niên

