Ngày 21.5, ông Trương Minh Kiển, Giám đốc Bệnh viện Sản – Nhi Cà Mau, cho biết các bác sĩ của bệnh viện vừa kịp thời cứu sống bệnh nhi bị rắn cắn, nhập viện trong tình trạng ngưng thở.
Bệnh nhi là N.G.H (11 tuổi, ở ấp Xóm Rẫy, xã Quách Phẩm, Cà Mau). Khoảng 16 giờ ngày 18.5, trong lúc ngồi chơi phía sau nhà, H. bất ngờ bị một con rắn cắn, sau đó vết cắn sưng nề và em than đau.
Thay vì đến cơ sở y tế, người nhà lại đưa bé đến phòng khám tư để điều trị. Tuy nhiên, tình trạng không thuyên giảm nên sau đó H. được chuyển đến Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nước.
Tại đây, bệnh nhi xuất hiện các dấu hiệu nặng như tăng tiết đàm, sụp mí mắt, suy hô hấp tăng dần rồi ngưng thở hoàn toàn. Các bác sĩ đã khẩn cấp đặt ống nội khí quản và chuyển ngay lên Bệnh viện Sản – Nhi Cà Mau lúc 1 giờ ngày 19.5.
“Liệt mi, khò khè đàm là dấu hiệu rất nặng nên bệnh viện cho thở máy và truyền kháng huyết thanh, kháng nọc rắn. Rất may, sau 2 ngày điều trị tích cực, em H. đã tỉnh táo, tiếp xúc tốt, tự thở khí trời, ăn uống khá và vết cắn giảm sưng nề”, lãnh đạo Bệnh viện Sản – Nhi Cà Mau thông tin.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Thúy Hằng, Trưởng khoa Cấp cứu Nhi Bệnh viện Sản – Nhi Cà Mau, khuyến cáo phụ huynh cần đặc biệt chú ý khi trẻ vui chơi ở khu vực vườn tược, đồng ruộng, bụi rậm; đồng thời hướng dẫn trẻ nhận biết nguy hiểm và báo ngay cho người lớn khi bị rắn cắn hoặc có dấu hiệu bất thường.
Bác sĩ Hằng cũng lưu ý người dân tuyệt đối không tự ý xử trí bằng các mẹo dân gian như đắp lá cây, cắt rạch vết cắn, hút nọc độc… vì dễ làm vết thương nhiễm trùng và đánh mất “thời gian vàng” để cấp cứu.
Khi nghi ngờ trẻ bị rắn độc cắn, người nhà cần bình tĩnh sơ cứu đúng cách bằng cách cố định vùng bị rắn cắn, hạn chế vận động để tránh nọc độc lan nhanh, đặt vùng bị cắn thấp hơn tim, không băng garo quá chặt, không chích rạch vết thương và nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bác sĩ Dương Minh Tuấn, Khoa Nội tiết Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết rụng tóc không phải là một bệnh cụ thể mà là biểu hiện của rất nhiều tình trạng khác nhau.
Nguyên nhân phổ biến nhất là rụng tóc kiểu di truyền, còn gọi là rụng tóc kiểu nam hoặc kiểu nữ. Ở nam giới, đường chân tóc thường lùi dần, tóc vùng trán và đỉnh đầu ngày càng thưa. Ở nữ giới, đường ngôi rộng dần, tóc vùng đỉnh mỏng hơn nhưng ít khi hói hoàn toàn. Tình trạng này có liên quan đến nhiều gene từ cả phía bố và phía mẹ, chứ không phải chỉ di truyền từ ông ngoại như nhiều người vẫn nghĩ.
Nhiều người bệnh thấy tóc rụng lan tỏa khi gội, chải hoặc vuốt tóc, đôi khi mỗi lần gội rụng thành từng nắm. Tình trạng này thường xuất hiện khoảng hai đến ba tháng sau một biến cố như sốt cao, nhiễm trùng, phẫu thuật, sinh con, mất ngủ kéo dài, căng thẳng, giảm cân quá nhanh, ăn kiêng thiếu chất hoặc thiếu sắt.
Về nội tiết, cả suy giáp và cường giáp đều có thể làm tóc khô, mảnh và rụng lan tỏa. Tuy nhiên, "không nên cứ rụng tóc là tự kết luận mình bị bệnh tuyến giáp", bác sĩ nói. Mọi người cần quan sát thêm các dấu hiệu như mệt mỏi, hồi hộp, sợ nóng hoặc sợ lạnh, tăng hoặc giảm cân bất thường, táo bón, rối loạn kinh nguyệt hoặc có bướu cổ.
Ở phụ nữ, rụng tóc vùng đỉnh đầu đi kèm kinh thưa, mụn trứng cá, rậm lông, tăng cân hoặc khó mang thai có thể liên quan đến tăng androgen và hội chứng buồng trứng đa nang. Ngược lại, rụng tóc đơn độc không đủ để chẩn đoán buồng trứng đa nang.
Nếu rụng tóc tiến triển nhanh, rậm lông nhiều, giọng nói trầm hơn hoặc các biểu hiện nam hóa, bác sĩ cần loại trừ những nguyên nhân hiếm nhưng quan trọng như khối u buồng trứng hoặc tuyến thượng thận tiết androgen, hội chứng Cushing hay một số rối loạn nội tiết đặc biệt khác.
Phụ nữ sau sinh cũng thường rụng tóc nhiều do nồng độ estrogen giảm nhanh, phần lớn trường hợp có thể tự phục hồi. Nếu rụng quá nhiều hoặc kéo dài cần kiểm tra thêm thiếu sắt, thiếu máu và bệnh tuyến giáp sau sinh.
Một tình huống ngày càng thường gặp là rụng tóc trong quá trình giảm cân hoặc sử dụng thuốc điều trị béo phì. Hiện chưa có bằng chứng chắc chắn rằng các thuốc GLP-1 gây độc trực tiếp lên nang tóc. Rụng tóc thường liên quan nhiều hơn đến việc giảm cân quá nhanh, ăn quá ít năng lượng, thiếu protein, thiếu sắt hoặc thiếu vi chất, vì vậy, không nên tự ý ngừng thuốc mà cần đánh giá lại dinh dưỡng và tìm các nguyên nhân phối hợp.
Ngoài nội tiết, rụng tóc còn có thể do bệnh tự miễn gây rụng tóc từng mảng, nấm da đầu, viêm da đầu, lupus, thói quen buộc hoặc nối tóc quá chặt, thường xuyên tẩy nhuộm và dùng nhiệt, một số loại thuốc hoặc hành vi tự nhổ tóc.
Đặc biệt, nếu da đầu đỏ, đau, ngứa, nóng rát, có mụn mủ, bong vảy hoặc bề mặt da đầu trở nên bóng và mất các lỗ chân tóc, cần đi khám da liễu sớm. Đây có thể là rụng tóc có sẹo, trong đó nang tóc bị phá hủy và có nguy cơ mất tóc vĩnh viễn nếu điều trị muộn.
Điều trị rụng tóc phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên nhân. Rụng tóc kiểu di truyền thường cần điều trị duy trì bằng minoxidil và có thể phối hợp các thuốc khác dưới sự theo dõi của bác sĩ. Rụng tóc do thiếu sắt, bệnh tuyến giáp hoặc thiếu dinh dưỡng cần điều trị đúng nguyên nhân. Rụng tóc từng mảng hoặc rụng tóc có sẹo có thể cần các thuốc chống viêm, điều hòa miễn dịch hoặc thuốc điều trị chuyên biệt.
Khi bị rụng tóc, bạn có thể đến khám bác sĩ da liễu có thể xác định loại rụng tóc, soi da đầu và đánh giá nang tóc. Bác sĩ nội tiết sẽ tham gia khi người bệnh có dấu hiệu gợi ý bệnh tuyến giáp, buồng trứng đa nang, tăng androgen, bệnh tuyến yên, hội chứng Cushing hoặc rụng tóc trong quá trình giảm cân.
"Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định công thức máu, ferritin để đánh giá thiếu sắt, kiểm tra tuyến giáp hoặc xét nghiệm androgen khi có kinh nguyệt bất thường, rậm lông và mụn trứng cá", bác sĩ nói.
Lưu ý, nhiều viên "đẹp tóc, đẹp móng" chứa biotin liều cao có thể làm sai lệch một số xét nghiệm tuyến giáp nên người đang sử dụng biotin cần báo với bác sĩ trước khi lấy máu.
Không nên tự uống hàng loạt biotin, kẽm, selen, vitamin A hoặc vitamin E khi chưa có bằng chứng thiếu hụt; uống quá nhiều không làm tóc mọc nhanh hơn, thậm chí một số vi chất dùng quá liều còn có thể khiến tóc rụng nhiều hơn.
Tin Gốc: Vnexpress

Hành tây không chỉ là nguyên liệu chủ chốt quen thuộc trong gian bếp mà còn là loại rau bảo vệ thận đã được khoa học chứng minh. Trong bài chia sẻ trên trang cá nhân, bác sĩ Hung Yung-hsiang, chuyên gia thận học với hơn 20 năm kinh nghiệm tại Bệnh viện Đa khoa Tam Quân, cho hay các tài liệu y khoa đã chứng minh hành tây chứa lượng lớn các hợp chất chống oxy hóa và kháng viêm. Những chất này giúp ổn định huyết áp và đường huyết, từ đó gián tiếp giảm bớt áp lực làm việc cho thận.
Khả năng bảo vệ thận của hành tây nằm ở hai thành phần chủ chốt là quercetin và các hợp chất lưu huỳnh. Quercetin là chất chống oxy hóa tự nhiên cực mạnh, tập trung nhiều nhất ở lớp vỏ ngoài và phần gốc của hành tây. Nghiên cứu cho thấy Quercetin giúp giảm căng thẳng oxy hóa, ngăn ngừa tình trạng xơ hóa cầu thận và bảo vệ các tế bào thận không bị tổn thương sớm. Đặc biệt, chất này còn có khả năng ức chế quá trình tổng hợp axit uric và thúc đẩy đào thải chúng ra ngoài. Điều này mang lại lợi ích lớn cho những người có axit uric cao hoặc đang điều trị bệnh thận do biến chứng gout.
Trong khi đó, các hợp chất lưu huỳnh, tác nhân gây cay mắt khi thái hành, lại đóng vai trò kháng viêm và làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận mạn tính. Nhờ sự kết hợp của các hoạt chất này, việc bổ sung hành tây vào chế độ ăn có thể giúp giảm tình trạng tiểu đạm (protein niệu) và trì hoãn quá trình suy giảm chức năng thận. Đây được xem là một trợ thủ đắc lực trong thực đơn của những bệnh nhân thận mạn tính.
Bên cạnh công dụng bảo vệ thận, tờ Verywell Health còn chỉ ra hàng loạt công dụng khác của hành tây như bảo vệ tim mạch bằng cách giảm cholesterol xấu, ổn định đường huyết cho bệnh nhân tiểu đường và nâng cao mật độ xương khi duy trì thói quen ăn hành tây thường xuyên. Các hợp chất lưu huỳnh và quercetin trong các loại rau họ hành có khả năng ức chế sự hình thành khối u và ngăn chặn tế bào ác tính di căn, đặc biệt là đối với ung thư dạ dày và đại trực tràng.
Đối với người bệnh tiểu đường, hành tây hỗ trợ kiểm soát đường huyết hiệu quả bằng cách cải thiện tình trạng kháng insulin. Đồng thời, đây còn là một loại "kháng sinh tự nhiên" giúp ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại như vi khuẩn gây tiêu chảy E. coli, tụ cầu vàng hay vi khuẩn HP gây loét dạ dày. Một lợi ích khác của hành tây là giúp duy trì sức khỏe xương khớp. Các nghiên cứu cho thấy ăn hành tây giúp cải thiện mật độ xương và giảm thiểu tình trạng mất xương do lão hóa. Đối với hệ tiêu hóa, thành phần inulin trong hành tây đóng vai trò là tiền lợi khuẩn (prebiotic), tạo môi trường lý tưởng cho các lợi khuẩn đường ruột phát triển mạnh mẽ và hỗ trợ quản lý cân nặng hiệu quả.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng quercetin có khả năng hỗ trợ giảm trọng lượng và mỡ thừa cơ thể. Nửa bát hành tây sống chỉ chứa khoảng 30 calo nhưng lại cung cấp dồi dào Vitamin C, B6, Kali, Folate cùng các vi lượng thiết yếu như kẽm và selen cho cơ thể.
Theo bác sĩ, nhiều người băn khoăn về việc nên ăn hành tây sống hay chín. Thực tế, ăn sống giúp bảo vệ thận tốt nhất vì giữ trọn được nhiều quercetin và hợp chất lưu huỳnh. Tuy nhiên, do vị hăng nồng đặc trưng có thể gây khó ăn, việc nấu chín là một lựa chọn thay thế nhẹ nhàng hơn, dù cách này sẽ làm hao hụt đi một phần giá trị dinh dưỡng.
Về liều lượng, việc duy trì tiêu thụ từ 1/4 đến 1/2 củ hành cỡ vừa mỗi ngày là mức lý tưởng để bồi bổ cơ thể. Hành tây có thể được chế biến linh hoạt trong các món salad, nấu súp hoặc xào cùng các thực phẩm có khả năng chống oxy hóa mạnh như súp lơ xanh và dầu ô liu. Sự kết hợp này không chỉ làm phong phú hương vị mà còn tạo ra tác động cộng hưởng, giúp tăng cường hiệu quả bảo vệ thận một cách toàn diện. Những người suy thận giai đoạn cuối, người đang dùng thuốc chống đông máu hoặc có bệnh lý dạ dày nặng nên tham khảo ý kiến bác sĩ và tránh ăn quá nhiều.
Nỗi lo lớn nhất khi chế biến hành tây chính là tình trạng "cay xè mắt". Theo các chuyên gia nông nghiệp, bí quyết nằm ở việc hạn chế làm tổn thương tế bào hành để ngăn chặn sự giải phóng các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi. Khi thái hành, nên sử dụng một con dao thật sắc và thực hiện các đường cắt dứt khoát.
Cách cắt dọc hay ngang hành cũng quyết định đến hương vị món ăn. Nếu thái dọc theo thớ vải của củ hành, các sợi chất xơ được giữ nguyên sẽ tạo cảm giác giòn sần sật và vị cay nồng đặc trưng, hợp cho các món chiên xào. Ngược lại, nếu thái ngang (cắt đứt sợi xơ), hành sẽ mềm và ngọt hơn, là lựa chọn hoàn hảo cho các món hầm hoặc súp.
Để đảm bảo an toàn vệ sinh, người tiêu dùng nên chọn mua những củ hành còn nguyên vẹn, lớp vỏ ngoài khô ráo, chắc tay và chưa nảy mầm. Việc mua hành tây nguyên củ thay vì các loại đã cắt sẵn không chỉ giúp giữ được độ tươi ngon lâu hơn mà còn hạn chế tối đa nguy cơ nhiễm khuẩn, giúp tận dụng tối đa giá trị dinh dưỡng từ loại "siêu thực phẩm" này.
Tin Gốc: Vnexpress

Cá là nguồn cung cấp protein chất lượng cao, chứa đầy đủ các a xít amin thiết yếu và dễ tiêu hóa. Ngoài ra, cá còn giàu a xít béo omega-3, vốn là chất béo có lợi cho tim mạch và não bộ. Bên cạnh đó, thịt cá còn có các vitamin quan trọng như vitamin D, B12 và các khoáng chất như i ốt, selen, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Trong nhiều trường hợp, cá được đông lạnh ngay sau khi đánh bắt có thể giữ được dinh dưỡng tốt hơn so với cá tươi ướp đá, thường phải mất vài ngày sau đó cho quá trình vận chuyển.
Về nguyên tắc, quá trình đông lạnh không làm mất ngay các thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thịt cá. Protein trong cá khá ổn định khi đông lạnh. Phần lớn vi chất vẫn được giữ nếu cá được xử lý và bảo quản đúng cách. Điều này cho thấy sự khác biệt dinh dưỡng giữa cá tươi và cá đông lạnh không chỉ nằm ở phương pháp đông lạnh mà còn ở cách xử lý và thời gian bảo quản.
Phương pháp đông lạnh nhanh được sử dụng phổ biến. Cá được làm lạnh xuống nhiệt độ rất thấp ngay sau khi đánh bắt, giúp giữ nguyên gần như toàn bộ trạng thái dinh dưỡng ban đầu.
Cụ thể, quá trình này làm chậm rất nhiều các phản ứng phân hủy sinh học, ức chế hoạt động của enzyme và hạn chế quá trình ô xy hóa chất béo. Nhờ đó, cấu trúc thịt cá và thành phần dinh dưỡng được giữ gần như nguyên vẹn.
Trong thực tế, cá đông lạnh đúng quy trình có thể có giá trị dinh dưỡng tương đương cá tươi. Thậm chí, nếu cá tươi bị lưu trữ trong nhiều ngày trước khi đến tay người tiêu dùng, chất lượng dinh dưỡng có thể giảm nhiều hơn so với cá đã được đông lạnh ngay từ đầu.
Ngoài ra, điểm khác biệt lớn nhất giữa cá tươi và cá đông lạnh nằm ở thời gian bảo quản. Cá sau khi đánh bắt sẽ bắt đầu quá trình phân hủy tự nhiên. Enzyme và vi khuẩn bên trong cá sẽ dần làm giảm chất lượng thịt. Đồng thời, các a xít béo không bão hòa như omega-3 rất dễ bị ô xy hóa theo thời gian.
Với cá tươi, nếu không được tiêu thụ nhanh, chất lượng dinh dưỡng sẽ giảm đáng kể sau vài ngày, ngay cả khi được giữ lạnh bằng đá. Trong khi đó, cá đông lạnh có thể bảo quản trong nhiều tháng vì các quá trình phân hủy bị làm chậm lại đáng kể.
Trong thực tế, nếu có thể mua được cá tươi thực sự, tức là mới đánh bắt trong ngày, thì đây là lựa chọn tốt nhất. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, điều này là khó, nhất là ở những khu vực xa biển.
Vì vậy, cá được đông lạnh nhanh và bảo quản đúng cách, là một lựa chọn hợp lý và an toàn. Đặc biệt, nếu thời gian bảo quản chưa quá dài và bao bì đảm bảo kín, hạn chế tiếp xúc với không khí, cá đông lạnh hoàn toàn có thể cung cấp giá trị dinh dưỡng tương đương cá tươi, theo Eating Well.
Tin Gốc: Thanh Niên

