Dự luật có tên Đạo luật trừng phạt Nga (Sanctioning Russia Act) đã được xây dựng trong hơn một năm qua, nhằm gia tăng sức ép lên Matxcơva và làm suy giảm nguồn thu phục vụ chiến dịch quân sự của Nga tại Ukraine.
Dự luật này đang gây nhiều sự chú ý vì nếu được thông qua, Mỹ có thể áp thuế quan thứ cấp rất cao lên cả những nước mua dầu mỏ và khí đốt của Nga.
Hôm 10-7, chỉ một ngày trước khi đột ngột qua đời, Thượng nghị sĩ Cộng hòa Lindsey Graham thông báo các nhà lập pháp đã đạt được thỏa thuận với Nhà Trắng để thúc đẩy dự luật.
Ngày 14-7 (giờ Mỹ), các thượng nghị sĩ đã công bố phiên bản sửa đổi của dự luật trừng phạt Nga do ông Graham khởi xướng.
Theo Đài CNN, nếu được thông qua, dự luật dài hơn 60 trang này sẽ áp các biện pháp trừng phạt đối với giới lãnh đạo chính trị và quân sự Nga, gồm cả Tổng thống Vladimir Putin, cùng các nhà tài phiệt, doanh nghiệp nhà nước và các công ty nước ngoài hỗ trợ nền công nghiệp quốc phòng của Nga.
Dự luật cũng sẽ cho phép trừng phạt các tàu chở dầu, dự án năng lượng và tổ chức tài chính của Nga.
Ngoài ra, dự luật sẽ trao cho Tổng thống Mỹ quyền áp thuế quan thứ cấp rất cao đối với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia tiếp tục làm ăn với lĩnh vực năng lượng của Nga.
Phiên bản sửa đổi của dự luật sẽ cho phép Mỹ áp mức thuế quan lên tới 100% đối với 5 quốc gia nhập khẩu nhiều dầu thô và khí đốt tự nhiên của Nga nhất.
Phiên bản ban đầu của dự luật thậm chí đề xuất áp mức thuế tới 500%.
Theo các trợ lý tại Thượng viện Mỹ, 5 nước mua dầu thô Nga nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Slovakia, Hungary và Azerbaijan.
Năm nước nhập khẩu khí tự nhiên của Nga nhiều nhất là Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Hungary và Bỉ.
Một trợ lý Thượng viện giải thích rằng “phần lớn nguồn thu của Nga, đặc biệt là khoản được sử dụng cho cuộc chiến tại Ukraine, đến từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt”, vì vậy dự luật được “thiết kế có mục tiêu rõ ràng”, tập trung vào lĩnh vực này của nền kinh tế Nga.
Theo một trợ lý khác tại Thượng viện, tại Hội nghị thượng đỉnh NATO tuần trước, ông Graham và Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Jeanne Shaheen đã có nhiều cuộc trao đổi cấp cao với các quan chức trong chính quyền ông Trump, trong đó có Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, nhằm thúc đẩy dự luật.
Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Richard Blumenthal, một trong những người bảo trợ chính của dự luật, cho biết các điểm đàm phán với chính quyền ông Trump “chủ yếu mang tính kỹ thuật”. Ông nói rằng trong phiên bản ban đầu của dự luật, hơn 60 quốc gia có thể bị áp thuế.
Tuy nhiên phiên bản mới sửa đổi của dự luật chỉ còn áp thuế với 5 nước mua dầu Nga nhiều nhất và 5 nước mua khí đốt Nga nhiều nhất. Trong đó Trung Quốc đều thuộc cả hai nhóm này.
Ông Blumenthal nói rằng mức thuế cụ thể sẽ do Đại diện Thương mại Mỹ quyết định và dự kiến được ấn định ở “mức phù hợp” để ngăn cản Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khác mua dầu khí Nga.
Hiện chưa rõ khi nào dự luật sẽ được đưa ra bỏ phiếu, nhưng Hãng Reuters dẫn thông tin từ các trợ lý tại Thượng viện Mỹ cho biết dự luật hiện có 26 nghị sĩ đồng bảo trợ và con số này vẫn đang tăng.
Các thượng nghị sĩ tin tưởng dự luật sẽ được thúc đẩy thông qua tại cả Thượng viện lẫn Hạ viện Mỹ sau khi nhận được sự ủng hộ của Tổng thống Donald Trump.
Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Richard Blumenthal cho biết ông tin rằng dự luật này có thể được thông qua “trước tháng 8”.
Ông nói lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện John Thune đã phát tín hiệu “sẵn sàng đưa dự luật ra xem xét khi có đủ số phiếu, và tôi tin rằng chúng tôi đã có đủ số phiếu đó”.
“Dự luật này đã được đàm phán trong gần hai năm, rất công phu, đôi lúc gian nan và kéo dài” – vị thượng nghị sĩ đến từ bang Connecticut nói.
Các thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đều kêu gọi thông qua dự luật này, cho rằng đây là “sự tưởng niệm xứng đáng” dành cho ông Graham.
Ông Blumenthal kể lại ông đã nói chuyện với ông Graham “chỉ vài giờ trước khi ông qua đời” và “chưa từng thấy ông ấy phấn khởi đến vậy, bởi chúng tôi vừa nhận được thông tin Nhà Trắng sẽ ủng hộ dự luật trừng phạt sau quá trình đàm phán lưỡng đảng công phu, đôi lúc khó khăn, với Đại diện Thương mại Mỹ, Nhà Trắng và Bộ Tài chính Mỹ”.
Thượng nghị sĩ Cộng hòa Katie Britt từ bang Alabama – một người đồng bảo trợ khác – cho biết bà đã nói chuyện với ông Graham tối 11-7 và “ông ấy rất hào hứng khi Nhà Trắng đồng ý ủng hộ dự luật trừng phạt Nga”.
“Ông ấy vừa nói chuyện với Tổng thống. Ông nói đây sẽ là thành tựu có ý nghĩa nhất trong sự nghiệp chính trị lâu dài của mình” – bà Britt kể.
Thượng nghị sĩ Cộng hòa Rick Scott từ bang Florida khẳng định ông sẽ ủng hộ dự luật.
Ngày 14-7, Tổng thống Donald Trump bày tỏ lạc quan rằng dự luật sẽ được thông qua và trở thành luật, nhưng gợi ý có thể bổ sung các biện pháp nhằm vào Iran và nhóm vũ trang Hezbollah.
“Tôi tôn trọng Tổng thống, nhưng ông ấy đã chấp thuận dự luật này và chúng ta nên thúc đẩy thông qua dự luật, thay vì mở rộng nó sang những mục tiêu khác” – ông Blumenthal nói với các phóng viên ngày 14-7.
Sáng nay (5.5), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội lên đường thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5-7.5 theo lời mời của Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi.
Kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 7.1.1972 đến nay, quan hệ hai nước đã đạt nhiều dấu ấn nổi bật.
Trả lời Thanh Niên, TS Prakash Panneerselvam (Chương trình Nghiên cứu chiến lược và an ninh - Học viện quốc gia về nghiên cứu tiên tiến, Ấn Độ) nhận định: "Trong thập niên qua, hai nước đã tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh và chiến lược. Trong bối cảnh chính trị toàn cầu còn nhiều bất ổn và môi trường an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng phức tạp, chuyến thăm này có thể tạo động lực mới cho quan hệ đối tác song phương và gắn kết hai nước hơn nữa".
Thực tế, hơn 20 năm qua, quan hệ hai nước liên tục đạt được nhiều tiến bộ đột phá. Cụ thể, tháng 5. 2003, hai nước ký "Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác Toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ XXI".
Chỉ 4 năm sau đó, trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Ấn Độ vào tháng 7.2007, lãnh đạo 2 nước đã chính thức nâng quan hệ lên tầm quan hệ "đối tác chiến lược" với việc tăng cường hợp tác về chính trị theo hướng ngày càng gắn bó và tin cậy.
Chưa đầy 10 năm sau, Trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi diễn ra từ ngày 2 - 3.9.2016, hai nước đã thống nhất nâng cấp quan hệ song phương lên "Đối tác chiến lược toàn diện". Khi đó, Ấn Độ trở thành đối tác chiến lược toàn diện thứ 3 của Việt Nam.
Để tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, tháng 12.2020, hai bên thông qua Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Ấn Độ về Hòa bình, Thịnh vượng và Người dân. Đến ngày 1.8.2024, hai nước tiếp tục thắt chặt quan hệ song phương khi thông qua Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ .
Song song các cuộc thăm viếng lẫn nhau ở cấp lãnh đạo 2 nước liên tục trong 2 thập kỷ qua nhằm không ngừng vun đắp lòng tin, hai nước còn cùng nhau thể chế hóa các quan hệ hợp tác bằng Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Tiểu ban Thương mại Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ.
Hợp tác song phương Việt - Ấn còn được củng cố bằng các nền móng quan trọng như: Tham khảo chính trị và Đối thoại chiến lược; Đối thoại An ninh, Đối thoại Chính sách Quốc phòng; Đối thoại Chính sách đối ngoại; Đối thoại An ninh Biển… Nhờ đó, Việt Nam và Ấn Độ từ nhiều năm qua đã hình thành một mạng lưới ngoại giao và quan hệ toàn diện, đa tầng để thúc đẩy hợp tác đi vào chiều sâu.
Cũng trả lời Thanh Niên, TS Dhruva Jaishankar (Giám đốc Quỹ Nghiên cứu quan sát (ORF) tại Mỹ, đánh giá: "Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ". Trong đó, theo ông, hợp tác kinh tế thương mại đóng vai trò quan trọng.
Quả thực như vậy, quan hệ 2 nước cũng ngày càng được củng cố bằng trụ cột kinh tế. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam - Ấn Độ đạt 16,46 tỉ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2024. Tính trong 3 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 4,8 tỉ USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 2,9 tỉ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ đạt 1,8 tỉ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2025.
Về đầu tư, tính đến tháng 3 vừa qua, các nhà đầu tư Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,117 tỉ USD, đứng thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Theo lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư Ấn Độ đã đầu tư vào 15/21 ngành kinh tế của Việt Nam. Vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 62 dự án và 643,3 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 54,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; đứng thứ hai là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí với 4 dự án, vốn đăng ký 157 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; thứ ba là lĩnh vực khai khoáng với 5 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 95 triệu USD, chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư.
Trong đó, một số dự án tiêu biểu phải kể đến như: Dự án Nhà máy Đường Sơn Hoà tại tỉnh Đăk Lăk với tổng vốn đầu tư đăng ký 94,5 triệu USD; Dự án Công ty TNHH Cà phê Ngon tại tỉnh Đắk Lắk, tổng vốn đầu tư đăng ký 90 triệu USD; Dự án Nhà máy Điện mặt trời Infra 1, tổng vốn đầu tư 71,9 triệu USD tại tỉnh Khánh Hòa.
Ở chiều ngược lại, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 30 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 150,5 triệu USD, đứng thứ 17/88 địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam. Đặc biệt, dự án của Tập đoàn Vingroup xây dựng nhà máy sản xuất xe điện tại bang Tamil Nadu của Ấn Độ và dự kiến nâng tổng mức đầu tư tại Ấn Độ lên 6,5 tỉ USD.
Trả lời Thanh Niên, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) tin rằng: "Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có lẽ sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác thương mại và kinh tế. Hai bên cũng có thể thảo luận các biện pháp nhằm tạo dựng sự ổn định trên thế giới đồng thời củng cố vị thế không liên kết của cả hai nước. Ấn Độ chia sẻ tầm nhìn của Việt Nam hiện nay và cũng hiểu rằng Việt Nam là cửa ngõ quan trọng vào ASEAN. Đây là yếu tố quan trọng trong chính sách 'Hành động hướng Đông' của Thủ tướng Modi".
Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian được cho là đã nộp đơn xin từ chức lên Văn phòng Lãnh tụ tối cao Mojtaba Khamenei trong ngày 31.5.
Theo báo điện tử Iran International có trụ sở tại London (Anh), trong thư, ông Pezeshkian nhấn mạnh rằng tổng thống và chính phủ đã bị loại khỏi quá trình ra quyết định lớn và quan trọng của đất nước, và khoảng trống được tạo ra đã cho phép các phái cứng rắn trong IRGC kiểm soát mọi công việc.
Báo này dẫn nguồn tin cho biết ông Pezeshkian nói rằng dưới hoàn cảnh như vậy, ông không thể điều hành chính phủ và thực hiện bổn phận chính thức nên đã đề nghị từ chức ngay lập tức.
Hiện chưa rõ Lãnh tụ tối cao Mojtaba Khamenei có chấp nhận cho Tổng thống Pezeshkian từ chức hay không, song nội dung của bức thư cho thấy rạn nứt sâu sắc ở cấp quyền lực cao nhất.
Trong một bài đăng trên mạng xã hội X sau đó, Phó ban truyền thông Văn phòng Tổng thống Iran Mehdi Tabatabaei bác bỏ thông tin ông Pezeshkian xin từ chức, gọi đây là "chiêu trò truyền thông" của một số hãng nước ngoài, theo hãng thông tấn Anadolu của Thổ Nhĩ Kỳ.
"Ông Pezeshkian sẽ không từ bỏ nhiệm vụ phục vụ nhân dân Iran và Iran sẽ không rút khỏi con đường thống nhất và đoàn kết", ông Tabatabaei viết. Vị quan chức còn bổ sung rằng những người tìm cách gây ảnh hưởng sự thống nhất quốc gia của Iran một lần nữa "ôm giấc mộng đó xuống mồ".
Thông tin nói trên xuất hiện trong bối cảnh Iran và Mỹ đang tiếp tục đàm phán nhằm chấm dứt xung đột kéo dài từ ngày 28.2. Hai bên ngừng bắn từ ngày 8.4 nhưng vẫn xảy ra một số đợt tấn công qua lại bất chấp tiến trình đối thoại.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi ngày 31.5 nói với truyền thông nhà nước rằng việc trao đổi liên lạc với Mỹ vẫn đang diễn ra và lưu ý không thể đánh giá những suy đoán trong quá trình đàm phán cho đến khi đạt kết quả rõ ràng, theo Reuters.
Ngày 18-4, tờ Wall Street Journal dẫn lời quan chức Mỹ cho biết Washington sẽ tiếp tục tăng sức ép lên Iran thông qua việc truy đuổi các tàu hỗ trợ Tehran trên khắp thế giới.
Theo Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ, đến nay Washington đã chặn 23 tàu tìm cách rời các cảng của Iran trong nỗ lực phong tỏa hàng hải đối với các cảng của Tehran.
Việc mở rộng chiến dịch này sẽ cho phép Mỹ kiểm soát các tàu có liên hệ với Iran trên toàn thế giới, bao gồm cả các tàu chở dầu bên ngoài vùng Vịnh và những tàu chở vũ khí.
Tướng Dan Caine, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân của Mỹ, đã khẳng định Mỹ "sẽ tích cực truy đuổi bất kỳ tàu nào mang cờ Iran, hoặc bất kỳ tàu nào cố gắng cung cấp hỗ trợ vật chất cho Iran".
"Điều này bao gồm cả các tàu thuộc "hạm đội đen" chở dầu của Iran. Như hầu hết các bạn đã biết, tàu thuộc hạm đội đen là những tàu bất hợp pháp hoặc trái phép đang né tránh các quy định quốc tế, lệnh trừng phạt hoặc yêu cầu bảo hiểm", ông Caine nói.
Giữa tuần này, Bộ Tài chính Mỹ thông báo họ đang mở rộng danh sách các tàu, công ty và cá nhân bị trừng phạt để tăng cường áp lực lên hoạt động buôn bán dầu của Iran.
Ngoài ra, quyền Bộ trưởng Tư pháp Todd Blanche cũng cam kết sẽ truy tố bất kỳ ai mua hoặc bán dầu của Iran đang chịu trừng phạt.
Đầu năm nay, quân đội Mỹ đã thể hiện khả năng theo dõi các tàu chở dầu ở bất cứ đâu trên thế giới trong chiến dịch chặn bắt các tàu có liên quan đến Venezuela ở Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương.
Động thái này là một bước trong chiến dịch gây sức ép của Mỹ đối với Tehran, mà các quan chức chính quyền Tổng thống Donald Trump gọi là "Economic Fury" (tạm dịch: Cuồng nộ kinh tế).
Ông Trump tin rằng việc kết hợp phong tỏa hàng hải với áp lực kinh tế sẽ buộc Tehran phải chấp nhận thỏa thuận hòa bình.
Theo ông Mark Nevitt, phó giáo sư luật tại Trường Luật Đại học Emory, cho biết chính quyền ông Trump dường như đang triển khai ba hành động trên biển: phong tỏa gần Iran, khả năng bắt giữ các tàu thuộc hạm đội bí mật ở các khu vực khác trên thế giới và nỗ lực trấn áp hàng lậu, chẳng hạn như các bộ phận tên lửa.
"Đó là một cách tiếp cận tối đa. Nếu muốn gây sức ép lên Iran, phải sử dụng mọi quyền hạn pháp lý mà bạn có để làm điều đó", ông Nevitt nói.