Ông Nguyễn Huy Thắng, nguyên Phó giám đốc – Tổng biên tập NXB Kim Đồng, báo tin nhà giáo, dịch giả Đỗ Ca Sơn qua đời sáng 13.7, tôi không thể tin được dẫu rằng sang năm 2026 sức khỏe của ông có yếu hơn. Vào ngày 7.5, tôi còn đến thăm ông bà và chúc mừng ông – chiến sĩ Điện Biên đích thực đánh đồi A1.
Năm 1950, vừa tròn 18 tuổi, đang học trường Trung học Hàn Thuyên (Bắc Ninh), anh thanh niên Đỗ Ca Sơn viết đơn xung phong tòng quân ra mặt trận. “Là trang nam nhi, quyết chí sa trường, sống chết coi thường. Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai” (Văn Cao: Chiến sĩ Việt Nam).
Ban đầu, ông nhập ngũ tại Đại đoàn 308. Sau đó, ông theo thủ trưởng Đỗ Tần đầu quân sang Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 và gắn bó với đơn vị cho đến kết thúc kháng chiến chống Pháp. Vừa sang đơn vị mới, ông có trận “mở lửa” tại cụm cứ điểm Đông Khê (16 – 18.9.1950) mở màn chiến dịch Biên giới. Từ đây, suốt những năm kháng chiến trường kỳ, ông đã theo đơn vị chiến đấu từ Đông Bắc xuống Đồng bằng sông Hồng, qua Trung du rồi sang Tây Bắc. Đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Năm 2014, tròn 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn viết bài về ông trên báo. Trong bài, tác giả tiết lộ một chi tiết đời thực mà tưởng như đùa: Người chiến sĩ từng chiến đấu quả cảm suốt 38 ngày đêm trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) lại bị từ chối không được tham gia tự vệ chiến đấu của nhà trường trong những năm đế quốc Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc. Hàng chục năm sau, khi ông đã nghỉ hưu, tham gia Thường trực Ban liên lạc Trung đoàn 174, đồng nghiệp cũ ở trường mới biết ông Đỗ Ca Sơn là chiến sĩ Điện Biên thực thụ đã chiến đấu giữ từng tấc đất ở cao điểm phía đông chiến trường Điện Biên Phủ.
Ông Đỗ Ca Sơn bị từ chối bởi chủ nghĩa lý lịch thời đó. Nghe chuyện của ông, tôi nhớ đến 2 câu thơ trong bài “Đi trong rừng” của Nhà thơ Phạm Tiến Duật: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay”.
Tròn 60 năm sau, ông mới nhận lời đề nghị của NXB Kim Đồng chia sẻ những kỷ niệm đời quân ngũ trong một cuốn sách mỏng mang tên “Người lính Điện Biên kể chuyện”.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, vào năm 1955, ông Đỗ Ca Sơn về Hà Nội vào học Trường Ngoại ngữ vừa thành lập do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm Hiệu trưởng. Trường đóng tại Việt Nam học xá – khu vực Đại học Bách khoa hiện nay. Người chiến sĩ trẻ mau chóng tiếp thu tri thức mới từ chân trời của thành trì khối xã hội chủ nghĩa: tiếng Nga.
Tốt nghiệp, ông Đỗ Ca Sơn đỗ thủ khoa và được giữ lại trường giảng dạy cho đến ngày nghỉ hưu. Trước đó, trong đợt xét danh hiệu Nhà giáo ưu tú, ông là một trong số giảng viên đầu tiên Trường đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội được nhận danh hiệu cao quý này.
Mới đây, ông Nguyễn Xuân Hòa, một học trò của nhà giáo Đỗ Ca Sơn viết trên Facebook: “Chúng tôi, những người học trò khóa đầu Khoa Ngoại ngữ (trong đó có tiếng Nga) của Trường đại học Sư phạm Hà Nội, có thật nhiều ân tình với thầy Đỗ Ca Sơn và các thầy cô Việt Nam và Liên Xô ngày ấy (1958 -1960) – những người thầy đầu tiên đã “vỡ lòng” tiếng Nga cho chúng tôi. Từ đó chúng tôi ra trường làm hành trang cho công tác giảng dạy và phiên dịch phục vụ công cuộc phục hồi kinh tế sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc”.
Ông còn là dịch giả của nhiều đầu sách ăn khách nhưng vì dùng bút danh nên nhiều người không biết. Đó là các tác phẩm “Hai vạn dặm dưới biển” (bút danh Lê Anh) và “Người cá” (bút danh Lê Phương). Một tác phẩm khác đầy tính nhân văn là “Tấc đất” nói về chiến tranh vệ quốc của Liên Xô do NXB Quân đội nhân dân cấp phép. Và một cuốn về tình báo là “Hầm bí mật trên sông Enber” từng được dựng thành phim.
Ông từng kể về việc chọn bút danh: Mình là thầy giáo tiếng Nga, tiếng nói của Lênin, vậy lấy chữ Lê ở đầu; còn con gái đầu lòng của ông là Đỗ Huyền Anh, lấy tên con gái ghép vào thành Lê Anh.
Trong tác phẩm “Người cá”, ông lấy bút danh là Lê Phương; họ Lê vẫn là Lenin, còn Phương là tên một người bạn chiến đấu của ông, quê Thái Bình, đã ngã xuống ở Điện Biên Phủ trước ngày cuối cùng của chiến dịch. Kết thúc chiến tranh và nhiều năm sau nữa, ông Đỗ Ca Sơn tìm về tỉnh Thái Bình để hỏi thăm gia đình ông Phương nhưng không ai biết ông Phương ở đâu. Nhớ thương đồng đội hy sinh chỉ đêm trước ngày chiến thắng, ông chọn bút danh Lê Phương.
Sinh thời, ông dặn tôi hạn chế tối đa kể chuyện cá nhân về ông. Ngay cuốn sách “Người lính Điện Biên kể chuyện” ông cũng đề nghị tôi để lại nhiều mẩu chuyện riêng. Thuyết phục mãi, tôi mới đưa được câu chuyện ông ngồi đọc “Buồn ơi chào nhé” ở phút ngưng giữa chiến hào. Vì sao ông không muốn in vào sách? Ông ngại rằng, một số đồng đội của ông vốn xuất thân công nông sẽ hiểu lầm rằng ông khoe khoang mình giỏi tiếng Pháp. Ôi chao, ông giữ gìn đến vậy và tôn trọng đồng đội cho đến cả khi những đồng đội của ông cứ lần lượt ra đi, ông vẫn giữ gìn từng lời nói.
Ngày mai, thân xác ông sẽ hóa thân để rồi ngủ yên vĩnh viễn trong lòng đất quê hương, tinh anh vút về trời xanh.
Tin Gốc: Thanh Niên




