Cuộc khủng hoảng Iran – Mỹ đang mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn không lối thoát, với áp lực ngày càng đè nặng lên cả hai phía.
Chỉ vài giờ trước khi vòng đàm phán thứ hai tại Islamabad (dự kiến diễn ra vào ngày 22-4), Iran và Mỹ đồng loạt rút lui.
Tổng thống Mỹ Donald Trump lập tức gia hạn vô thời hạn lệnh ngừng bắn theo yêu cầu của Pakistan, trong khi chờ một “đề xuất thống nhất” từ Tehran, nhưng lệnh phong tỏa hải quân vẫn được duy trì.
Đây không chỉ là một bước trì hoãn ngoại giao, mà còn là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng đang leo thang khi cả hai bên đều không sẵn sàng nhượng bộ.
Yêu cầu của ông Trump về một “đề xuất thống nhất” từ Tehran hé lộ những chia rẽ sâu sắc trong nội bộ Iran.
Theo nhà phân tích Shahram Kholdi trên tờ Iran International ngày 21-4, các nhân vật cấp cao trong Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) – bao gồm tân chỉ huy Vahidi và Cố vấn An ninh quốc gia Zolghadr – đã phủ quyết mọi nhượng bộ trong đàm phán.
Ông Kholdi nhận định: “Quyền lực bị chia rẽ, phái đoàn của Chủ tịch Quốc hội Ghalibaf không thể trói buộc Nhà nước”. Trang Axios và Đài CNN cũng xác nhận IRGC nhất quyết không tiếp xúc với Mỹ chừng nào lệnh phong tỏa còn hiệu lực.
Hãng tin Bloomberg cho biết Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian và Ngoại trưởng Abbas Araghchi nghiêng về phía đạt thỏa thuận, song tiếng nói của họ chưa đủ trọng lượng.
Về kinh tế, Iran đang chịu sức ép nghiêm trọng. Mức tiêu thụ nhiên liệu trong chiến tranh lên tới 197 triệu lít/ngày, trong khi sản lượng chỉ đạt 120 triệu lít.
Người phát ngôn Chính phủ Iran ước tính tổng thiệt hại chiến tranh tính đến ngày 18-4 vào khoảng 270 tỉ USD – tương đương 57% GDP và gần gấp ba lần ngân sách chính phủ.
Tại Mỹ, áp lực lên Nhà Trắng cũng không kém phần gay gắt. Các báo, tạp chí như New York Times, TIME và Foreign Policy đồng loạt chỉ trích chiến dịch là “ngõ cụt chiến lược”: eo biển Hormuz chưa mở, giá xăng tăng cao, và chính quyền thiếu kế hoạch rõ ràng.
Bloomberg dẫn kết quả thăm dò cho thấy hơn 70% người Mỹ phản đối chiến tranh với Iran, trong khi xung đột đã kéo dài vượt khung thời gian bốn đến sáu tuần mà ông Trump ban đầu đặt ra.
Nhà khoa học chính trị Gevorg Mirzayan nhận định trên News.ru: “Ông Trump cần một chiến thắng nhanh chóng, nếu không sẽ đối mặt nguy cơ bị luận tội. Còn Tehran không muốn bị cáo buộc là yếu đuối. Tìm ra thỏa hiệp sẽ rất khó, phần lớn vì Israel sẵn sàng phá hoại bất kỳ thỏa thuận nào”.
Hòa đàm đang kẹt trong vòng luẩn quẩn: Iran yêu cầu Mỹ dỡ phong tỏa hải quân trước khi nối lại đàm phán, còn ông Trump tuyên bố việc dỡ phong tỏa sẽ khiến mọi thỏa thuận trở nên bất khả thi.
Hệ quả là IRGC tuyên bố đóng cửa trở lại eo biển Hormuz ngày 18-4, khiến tuyến đường hàng hải chiến lược này thực sự “tê liệt” – theo CNN dẫn nguồn từ trang theo dõi hàng hải MarineTraffic.
Bộ Tư lệnh trung tâm Mỹ cho biết đã ra lệnh cho 28 tàu quay đầu hoặc trở về cảng kể từ khi lệnh phong tỏa có hiệu lực.
Mỹ còn mở rộng phong tỏa ra phạm vi quốc tế. Ngày 21-4, tàu chở dầu Tifani bị lực lượng Mỹ bắt giữ trong vùng trách nhiệm của Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Trước đó, tàu buôn Touska của Iran cũng bị bắt giữ ở Vịnh Oman ngày 19-4. Tờ New York Times dẫn lời tướng Dan Kaine, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, tuyên bố các lực lượng Mỹ bên ngoài Trung Đông sẽ tham gia vào các hoạt động ngăn chặn vận chuyển hàng hóa của Iran – cho thấy phong tỏa đang được triển khai trên quy mô toàn cầu.
Viện RUSSTRAT của Nga cảnh báo: “Nếu Mỹ không phải trả giá trong vấn đề Iran, hành động này sẽ lan sang cả thương mại hàng hải của Trung Quốc và Nga”.
Từ châu Âu, Cao ủy Đối ngoại EU Kaja Kallas thông báo sau cuộc họp ngoại trưởng EU ngày 21-4 tại Luxembourg rằng khối này dự kiến thông qua gói trừng phạt mới nhắm vào các đối tượng liên quan đến việc hạn chế hàng hải tại Hormuz vào tháng 5.
Đây là bước leo thang tiếp nối sau khi EU đã thông qua hai gói trừng phạt đối với Iran hồi tháng 1-2026 nhắm vào 19 cá nhân và 12 tổ chức với lý do hỗ trợ quân sự cho Nga và đàn áp biểu tình trong nước.
Tuy nhiên, nhà khoa học chính trị Gevorg Mirzayan nhận định châu Âu khó đóng vai trò quyết định nào trong cuộc đối đầu này.
Năm 2025, 58% khí hóa lỏng của EU có nguồn gốc từ Mỹ – con số dự kiến tăng lên 65% vào cuối năm – khiến Brussels thiếu đòn bẩy chính trị thực chất để tác động lên Washington.
Armenia là thành viên của một liên minh kinh tế do Nga dẫn đầu và phụ thuộc rất nhiều vào Nga về nguồn cung năng lượng, nhưng trong những năm gần đây, Armenia đã tìm cách thắt chặt quan hệ với Liên minh châu Âu (EU), bao gồm việc năm ngoái thông qua luật để khởi động quá trình gia nhập EU, theo Reuters.
"Có một mức giá rất, rất hấp dẫn và hơn cả ưu đãi về khí đốt của Nga. Nhưng, tất nhiên là những điều khoản như thế không dành cho những nước tham gia các liên minh hội nhập khác. Ở đó, mức giá hoàn toàn khác, theo thị trường", phát ngôn viên Điện Kremlin Dmitry Peskov phát biểu với các phóng viên khi được hỏi về quan hệ với Armenia.
Vào đầu tháng trước, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nêu vấn đề giá khí đốt tại cuộc gặp với Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan, nói rằng Yerevan đã trả 177,50 USD (hơn 4,6 triệu đồng) cho 1.000 m3 khí đốt từ Nga, trong khi giá ở châu Âu là hơn 600 USD. Nhà lãnh đạo Nga cũng nói với các phóng viên vào ngày 9.5 rằng việc Armenia tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về nguyện vọng gia nhập EU của nước này là "hợp lý".
Trong khi đó, Ngoại trưởng Armenia Ararat Mirzoyan khẳng định Armenia không có ý định cắt đứt quan hệ chính trị và kinh tế với Nga. "Chúng tôi muốn và sẽ nỗ lực để duy trì và làm sâu sắc thêm mối quan hệ bình thường giữa hai bên", Hãng thông tấn Nga Interfax dẫn lời ông Mirzoyan nói với các phóng viên tại thủ đô Yerevan hôm 25.5.
Hôm nay 26.5, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio dự kiến sẽ đến thăm Armenia để hội đàm với ông Mirzoyan, theo thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ. Hai bên dự kiến tham dự lễ ký kết biên bản ghi nhớ, nhưng thông báo không cung cấp chi tiết.
Theo Báo điện tử Chính phủ, sáng 17-6 trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự và phát biểu tại lễ khai mạc Diễn đàn Kinh doanh ASEAN - Nga, có chủ đề "Quan hệ đối tác không biên giới".
Thủ tướng bày tỏ vui mừng tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp ASEAN - Nga tại thành phố Kazan - điểm kết nối quan trọng giữa châu Âu và châu Á, giữa truyền thống và đổi mới sáng tạo.
Theo ông, diễn đàn là dịp để cùng chia sẻ những định hướng chiến lược vì hợp tác tương lai rộng lớn hơn, thực chất hơn, kết nối hơn và có khả năng chống chịu cao hơn trước những biến động toàn cầu.
Thủ tướng chỉ ra trước những biến chuyển nhanh chóng và phức tạp hiện nay, nhu cầu phát triển đối tác tin cậy, thị trường ổn định và chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu cao đang cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trên cơ sở những tiềm năng và tính bổ trợ giữa ASEAN và Nga, Thủ tướng chia sẻ một số định hướng hợp tác trọng tâm trong thời gian tới.
Thứ nhất, Thủ tướng đề nghị phát triển các chuỗi cung ứng bền vững, gia tăng giao thương và đầu tư.
ASEAN và Nga cần hợp tác xây dựng các chuỗi cung ứng ổn định, linh hoạt và có khả năng chống chịu cao trước các biến động bên ngoài.
Việc phát triển các tuyến vận tải kết nối Viễn Đông Nga với Đông Nam Á, bao gồm cảng biển, đường sắt sẽ không chỉ giúp xóa nhòa khoảng cách địa lý, tạo thuận lợi cho thương mại, mà còn mở ra nhiều cơ hội hợp tác và đầu tư cho cộng đồng doanh nghiệp hai bên.
Doanh nghiệp hai bên cần tận dụng hiệu quả hơn nữa các khuôn khổ hợp tác, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) với một số nước ASEAN.
Việt Nam sẵn sàng đóng vai trò cầu nối, góp phần thúc đẩy hợp tác thương mại và đầu tư giữa ASEAN với EAEU nói chung và với Nga nói riêng.
Thứ hai là đưa năng lượng trở thành một trụ cột hợp tác chính trong quan hệ ASEAN - Nga.
Theo Thủ tướng, an ninh năng lượng là một trong những thách thức cấp bách nhất đối với tăng trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia.
Tiềm năng cho đầu tư và hợp tác giữa ASEAN và Nga còn rất lớn, nhất là trong phát triển năng lượng sạch, LNG, hydrogen, điện gió ngoài khơi, công nghệ tiết kiệm năng lượng.
Cho biết năng lượng là một trụ cột hợp tác quan trọng giữa Việt Nam và Nga, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Nga và các nước ASEAN phát triển các dự án hợp tác thực chất, nhất là trong năng lượng sạch, công nghệ xanh, đóng góp vào ổn định và an ninh năng lượng khu vực.
Thứ ba là thúc đẩy hợp tác về công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng là một trong những thị trường số phát triển nhanh nhất thế giới. Tại Việt Nam, đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ được xác định là những động lực then chốt cho phát triển trong giai đoạn mới.
Trên tinh thần đó, Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng tạo điều kiện để các doanh nghiệp Nga tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, giáo dục số và y tế số.
Thủ tướng cũng đề nghị ASEAN và Nga thúc đẩy các chương trình hợp tác đổi mới, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp trẻ, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động, kết nối chặt chẽ cộng đồng doanh nghiệp hai bên.
Nhấn mạnh Chính phủ các nước có trách nhiệm tạo môi trường ổn định, minh bạch và thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, song chính doanh nghiệp là lực lượng tiên phong đưa quan hệ hợp tác đi vào thực chất, gắn kết các nền kinh tế, Thủ tướng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp ASEAN và Nga sẽ tiếp tục đầu tư dài hạn và cùng xây dựng các chuỗi giá trị mới cho tương lai đem lại lợi ích chung.
Việt Nam sẵn sàng cùng Nga và các nước ASEAN biến tiềm năng thành dự án cụ thể, biến kết nối thành cơ hội kinh doanh, và biến lòng tin thành động lực tăng trưởng mới.
Ông Andy Burnham chính thức trở thành Thủ tướng thứ bảy của Anh trong một thập kỷ qua, kế nhiệm ông Keir Starmer trong bối cảnh nước này đang vật lộn với nền kinh tế trì trệ, áp lực chi phí sinh hoạt, tranh cãi về nhập cư và quốc phòng.
Những quyết định đầu tiên của ông được cho là sẽ định hình hướng đi của nước Anh trong nhiều năm tới.
Trong bài phát biểu đầu tiên khi nhậm chức tại số 10 phố Downing ngày 20-7, ông Burnham khẳng định nước Anh cần "thẳng thắn nhìn nhận" những khó khăn đang đối mặt, qua đó cam kết sẽ mang lại những thay đổi rõ rệt cho đời sống người dân.
Theo tờ New York Times, thách thức lớn nhất của vị tân Thủ tướng là vực dậy nền kinh tế sau nhiều năm tăng trưởng ì ạch. Mức sống của người dân Anh gần như không cải thiện kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sau đó tiếp tục chịu tác động của Brexit và đại dịch COVID-19.
Gần đây, cuộc chiến Mỹ - Iran càng khiến triển vọng kinh tế thêm u ám khi tăng trưởng được dự báo chậm lại, trong lúc lạm phát có xu hướng tăng lên.
Để giảm gánh nặng chi phí sinh hoạt, ông Burnham dự kiến sẽ công bố các biện pháp hạ hóa đơn năng lượng, xem xét giảm giá vé xe buýt và thúc đẩy phân quyền, chuyển thêm nguồn lực cho chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, dư địa tài khóa của chính phủ rất hạn chế. Ông Burnham cam kết giữ lời hứa tranh cử của Công Đảng là không tăng thuế VAT, thuế thu nhập và bảo hiểm quốc gia. Điều này khiến việc tìm nguồn lực cho các chương trình cải cách trở nên khó khăn hơn.
Dù không loại trừ khả năng áp dụng thuế tài sản đối với người giàu trong tương lai, ông Burnham cho biết chỉ cân nhắc nếu thực sự cần thiết.
Bên cạnh kinh tế, các vấn đề đối ngoại sẽ nhanh chóng thử thách vị tân Thủ tướng, dù đây không phải lĩnh vực ông có nhiều kinh nghiệm.
Hãng tin AP đưa tin tân Thủ tướng Anh vẫn duy trì lập trường ủng hộ Ukraine, tiếp tục cam kết với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và duy trì lực lượng răn đe hạt nhân. Với xung đột tại Ukraine và Trung Đông, Anh sẽ phải dành nhiều nguồn lực hơn cho quốc phòng.
Chính phủ tiền nhiệm từng công bố kế hoạch tăng thêm 15 tỉ bảng Anh (khoảng 20 tỉ USD) cho ngân sách quốc phòng trong bốn năm tới, khiến con số ngân sách lên kỷ lục 300 tỉ bảng Anh (397 tỉ USD), nhưng chưa xác định rõ nguồn tiền sẽ đến từ đâu.
Việc cân đối ngân sách quốc phòng với các lĩnh vực khác như y tế, phúc lợi hay giáo dục sẽ là một bài toán khó đối với ông Burnham.
Song song đó là quan hệ với Tổng thống Donald Trump. Trước đây ông Burnham từng công khai chỉ trích ông Trump, song hiện tại nhà lãnh đạo khẳng định sẽ nỗ lực duy trì "mối quan hệ đặc biệt" giữa Anh và Mỹ, đồng thời sẵn sàng hợp tác trên các vấn đề an ninh như bảo đảm tự do hàng hải tại eo biển Hormuz.
Một phép thử khác với ông Burnham trong thời gian tới sẽ là chính sách năng lượng. Khác với lập trường cứng rắn trước đây của Công Đảng, ông Burnham được cho là sẽ cho phép mở rộng khai thác dầu khí tại các mỏ hiện có ở Biển Bắc, nhằm tăng nguồn cung năng lượng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Động thái này đã ngay lập tức gây ra phản ứng trái chiều, một số nghị sĩ Công Đảng và tổ chức môi trường đã lên tiếng phản đối.
Nhập cư tiếp tục là chủ đề nhạy cảm trong chính trường Anh.
Nhờ các biện pháp siết chặt từ nhiều năm trước, lượng người nhập cư ròng ở Anh đã giảm mạnh từ hơn 900.000 người năm 2023 xuống còn khoảng 171.000 người trong năm ngoái. Số người vượt eo biển Manche bằng xuồng nhỏ cũng giảm khoảng 40% so với cùng kỳ năm trước.
Dù vậy, khảo sát dư luận cho thấy đây vẫn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của cử tri Anh.
Ông Burnham khẳng định lượng nhập cư ròng cần tiếp tục giảm và nhiều khả năng sẽ duy trì phần lớn chính sách cứng rắn của chính phủ tiền nhiệm, bao gồm siết điều kiện để người nhập cư hợp pháp được cấp quyền cư trú vĩnh viễn.
Cách tiếp cận này cũng vấp phải phản đối từ các nghị sĩ cấp tiến trong Công Đảng, buộc ông Burnham phải tìm điểm cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát nhập cư và duy trì sự đoàn kết trong đảng.
Một trong những gánh nặng lớn nhất đối với ngân sách Anh hiện nay là hệ thống phúc lợi xã hội.
Chi tiêu dành cho trợ cấp đang tăng nhanh, do số người trong độ tuổi lao động xin hỗ trợ vì các vấn đề sức khỏe tâm thần ngày càng nhiều. Trong khi đó tới hơn một nửa ngân sách an sinh xã hội được dành cho người nghỉ hưu, thông qua lương hưu và các khoản trợ cấp khác.
Việc già hóa dân số cùng cơ chế "triple lock", theo đó lương hưu hằng năm luôn được điều chỉnh theo mức tăng cao nhất trong ba chỉ số kinh tế, tiếp tục khiến chi phí ngân sách tăng mạnh.
Kiểm soát các khoản chi này sẽ giúp chính phủ có thêm nguồn lực cho những ưu tiên khác như xây dựng nhà ở xã hội hay cải thiện dịch vụ công. Tuy nhiên vấn đề này được đánh giá là cực kỳ nhạy cảm về chính trị. Người tiền nhiệm Keir Starmer từng phải rút lại kế hoạch cải cách phúc lợi, sau khi vấp phải sự phản đối mạnh mẽ ngay trong chính nội bộ đảng.