Theo dữ liệu mới từ Cơ quan Di trú, Tị nạn và Quốc tịch Canada (IRCC), trong năm 2025, số giấy phép du học (study permit) cấp mới khoảng 75.000. Số này chỉ bằng 36% của cùng kỳ năm ngoái, đạt 25% kế hoạch của Chính phủ và thấp nhất trong một thập kỷ qua.
Tỷ lệ phê duyệt với sinh viên Ấn Độ – nguồn cung lớn nhất, rơi thẳng đứng, từ 69% của năm 2024 xuống còn 25-27%. Ở chiều người lại, du học sinh từ Pháp, Mỹ và Hàn Quốc vẫn ổn định, với 94-96% đơn được duyệt.
Lý do chính dẫn đến sụt giảm là lượng đơn xin gia hạn visa của sinh viên cũ tăng. Theo chuyên trang về giáo dục đại học ApplyBoard, nhóm này chiếm tới 73% tổng số giấy phép bậc sau trung học được phê duyệt trong năm qua.
Giải thích, Meti Basiri, CEO của ApplyBoard, nói khi số lượng sinh viên gia hạn tăng lên, hạn ngạch dành cho nhóm từ nước ngoài nộp đơn mới sẽ bị thu hẹp lại.
Ngoài ra, hơn 75% trường hợp bị từ chối visa trong năm 2024 là do nhân viên lãnh sự nghi ngờ ứng viên sẽ không rời Canada sau khi học xong. Cũng nhiều hồ sơ bị loại vì không chứng minh được năng lực tài chính.
Chuyên gia cho rằng biến động về chính sách và sự sụt giảm số lượng sinh viên quốc tế ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch tài chính của các trường, đồng thời làm giảm sức hút của Canada. Nhu cầu du học Canada đã giảm tới 55% trong năm qua.
Ông Basiri lo ngại điều này đe dọa “nguồn cung nhân tài” của Canada trong bối cảnh dân số đang già hóa và thiếu hụt lao động.
Tuy nhiên, ông cũng thấy một số điểm tích cực khi IRCC đơn giản hóa quy trình cấp giấy phép làm việc thực tập (co-op) và khuyến khích các trường đầu tư vào công cụ sàng lọc, ưu tiên các ngành học mà thị trường lao động đang có nhu cầu cao.
Tổng số sinh viên có giấy phép du học Canada năm 2025 là khoảng 690.000, giảm so với mức hơn một triệu của các năm trước.
Tin Gốc: Vnexpress

Suốt hai năm nay, trừ những kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, tháng nào trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng xét và cấp bằng cho ít nhất 16 sinh viên, nhiều nhất hơn 2.300 em.
"Nếu chỉ 1-2 sinh viên có nhu cầu, nhà trường vẫn tổ chức", PGS. TS Nguyễn Văn Thụ, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nói.
Cách làm này thuộc diện hiếm, bởi các trường đại học thường có 1-4 đợt xét tốt nghiệp mỗi năm, phổ biến là hai đợt.
Ông Thụ cho biết lý do là lịch tuyển dụng của các cơ quan khác nhau. Cụ thể là ngành Sư phạm, mỗi tỉnh, thành hay trường học có lịch riêng theo nhu cầu chứ không cố định.
"Việc cấp bằng tốt nghiệp kịp thời giúp sinh viên có thể nộp hồ sơ tuyển dụng ngay", ông Thụ đánh giá. Bên cạnh đó, sinh viên có nguyện vọng học lên thạc sĩ, tiến sĩ cũng kịp thời tham gia xét tuyển.
Nguyễn Phúc Sơn, giáo viên tại Tây Ninh, tốt nghiệp xuất sắc ngành Sư phạm Tiếng Anh, năm ngoái, cho biết nộp hồ sơ xét tốt nghiệp vào tháng 9 thì đến tháng 10 nhận được chứng nhận tốt nghiệp tạm thời. Một tháng sau, Sơn có bằng chính thức.
Nếu đợi nhận bằng vào lễ tốt nghiệp, nam sinh có thể phải chờ thêm 7 tháng nữa, sang tháng 6 của năm sau. Nhờ sự linh hoạt trong xét và cấp bằng tốt nghiệp của trường, Sơn thuận lợi rải đơn xin việc.
Theo ông Thụ, dù thuận lợi nhưng cách làm trên khiến thầy cô vất vả hơn khi phải "gánh" thêm nhiều việc. Mỗi tháng, trường đều phải thành lập hội đồng xét tốt nghiệp để rà soát các điều kiện, xét các chuẩn đầu ra...
"Các dữ liệu phải cập nhật liên tục, đảm bảo chính xác tuyệt đối, kịp tiến độ xét tốt nghiệp hàng tháng", ông Thụ nói.
Động lực của trường là những phản hồi tích cực từ phụ huynh và sinh viên. Ông Thụ kể có phụ huynh đến trường để cảm ơn, ôm chầm lấy hiệu trưởng khi gặp ở sân trường. Có người mẹ mắc bệnh hiểm nghèo, mong mỏi được nhìn thấy bằng tốt nghiệp đại học của con trước khi mất.
"Việc nhận bằng kịp thời giúp sinh viên thực hiện được mong muốn, phụ huynh rất cảm động", ông chia sẻ.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trong các trường đào tạo giáo viên chủ chốt của cả nước. Ngoài khối ngành này, trường có một số ngành ngôn ngữ, kỹ thuật, công nghệ thông tin, mỗi năm khoảng 1.000-3.000 sinh viên tốt nghiệp.
Tin Gốc: Vnexpress

PGS. TS Nguyễn Hữu Cương, Hiệu trưởng trường Đại học Phương Đông, đưa ra nhận định trên tại ngày hội khám phá các ngành học, nghề nghiệp - Future Fest, ngày 24/4.
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường không được tăng chỉ tiêu tuyển sinh nếu có hơn 15% sinh viên thôi học ngay trong năm đầu. Ông Cương đánh giá con số này là có cơ sở.
Số liệu tổng hợp của Tập đoàn Giáo dục Văn Lang, dựa trên các nghiên cứu trong nước và quốc tế, cho thấy khoảng 50% sinh viên cảm thấy lựa chọn ngành học ban đầu chưa phù hợp. Trong đó, 15% muốn đổi ngành ngay từ năm nhất đại học.
"Đây là sự lãng phí rất lớn về cả thời gian và tiền bạc", ông Cương nói.
Nguyên nhân dẫn đến chọn sai ngành, theo ông Cương là do học sinh chưa được định hướng nghề nghiệp tốt, chưa hiểu rõ bản chất ngành nghề và đưa ra quyết định dựa trên thông tin một chiều. Đặc biệt, rất nhiều học sinh chọn ngành theo ý bố mẹ.
Ông lấy ví dụ trường hợp cả nhà theo ngành Kế toán nên rất muốn con theo ngành đó. Thế nhưng sau khi vào học, sinh viên thấy không thích mà muốn theo đuổi các ngành ngôn ngữ. Nếu cố học, em này có thể đạt điểm thấp, thậm chí không thể ra được trường.
40 năm làm việc trong ngành Y, trong đó nhiều năm giảng dạy tại Đại học Y Hà Nội, TS Đặng Thị Ngọc Dung, Viện Karolinska, Thụy Điển, cũng thấy vấn đề tương tự.
Không có khảo sát chính thức nào từ các trường Y về lựa chọn ngành, nghề của sinh viên. Tuy nhiên, theo bà Dung, rất nhiều gia đình muốn con học Y vì "đây là nghề có nhiều hào quang mà cả dòng họ chưa ai học".
Bà Dung nhớ mãi một sinh viên do mình phụ trách bị trượt một môn ba lần. Đến năm thứ 5, em này nợ tới 5 môn chuyên ngành. Khi được hỏi, nam sinh bật khóc, thừa nhận không thích học Y mà muốn làm nhà văn, nhưng bị gia đình ép theo ngành. Áp lực từ bố mẹ quá lớn khiến em không dám tự ý chuyển trường, suy kiệt cả về thể chất và tinh thần.
"Những năm tháng tuổi trẻ lẽ ra phải được hạnh phúc thì em ấy lại sống trong khổ sở và vật vã với một ngành học không thuộc về mình", bà Dung nhìn nhận.
Bà khuyên phụ huynh trở thành những "nhà đầu tư thiên thần", đầu tư niềm tin và thông tin cho con, cùng con đặt câu hỏi để tìm hiểu ngành nghề yêu thích, thay vì áp đặt ước mơ của mình lên vai con.
Với học sinh, ông Cương khuyên tìm hiểu ngành nghề một cách thực chất, thay vì chỉ tham khảo thông tin qua website các trường đại học.
Ở ngày hội Future Fest, học sinh được nghe các chuyên gia đầu ngành chia sẻ thông tin, được "chạm tay" trực tiếp vào robot, mô hình công trình hay thử học một ngôn ngữ. Các trường khác cũng tổ chức nhiều hoạt động tương tự. Nếu tham gia, học sinh hình dung tốt hơn về ngành, nghề.
Nói thêm, bà Nguyễn Thị Liên, Giám đốc Chiến lược và Chuyển đổi, Công ty Cổ phần Công nghệ Viindoo, lưu ý học sinh tìm kiếm thông tin trên các nền tảng, diễn đàn về nghề nghiệp để xem mô tả công việc, yêu cầu tuyển dụng, mức lương... , thay vì lựa chọn cảm tính hoặc nghe theo lời khuyên của bố mẹ.
Còn nếu chọn sai, ông Cương cho rằng các sinh viên nên mạnh dạn thay đổi sớm, đồng thời trao đổi với giảng viên, gia đình để được hỗ trợ tìm hướng phù hợp.
Bà Liên đồng tình. Theo bà, điều quan trọng là dám thử và khi thử phải làm đến cùng, phát huy khả năng học hỏi, thích nghi. Khi không thấy hợp thì sinh viên có thể chuyển.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn toán phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền

Đối sánh môn toán giai đoạn 2021-2025 cho thấy chất lượng có sự phân hóa rõ giữa các vùng, miền, thậm chí trong nhóm thành phố trực thuộc T.Ư cũng tồn tại khoảng cách đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận sâu hơn, không chỉ ở điểm thi mà ở cấu trúc chất lượng dạy học và các yếu tố hệ thống phía sau.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn chi phối đời sống, môn toán giữ vai trò nền tảng trong giáo dục phổ thông (GDPT). Không chỉ dừng ở tính toán, toán học rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi của tư duy khoa học và tư duy thuật toán.
Toán học là ngôn ngữ của khoa học – công nghệ, hiện diện trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, kỹ thuật, tài chính hay y học. Vì vậy, chất lượng dạy và học toán ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nguồn nhân lực công nghệ, đặc biệt là AI.
Nhiều quốc gia đã đổi mới mạnh mẽ dạy và học toán theo hướng phát triển năng lực: giảm ghi nhớ máy móc, tăng cường giải quyết vấn đề thực tiễn, mô hình hóa, tư duy thống kê và ứng dụng công nghệ số. Học sinh được khuyến khích khám phá, thảo luận, trình bày nhiều cách giải, làm dự án thực tiễn, thay vì học công thức, giải đề.
Chương trình GDPT 2018 đã tiếp cận theo hướng này. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn phụ thuộc lớn vào năng lực giáo viên, điều kiện dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chính vì vậy, kết quả thi toán còn là "tấm gương" của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Trong kỷ nguyên số, toán là nền tảng để làm chủ công nghệ và giữ vai trò then chốt trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, so sánh toàn quốc chưa phản ánh rõ khác biệt vùng miền, nên cần đối sánh theo nhóm địa phương có điều kiện tương đồng.
Trước ngày 1.7.2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc T.Ư. Sau mốc này, có thêm 6 tỉnh được sáp nhập vào 6 thành phố. Vì vậy, khi phân tích kết quả môn toán giai đoạn 2021–2025, cần đặt trong bối cảnh nhóm 12 địa phương, để bảo đảm tính hợp lý thực tiễn phát triển giáo dục.
Điểm trung bình của nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm toán của 12 địa phương theo từng năm, trong khi mức trung bình cả nước là kết quả của 63 địa phương. Kết quả cho thấy điểm trung bình của nhóm luôn cao hơn mặt bằng chung cả nước.
Tính bình quân 5 năm, mỗi địa phương được lấy điểm trung bình của 5 năm liên tiếp. Nhóm 12 địa phương đạt mức 6,24 điểm, cao hơn mức 5,93 của cả nước khoảng 0,3 điểm. Dù không lớn, khoảng cách này cho thấy đây là nhóm có chất lượng dạy và học toán khá tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đội ngũ giáo viên ở các đô thị, địa phương phát triển.
Tuy nhiên, chênh lệch trong nhóm vẫn rõ rệt. So với mức trung bình cả nước, có 10 địa phương cao hơn, trong khi Hậu Giang và Sóc Trăng thấp hơn. Nếu so với mức trung bình của nhóm, chỉ 7 địa phương vượt lên, chủ yếu là các đô thị lớn và địa phương có điều kiện kinh tế tốt như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và các tỉnh công nghiệp. Những nơi này có hệ thống trường học đa dạng, môi trường cạnh tranh và khả năng tiếp cận giáo dục STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) tốt hơn.
Ngược lại, các địa phương như Huế, Cần Thơ, Quảng Nam, Hậu Giang, Sóc Trăng có điểm thấp hơn trung bình nhóm, chủ yếu do còn nhiều khu vực khó khăn, điều kiện dạy và học hạn chế.
Khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất lên tới hơn 1,2 điểm, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện phát triển và chất lượng giáo dục. Nhìn chung, các vùng kinh tế phát triển vẫn có lợi thế rõ rệt, trong khi một số khu vực còn nhiều thách thức. Dữ liệu điểm và thứ hạng môn toán của 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Nếu đặt kết quả môn toán năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư (mới) trong tương quan xếp hạng với 34 tỉnh, thành phố mới sau sáp nhập, có thể rút ra một số nhận định tổng quan sau.
Trước hết, phần lớn các thành phố trực thuộc trung ương đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môn toán. Hà Nội đạt 5,29 điểm (hạng 2/34), TP.HCM 5,26 điểm (hạng 3/34), và Hải Phòng 5,13 điểm (hạng 4/34). Ba đô thị lớn này đều thuộc top 5, cho thấy lợi thế rõ rệt về dạy và học toán.
Tiếp theo là Huế (4,90 điểm, hạng 7) và Đà Nẵng (4,89 điểm, hạng 8), tiếp tục khẳng định mặt bằng dạy học toán ở các đô thị lớn nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước.
Trong khi đó, Cần Thơ chỉ đạt 4,32 điểm, xếp hạng 27/34, thấp hơn đáng kể. Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi điểm toán thường thấp hơn nhiều vùng khác.
Nhìn tổng thể, 5/6 thành phố trực thuộc T.Ư nằm trong top 10 toàn quốc về môn toán năm 2025, cho thấy lợi thế của đô thị lớn về điều kiện giáo dục, đội ngũ và môi trường học tập. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Cần Thơ và các thành phố còn lại cũng cho thấy chênh lệch vùng miền vẫn tồn tại.
Đáng lưu ý, sau sáp nhập, sự chênh lệch này có thể bị "che lấp" trong số liệu trung bình. Nếu thiếu phân tích chi tiết theo vùng, nguy cơ bỏ sót các "vùng trũng" giáo dục là rất lớn.
Để lý giải sự khác biệt trên, cần nhìn từ 3 cấp độ: lớp học, nhà trường và hệ thống.
Ở cấp lớp học, phương pháp dạy học vẫn là yếu tố quyết định. Nhiều nơi vẫn nặng về luyện tập dạng bài, trong khi yêu cầu mới là phát triển tư duy và năng lực. Khi đề thi thay đổi, những hạn chế này bộc lộ rõ và những học sinh yếu sẽ mất tự tin khi gặp dạng đề thi mới.
Ở cấp nhà trường, sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, quy mô lớp học, và văn hóa học tập ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Những trường có môi trường học tập tích cực, chú trọng STEM thường có kết quả tốt hơn.
Ở cấp hệ thống, việc phân bổ giáo viên, đầu tư nguồn lực và chính sách hỗ trợ vùng khó khăn đóng vai trò then chốt. Những địa phương thiếu giáo viên toán giỏi thường gặp khó khăn kéo dài, khó cải thiện trong ngắn hạn.

