Một câu người Việt xưa nhắc đi nhắc lại qua nhiều thế hệ là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Câu nói ngắn gọn nhưng đi trước rất nhiều nhận thức hiện đại về y học dự phòng.
Ông bà mình ngày trước không có đồng hồ thông minh để đo nhịp tim, không có ứng dụng theo dõi giấc ngủ, không có xét nghiệm gene dự báo nguy cơ bệnh tật, nhưng họ hiểu một điều rất căn bản: giữ gìn sức khỏe phải bắt đầu từ những điều nhỏ mỗi ngày như ăn uống điều độ, lao động vừa sức, ngủ nghỉ đúng giờ, sống thuận tự nhiên.
Đời người khỏe mạnh được tạo dựng từ căn bếp, sân nhà, thói quen sinh hoạt và cách mỗi người đối xử với cơ thể mình.
Phát biểu của Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn mới đây trên Tuổi Trẻ Online gợi suy nghĩ đáng chú ý: “Phòng bệnh nằm ngay trong mâm cơm gia đình, trong đôi giày đi bộ, trong giấc ngủ, trong cách chúng ta lắng nghe cơ thể mình mỗi ngày”. Đó là lời nhắc về một nghịch lý của đời sống hiện đại: con người ngày càng nhiều tiện nghi hơn nhưng sức khỏe lại mong manh hơn.
Chúng ta đang sống trong thời đại có thể gọi món ăn bằng vài thao tác điện thoại, nhưng cũng là thời đại của tăng huyết áp, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ, béo phì, đột quỵ ngày càng trẻ hóa.
Và, ta có nhiều thiết bị hỗ trợ cuộc sống hơn bất cứ thế hệ nào trước đây, nhưng cũng có thể là thế hệ ít vận động nhất. Nhiều người cả ngày gần như không bước nổi vài nghìn bước chân nhưng vẫn nghĩ mình đang “ổn”.
Không ít người làm việc đến 1-2h sáng như một thói quen bình thường, thay nước lọc bằng nước ngọt có đường, thay bữa cơm gia đình bằng thức ăn nhanh, thay giấc ngủ đủ bằng vài tiếng nghỉ ngơi chắp vá. Những lựa chọn ấy nhỏ đến mức ít ai nghĩ rằng chúng có thể âm thầm tạo nên bệnh tật nhiều năm sau.
Người xưa còn có một câu rất đáng suy ngẫm: “Bệnh tùng khẩu nhập” – bệnh từ miệng mà vào. Đấy không chỉ là lời nhắc về vệ sinh ăn uống, còn là triết lý sức khỏe đi trước khoa học hiện đại nhiều thế hệ.
Ngày nay, y học đã chứng minh rất nhiều bệnh lý mạn tính liên quan trực tiếp đến chế độ dinh dưỡng và lối sống. Ăn quá nhiều muối làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, tiêu thụ nhiều đường làm gia tăng nguy cơ béo phì, đái tháo đường, lạm dụng thực phẩm chế biến sẵn làm tăng nguy cơ tim mạch, uống nhiều rượu bia làm tổn thương gan, tim và thần kinh.
Một phần rất lớn bệnh tật hiện đại thực ra bắt đầu từ những gì con người đưa vào cơ thể mỗi ngày.
Có một thực tế đáng suy nghĩ là nhiều gia đình sẵn sàng bỏ hàng chục triệu đồng để điều trị bệnh nhưng lại ngại chi thêm cho một bữa ăn lành mạnh. Người ta dễ đầu tư điện thoại mới, xe mới, quần áo đẹp, nhưng đôi khi lại xem nhẹ việc đầu tư cho sức khỏe.
Trong khi đó, thứ quyết định chất lượng sống về lâu dài không nằm ở vật chất đang sở hữu mà nằm ở cơ thể còn đủ khỏe mạnh để tận hưởng cuộc sống hay không.
Nhiều người nghĩ ăn uống lành mạnh đồng nghĩa phải thật đắt đỏ. Không hẳn vậy. Điều ngành y tế nhấn mạnh lâu nay là ăn có hiểu biết, như bớt một chút muối, ít hơn một chút đường, nhiều rau xanh hơn, hạn chế đồ chế biến sẵn, uống đủ nước, không ăn quá mức cơ thể cần. Những điều nghe đơn giản nhưng khó ở chỗ phải duy trì đều đặn.
Ngày xưa, bữa cơm gia đình thường có nhiều rau, nhiều món luộc, nhiều vận động tự nhiên. Hôm nay, nhiều gia đình ăn nhanh hơn, vội hơn và đôi khi cũng xa nhau hơn. Không ít người vừa ăn vừa nhìn điện thoại, trẻ em quen nước ngọt hơn nước lọc, người lớn quen thức khuya hơn ngủ sớm. Thói quen sống thay đổi kéo theo sức khỏe thay đổi.
Đáng lo hơn, cảnh báo gần đây cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỉ lệ thanh thiếu niên ít vận động ở mức cao. Một thế hệ lớn lên cùng màn hình điện thoại nhưng ít bước chân ngoài trời có thể sẽ phải trả giá bằng sức khỏe nhiều năm sau.
Điều đáng sợ của bệnh mạn tính thường đến rất chậm, đến mức người ta chủ quan. Một chút thức khuya hôm nay chưa thấy gì, chút lười vận động chưa thấy gì. Một lon nước ngọt thêm vào chưa thấy gì. Nhưng 10 năm, 20 năm sau, cơ thể sẽ ghi nhớ tất cả.
Con người hiện đại rất giỏi chăm sóc điện thoại của mình. Máy chậm thì mang đi sửa. Xe gần hỏng thì bảo dưỡng. Điều hòa vệ sinh định kỳ. Nhưng cơ thể – thứ đồng hành với mình cả đời – đôi khi lại bị bỏ quên.
Không ít người chỉ đi khám khi đã đau, chỉ thay đổi lối sống khi bệnh xuất hiện và quan tâm sức khỏe khi bác sĩ cảnh báo. Nhưng y học hiện đại ngày càng cho thấy điều quan trọng nhất không nằm ở chữa bệnh mà nằm ở phòng bệnh.
Một đôi giày đi bộ có thể quan trọng hơn nhiều người nghĩ. 30 phút vận động mỗi ngày có thể tạo khác biệt lớn cho tim mạch, chuyển hóa và tinh thần. Một giấc ngủ đủ có thể là liều “thuốc” miễn phí tốt nhất cho não bộ, và khoảng thời gian tắt điện thoại sớm hơn có thể giúp cơ thể hồi phục tốt hơn.
Điều đáng nói là phòng bệnh không phải là thói quen ngay lập tức chỉ sau một đêm nhận thức. Sức khỏe được tạo dựng từ những thay đổi nhỏ nhưng đủ kiên trì, cụ thể bằng bớt một chút đường hôm nay, đi bộ thêm vài nghìn bước, ngủ sớm hơn một giờ, giảm đi một chút căng thẳng, lắng nghe cơ thể nhiều hơn.
Sức khỏe không được tạo nên từ những quyết tâm lớn lao trong một ngày, mà từ những lựa chọn nhỏ được lặp lại đủ lâu để trở thành lối sống. Bệnh tật thường không đến bất ngờ mà âm thầm được tích lũy từ những thói quen tưởng vô hại kéo dài nhiều năm.
Người Việt có câu: “Có sức khỏe là có tất cả”. Chỉ khi bệnh tật xuất hiện, nhiều người mới nhận ra tài sản quý nhất không phải tiền bạc hay thành công, mà là khả năng tự bước đi, tự chăm sóc mình và bình yên tận hưởng một ngày bình thường. Phòng bệnh không nằm đâu xa, nó ở ngay trong mâm cơm gia đình, đôi giày đi bộ, giấc ngủ đủ đầy và quyết định sống tử tế với cơ thể mình từ khi còn khỏe mạnh.
Ghi nhận tại Viện Y dược học dân tộc TP.HCM, trong ngày đầu tuần, đông đảo người bệnh, chủ yếu là trung niên và cao tuổi, đến khám, điều trị bằng các phương pháp y học cổ truyền. Tại khu vực sơ chế, bào chế dược liệu, nhân viên y tế khẩn trương phân loại, chế biến và đóng gói dược liệu.
Cùng với hoạt động chuyên môn, nhiều sinh viên được các nhân viên y tế "cầm tay chỉ việc", trực tiếp hướng dẫn quy trình sơ chế, bào chế dược liệu ngay tại viện.
Tại khuôn viên viện này cũng đang xây dựng Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Đông y - Đông dược có tổng mức đầu tư 450 tỉ đồng từ ngân sách TP.HCM, với ba chức năng trọng tâm: nghiên cứu, sản xuất thuốc đông dược; khám chữa bệnh chuyên sâu; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y học cổ truyền.
Nằm điều trị bằng phương pháp điện châm do chấn thương cánh tay sau khi chơi thể thao tại Viện Y dược học dân tộc TP.HCM, ông H. (66 tuổi, ngụ TP.HCM) cho biết sức khỏe đã cải thiện đáng kể sau 10 ngày điều trị.
Giám đốc Viện Y dược học dân tộc TP.HCM Hồ Văn Hân cho biết trong bối cảnh TP.HCM bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô dân số hơn 14 triệu người, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng và chuyên sâu, y học cổ truyền cần được hiện đại hóa, chuẩn hóa và tích hợp sâu với y học hiện đại.
Theo Sở Y tế TP.HCM, trong giai đoạn 2025 - 2030, y học cổ truyền TP.HCM sẽ được định hướng phát triển theo hướng hiện đại hóa, chuẩn hóa và hội nhập, gắn chặt với y tế cơ sở, lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả điều trị và chăm sóc sức khỏe bền vững làm mục tiêu xuyên suốt.
Làm việc với Bộ trưởng Bộ Y tế về công tác y học cổ truyền mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phát triển y học cổ truyền không phải là quay về phương thức cũ kỹ, thủ công, mà phải kế thừa, phát triển tinh hoa của cha ông, trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại phải trở thành một bộ phận hữu cơ của y học quốc gia, một nguồn lực để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Lâm Mỹ Dung, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Tim Tâm Đức (TP.HCM), cho biết trong thực tế, không hiếm những trường hợp huyết áp dao động liên quan đến chế độ ăn uống và việc sử dụng các loại nước giải nhiệt không phù hợp với thể trạng. Giải nhiệt trong mùa hè là nhu cầu cần thiết, nhưng cần thực hiện đúng cách để tránh vô tình ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể.
Theo bác sĩ Mỹ Dung, các món canh rau, canh chua hoặc nước mát thường được chế biến từ rau củ, thảo mộc như hẹ, đỗ đen, râu ngô, mã đề… Nhìn chung, hầu hết chúng đều chứa nhiều chất khoáng, chất xơ và vitamin; ít năng lượng, ít calo (ngoại trừ nhóm đậu như đậu đỏ, đậu đen, đậu nành… do có chứa đạm thực vật). Tuy nhiên, người dân không nên lạm dụng. Một số điểm cần lưu ý gồm:
Các loại nước mát, nước sâm chỉ nên được sử dụng khoảng 300 - 500 ml/ngày tùy thành phần các loại thảo mộc, cách chế biến và tình trạng sức khỏe của người dùng.
Nước sâm từ các loại thảo mộc như mía lau, rễ tranh, mã đề... thường được nấu với đường hoặc đường phèn nên có vị ngọt; một số thành phần thảo mộc cũng có độ ngọt nên có tác dụng lợi tiểu. Đối với người mắc tăng huyết áp hoặc tiểu đường, việc sử dụng nhiều có thể gây hạ huyết áp hoặc làm tăng đường huyết, tùy theo tình trạng sức khỏe của từng người.
Nước dừa khi thêm một ít muối ăn (nacl) sẽ có thành phần tương tự nước điện giải, thường được sử dụng trong các trường hợp tập luyện thể thao hoặc bệnh lý nôn ói, tiêu chảy gây mất nước.
Đối với các món canh, tùy vào thành phần nguyên liệu và cách nêm nếm có thể ảnh hưởng đến huyết áp và bệnh lý tim mạch.
Ví dụ canh hẹ, dù hàm lượng dinh dưỡng trong hẹ không cao, 100 g hẹ chỉ chứa khoảng 2,5 g protein, nhưng lại có hàm lượng vitamin K khá cao (63,3 mcg). Với những bệnh nhân tim mạch đang điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K (như Sintrom, Coumadin), việc tiêu thụ nhóm thực phẩm giàu vitamin K có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và làm thay đổi tác dụng chống đông của thuốc.
Theo bác sĩ Mỹ Dung, người dân nên ưu tiên các món canh từ rau củ, thảo mộc tươi rõ nguồn gốc; hạn chế nêm quá nhiều muối, nước mắm hoặc các loại gia vị chứa nhiều natri. Theo khuyến cáo, tổng lượng muối tiêu thụ mỗi ngày nên dưới 5 g, tương đương khoảng một muỗng cà phê.
Các loại nước mát có thể sử dụng với lượng vừa phải, luân phiên đa dạng giữa các loại thảo mộc và không thay thế hoàn toàn nước lọc. Tổng lượng nước uống mỗi ngày cần được điều chỉnh dựa trên độ tuổi, mức độ hoạt động thể lực và tình trạng bệnh lý của từng người.
Đối với các sản phẩm nước giải khát hoặc nước mát chế biến sẵn, người tiêu dùng nên đọc kỹ thành phần dinh dưỡng, đặc biệt lưu ý hàm lượng đường, muối, khoáng chất và các thành phần có thể ảnh hưởng đến thuốc điều trị.
Đối với người mắc tăng huyết áp, suy tim hoặc các bệnh tim mạch mạn tính cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ về lượng nước và lượng muối được phép sử dụng hằng ngày.
“Điều quan trọng không chỉ nằm ở việc món ăn hay thức uống đó có ‘lành’ hay không, mà còn phụ thuộc vào cách chế biến, liều lượng sử dụng và sự phù hợp với tình trạng sức khỏe của từng người. Người dân không nên xem các loại canh hay nước mát là thực phẩm hoàn toàn vô hại chỉ vì chúng có nguồn gốc tự nhiên”, bác sĩ Mỹ Dung nói.
"Bối cảnh già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và thay đổi lối sống như hút thuốc, thừa cân béo phì, ít vận động được xem là những yếu tố góp phần làm tăng số ca mắc", PGS.TS.BS. Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nói tại Hội thảo khoa học về Ung thư (Oncology Summit) do AstraZeneca Việt Nam phối hợp Hội Ung Thư tổ chức, hôm 11/4.
Hiện, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.000 ca ung thư mới và hơn 120.000 ca tử vong do ung thư. Tỷ suất mắc - tử vong ở mức 150,8 và 99 trên 100.000 dân, phản ánh gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng đối với hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Theo dự báo gánh nặng ung thư toàn cầu đăng trên tạp chí The Lancet, số ca ung thư tại Việt Nam có thể tăng 60-70% trong khoảng 25 năm tới.
Các loại ung thư phổ biến gồm vú, gan, phổi, đại trực tràng và dạ dày. Xu hướng trẻ hóa ở một số bệnh như ung thư vú và ung thư đại trực tràng, đặt ra thách thức mới về tầm soát sớm, chẩn đoán và điều trị.
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Ngoài ra, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi.
Dưới áp lực gánh nặng ung thư ngày càng gia tăng và xu hướng trẻ hóa bệnh nhân tại Việt Nam, PGS Diệu cho rằng ứng dụng các tiến bộ y học không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
"Thúc đẩy y học chính xác, với trọng tâm là cá thể hóa phác đồ điều trị, mở ra một kỷ nguyên chăm sóc y tế dựa trên bằng chứng và đặc điểm riêng của từng người bệnh", PGS Diệu nói. Chìa khóa cho kỷ nguyên này nằm ở việc triển khai các kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến. Ví dụ, sinh thiết lỏng trong xét nghiệm sinh học phân tử, kết hợp hạ tầng dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán, theo dõi.
Tại hội nghị, TS.BS Jomtana Siripaibun, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chulabhorn (Thái Lan) cho hay thúc đẩy hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) số hóa và sinh thiết lỏng là nền tảng cho cá thể hóa điều trị ung thư bằng y học chính xác. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy bệnh nhân ung thư có thể cải thiện thời gian sống thêm hơn 15 tháng nếu áp dụng MDT vào chẩn đoán và điều trị so với không áp dụng.
Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vận hành MDT chưa được thường quy, trong đó có thiếu hạ tầng số khiến dữ liệu bị phân tán. Giải pháp được các chuyên gia quốc tế chia sẻ nằm ở việc triển khai các nền tảng MDT số hóa, kết nối trực tiếp với hồ sơ bệnh án điện tử để theo dõi kết quả điều trị theo thời gian thực.
MDT là chiến lược sống còn trong điều trị ung thư, và chuyển đổi số là điều kiện bắt buộc để mô hình này vận hành bền vững. "Khi triển khai nền tảng MDT số hóa kết nối dữ liệu lâm sàng, chúng tôi ghi nhận quy trình chuẩn bị ca bệnh hiệu quả hơn và hồ sơ điều trị đầy đủ, nhất quán hơn", bà nói. Điều quan trọng là bắt đầu từ một nhóm bệnh ưu tiên và một quy trình hội chẩn chuẩn, theo dõi đầy đủ, để từng bước xây dựng năng lực hệ thống cho chăm sóc ung thư hiện đại.
Còn TS.BS Chien-Feng Li, Trưởng khoa Giải phẫu bệnh lâm sàng và Xét nghiệm Trung tâm Y tế Chi Mei, Giáo sư Trường Y khoa, Đại học Quốc gia Sun Yat-sen, Đài Loan, đánh giá những tiến bộ trong sinh thiết lỏng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên chuyển đổi mang tính bước ngoặt trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Cách tiếp cận này giúp lựa chọn điều trị phù hợp hơn cho từng người bệnh và tối ưu hóa hiệu quả điều trị, chăm sóc.