Tại nhịp điều chỉnh gần nhất lúc 9 giờ 51, vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra ở 162,9 – 165,9 triệu đồng/lượng, giảm 1,6 triệu đồng/lượng so với chốt tuần qua.
So với mức giá đỉnh trong tháng 4 ghi nhận ngày 1.4 (175 – 178 triệu đồng/lượng), giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 12,1 triệu đồng. Giá vàng miếng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới 17,5 triệu đồng/lượng.
Trái ngược với giá vàng, giá bạc sáng nay lại bật tăng so với chốt tuần qua. Lúc 9 giờ 10, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 kg ở mức 80,880 – 83,387 triệu đồng, tăng 560.000 – 587.000 đồng.
Tại thời điểm 9 giờ 9, bạc 1 kg được Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý mua vào và bán ra là 81,253 – 83,759 triệu đồng, tăng 267.000 – 266.000 đồng.
Vào 9 giờ 10, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá bạc 5 lượng ở 15,235 – 15,705 triệu đồng (mua – bán), tăng 50.000 đồng.
So với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm 15 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay lúc 10 giờ 3 (giờ Việt Nam) là 4.677,6 USD/ounce, giảm 36,1 USD/ounce (tương đương 0,77%); giá bạc giao ngay ở mức 80,77 USD/ounce, giảm 0,55 USD/ounce (tương đương 0,69%) so với chốt tuần qua.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, bắt đầu từ hôm nay 15.6, tập đoàn này và các tổng công ty điện lực đưa vào thử nghiệm ứng dụng "EVN CSKH" sử dụng trên điện thoại thông minh (trên các nền tảng các hệ điều hành IOS và Android) dành cho tất cả các khách hàng dùng điện của EVN.
Ứng dụng EVN CSKH được đưa vào vận hành với tinh thần "đơn giản hơn, thuận tiện hơn, lấy sự hài lòng của khách hàng làm trọng tâm". Để không làm gián đoạn trải nghiệm của người dân, trong giai đoạn thử nghiệm này, khách hàng vẫn có thể sử dụng song song ứng dụng chăm sóc khách hàng cũ của các tổng công ty điện lực khu vực cùng với ứng dụng "EVN CSKH" mới.
Ứng dụng "EVN CSKH" có nhiều tính năng mang lại một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt cho người dùng nhờ tích hợp hàng loạt tính năng thông minh, giải quyết trực tiếp những "nỗi đau" của khách hàng bấy lâu nay.
Người dùng có thể liên kết và quản lý đồng thời nhiều hợp đồng điện với tất cả các công ty điện lực thuộc EVN trên khắp cả nước; tính năng này đặc biệt hữu ích cho những người sở hữu nhiều bất động sản hoặc quản lý hộ tiền điện cho người thân ở các tỉnh thành khác nhau.
Ứng dụng này có chức năng giúp khách hàng kiểm soát điện năng tiêu thụ hàng ngày. Khách hàng có thể tra cứu điện năng tiêu thụ theo ngày, tuần, tháng để theo dõi, giám sát mức sử dụng,tiêu thụ điện cũng như lịch sử tiêu thụ điện.
Khách hàng có thể tự đặt ngưỡng cảnh báo sản lượng tiêu thụ theo số kWh hoặc theo tỷ lệ tăng trưởng (%). Khi lượng điện tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống sẽ cảnh báo, giúp khách hàng chủ động điều chỉnh thiết bị, tránh tình trạng hóa đơn tiền điện tăng vọt.
Ứng dụng "EVN CSKH" có chức năng giúp khách hàng dễ dàng thanh toán hóa đơn liên kết hoặc thanh toán hộ; tra cứu lịch sử đóng tiền; báo cáo sự cố mất điện hoặc gửi phản hồi trực tiếp đến ngành điện.
Ngoài ra, khi sử dụng ứng dụng "EVN CSKH", khách hàng dễ dàng tra cứu giá bán điện, lịch ngừng giảm cung cấp điện, hướng dẫn tiết kiệm điện. Đặc biệt, ứng dụng cũng tích hợp tính năng cảnh báo lừa đảo trực tuyến và khuyến cáo thông tin giả mạo nhằm bảo vệ người tiêu dùng trước các chiêu trò gian lận công nghệ cao hiện nay.
Trong giai đoạn tiếp theo, ứng dụng "EVN CSKH" sẽ liên tục được EVN nâng cấp, hoàn thiện kỹ thuật; sẽ cho phép người dân đăng nhập đồng bộ thông qua tài khoản định danh điện tử VNeID, đồng thời bổ sung thêm các tính năng, dịch vụ mở rộng để tối ưu hóa sự tiện lợi.
Người dân, khách hàng sử dụng điện có thể đăng nhập sử dụng ứng dụng dễ dàng bằng số điện thoại di động cá nhân (được xác thực bằng mật khẩu dùng một lần (One-Time Password – OTP). Sau khi đăng nhập lần đầu, khách hàng có thể cài đặt tùy biến, dùng nhận diện khuôn mặt (face ID) hoặc vân tay để đăng nhập tự động lần tiếp theo.
Từ hôm nay 15.6, người dân, khách hàng có thể lên kho ứng dụng App Store (iOS) hoặc CH Play (Android) để tải, cài đặt ứng dụng để trải nghiệm các dịch vụ nói trên; tham khảo hướng dẫn sử dụng ứng dụng "EVN CSKH" tại đây: https://help.evn.com.vn/appcskh/
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 25/4, tại phường Quy Nhơn Nam (tỉnh Gia Lai), Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị Y tế Bình Định (Bidiphar) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đây là dịp để doanh nghiệp nhìn lại chặng đường đã qua và triển khai kế hoạch chiến lược cho giai đoạn phát triển mới.
Lãnh đạo Bidiphar cho hay, trong bối cảnh thị trường chịu nhiều biến động về thị trường, chi phí nguyên liệu và tỷ giá, kết quả kinh doanh của Bidiphar trong năm 2025 cho thấy năng lực quản trị của doanh nghiệp vững chắc. Doanh thu toàn công ty đạt 1.947 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2024; lợi nhuận trước thuế đạt 344 tỷ đồng, vượt 3% kế hoạch đề ra và tăng 6% so với cùng kỳ. ĐHĐCĐ cũng thông qua phương án chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt ở mức 20% mệnh giá, tương đương 2.000 đồng/cổ phiếu.
Cùng với những kết quả tài chính, Bidiphar tiếp tục giữ vũng vị trí Top 4 doanh nghiệp dược uy tín và được ghi nhận trong Top 10 "Nơi làm việc tốt nhất" ngành Dược. Hai danh hiệu này minh chứng cho sức mạnh thương hiệu của Bidiphar trên thị trường, đồng thời khẳng định được chất lượng làm việc trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp.
Về tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, trong năm 2025, Bidiphar hoàn thành xây dựng, lắp đặt thiết bị và đang trong giai đoạn thẩm định đối với dự án Thuốc vô trùng thể tích nhỏ (SVI).
Trong khi đó, Nhà máy Thuốc điều trị ung thư - cả hai dây chuyền thuốc tiêm và thuốc viên đều đã đạt chứng nhận GMP-WHO. Hiện công ty đang tập trung nâng cấp dây chuyền thuốc tiêm lên tiêu chuẩn GMP-EU khắt khe hơn.
Một điểm sáng của Bidiphar đó là trách nhiệm xã hội (ESG) được doanh nghiệp quan tâm lớn. Trong năm, Bidiphar đã dành 5 tỷ đồng cho các hoạt động cộng đồng, nổi bật là chương trình "Chạy vì bệnh nhân Ung thư" và việc hỗ trợ 10.000 túi thuốc cùng tiền mặt trị giá 3,4 tỷ đồng cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi bão lũ tại miền Trung và Tây Nguyên.
ĐHĐCĐ xác định năm 2026 là năm trọng điểm để Bidiphar củng cố nền tảng và tạo động lực tăng trưởng mới. Mục tiêu đặt ra trong năm là tổng doanh thu đạt 2.090 đồng (tăng 7%) và lợi nhuận trước thuế 375 tỷ đồng (tăng 9%) so với năm 2025; kế hoạch cổ tức tối thiểu 20% bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu.
Để đạt được mục tiêu đó, Bidiphar dự kiến đầu tư 548,5 tỷ đồng trong tổng ngân sách đầu tư 744 tỷ đồng , bao gồm chuyển đổi số (SAP S4 Hana, AI) và mở rộng hạ tầng sản xuất.
Hội đồng Quản trị xác định sẽ tập trung tối ưu hóa quy trình thông qua số hóa để nâng cao năng suất lao động thêm trên 10%. Đồng thời, Bidiphar tiếp tục kiên trì với chiến lược phát triển bền vững (ESG) thông qua việc phát triển vùng trồng dược liệu và ứng dụng năng lượng mặt trời, bảo vệ môi trường…
Chia sẻ tại đại hội, bà Phạm Thị Thanh Hương, Tổng giám đốc Bidiphar nhìn nhận về những rào cản không nhỏ mà doanh nghiệp phải đối mặt, trong đó có áp lực thu hút nhân lực chất lượng cao khi doanh nghiệp không đặt trụ sở tại các thành phố lớn.
Song theo bà Hương, hành trình của Bidiphar từ một xí nghiệp sản xuất dược phẩm gần như phá sản lên Top 4 toàn quốc chính minh chứng rõ ràng nhất cho tinh thần không ngừng đổi mới.
"Lấy nhân lực làm nền tảng không chỉ là giá trị cốt lõi mà còn là kim chỉ nam giúp tập thể Bidiphar cùng nhau vượt mọi thách thức, đưa thương hiệu dược địa phương lên một tầm cao mới", Tổng giám đốc Bidiphar Phạm Thị Thanh Hương, khẳng định.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Thị trường vốn đang trở thành "nút thắt" quan trọng của nền kinh tế khi dòng tiền chưa được phân bổ hiệu quả, lệch về tín dụng ngân hàng và thiếu các kênh dẫn vốn trung, dài hạn.
Việc tái cấu trúc thị trường tài chính, khơi thông dòng vốn và nâng cao năng lực nội sinh được xem là điều kiện then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
PGS.TS.ĐBQH Trần Hoàng Ngân - Đoàn ĐBQH Tp.HCM:
"Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo tôi, cần quán triệt bốn nguyên tắc lớn mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh.
Thứ nhất, tăng trưởng phải là tăng trưởng thực chất. Nghĩa là tăng trưởng phải dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hàm lượng tri thức. Đây là cái gốc của vấn đề, chứ không phải tăng trưởng theo chiều rộng, chỉ dựa vào việc gia tăng vốn đầu tư. Cốt lõi là phải nâng cao năng suất lao động.
Thứ hai, tăng trưởng phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là điều kiện tiên quyết để duy trì niềm tin của thị trường và bảo đảm an toàn cho toàn bộ hệ thống tài chính, tiền tệ.
Thứ ba, cần huy động được các nguồn lực trong xã hội, tức là phải khơi thông các dòng chảy nguồn lực, không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước hay đầu tư công. Thực tế, vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước thời gian qua chỉ chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tỷ trọng này theo tôi nên duy trì trong khoảng 16–20% để bảo đảm ổn định vĩ mô, chứ không nên tăng thêm. Do đó, điều quan trọng hơn là phải khơi thông các nguồn lực còn lại trong xã hội.
Thứ tư, mọi thành quả tăng trưởng cuối cùng phải hướng tới phục vụ người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Trong bối cảnh hiện nay, việc khơi thông dòng vốn là một trong những điểm nghẽn lớn cần được ưu tiên tháo gỡ. Tôi cho rằng, việc triển khai các nghị quyết của Quốc hội nhằm xử lý các dự án tồn đọng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiều dự án đã được đầu tư đến 50%, 80%, thậm chí 90%, chỉ cần bổ sung thêm một phần nguồn lực là có thể hoàn thành và đưa vào sử dụng. Khi đó, hiệu quả lan tỏa sẽ rất lớn, đúng với tinh thần "vốn bỏ ít nhưng hiệu quả cao".
Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng, việc giải quyết các dự án dở dang còn góp phần xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng, từ đó giảm chi phí xã hội, giảm áp lực lãi suất và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động vốn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để thúc đẩy tái cơ cấu thị trường tài chính.
Hiện nay, cơ cấu thị trường tài chính của Việt Nam còn mất cân đối khi tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng rất lớn, tương đương khoảng 145% GDP. Trong khi đó, thị trường vốn phát triển chưa tương xứng: vốn hóa thị trường cổ phiếu chỉ khoảng 70–80% GDP, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% và trái phiếu chính phủ khoảng 20%. Điều này cho thấy sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng.
Do đó, cần tái cơ cấu thị trường tài chính theo hướng giảm dần tỷ trọng tín dụng ngân hàng và nâng cao vai trò của thị trường vốn. Muốn vậy, cần hoàn thiện thể chế theo hướng cởi mở hơn để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời đẩy nhanh việc xây dựng khung pháp lý cho các trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cần sớm khơi thông trở lại thông qua việc phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh và nâng cao tính minh bạch. Khi các kênh dẫn vốn này được phục hồi và phát triển, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn huy động vốn trung và dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
ĐBQH Nguyễn Hải Nam - Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội:
"Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, theo tôi, chúng ta cần có thêm những giải pháp mạnh mẽ hơn về huy động và phân bổ nguồn lực.
Hiện nay, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam vào khoảng 6,4%. Đây là mức khá cao. Nếu chúng ta có thể kéo giảm xuống còn khoảng 4,5%, thì hiệu quả đầu tư sẽ được cải thiện đáng kể, qua đó giảm áp lực về tổng vốn cần huy động để đạt mục tiêu tăng trưởng. Nếu ICOR ở mức 4,5%, ước tính tổng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế sẽ vào khoảng 40% GDP, tương đương hơn 200 tỷ USD.
Hiện nay, nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hai kênh dẫn vốn chủ yếu là tín dụng ngân hàng và thị trường vốn (bao gồm trái phiếu và cổ phiếu). Trong đó, áp lực từ hệ thống ngân hàng là rất đáng lưu ý, khi tỷ lệ dư nợ đã lên tới khoảng 145% GDP, cao hơn đáng kể so với một số quốc gia trong khu vực như Malaysia hay Thái Lan (khoảng 110% GDP). Điều này tiềm ẩn rủi ro về nợ xấu cũng như an toàn của hệ thống tài chính.
Từ thực tế đó, tôi cho rằng cần phát triển đồng bộ thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu, thông qua một số nhóm giải pháp trọng tâm:
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến đầu tư, bảo hiểm, tổ chức tín dụng và các quy định về trái phiếu. Việc quản lý phải bảo đảm cân bằng, không quá chặt cũng không quá lỏng, nhằm phát huy hiệu quả vai trò của kênh dẫn vốn này cho nền kinh tế và doanh nghiệp.
Thứ hai, cần nâng cao tính công khai, minh bạch của thị trường trái phiếu, đồng thời khuyến khích hoạt động xếp hạng tín nhiệm để giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro.
Thứ ba, cần phát triển mạnh hệ thống nhà đầu tư tổ chức và các trung gian tài chính như quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào nhà đầu tư cá nhân. Cùng với đó, cần thúc đẩy sự phát triển của các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, có chính sách ưu đãi phù hợp và tiến hành tái cơ cấu các đơn vị hoạt động kém hiệu quả.
Tôi cũng đề xuất nghiên cứu thí điểm thành lập quỹ đầu tư quốc gia, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, để tập trung đầu tư vào các lĩnh vực then chốt như hạ tầng, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, cần thúc đẩy phát triển các loại hình trái phiếu mới như trái phiếu xanh, trái phiếu phục vụ hạ tầng xanh, đô thị xanh; đồng thời khuyến khích phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, đặc biệt tại những địa phương có dư địa lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Quảng Ninh.
Cuối cùng, cần vận hành hiệu quả thị trường trái phiếu thứ cấp nhằm nâng cao thanh khoản và hỗ trợ thị trường sơ cấp. Trong đó, chú trọng việc xây dựng đường cong lợi suất, cũng như ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong dự báo và định giá".
ĐBQH Phan Duy Anh - Đoàn ĐBQH Tp.Đà Nẵng:
"Trong bối cảnh nền kinh tế đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, yêu cầu khơi thông thị trường vốn ngày càng trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh đó, việc hình thành những thiết chế tài chính hiện đại, có khả năng kết nối hiệu quả giữa nguồn vốn trong nước và quốc tế, không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Trong đó, việc thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam có ý nghĩa quan trọng gắn với vai trò then chốt trong việc truyền dẫn dòng vốn quốc tế cho các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển kết cấu hạ tầng, thúc đẩy thị trường bất động sản nghỉ dưỡng, quản lý tài sản bền vững, đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm và bền vững.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam có thể thực hiện chức năng kết nối các nhà đầu tư quốc tế với danh mục dự án đầu tư trọng điểm của các doanh nghiệp lớn và các tỉnh trong cả nước, chuyển hóa các nhu cầu vay vốn, góp vốn của các dự án tại địa phương (như hạ tầng giao thông, logistics, khu đô thị, khu công nghiệp, năng lượng tái tạo…) thành các sản phẩm tài chính chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế (trái phiếu xanh, quỹ tín thác, chứng khoán hóa dòng tiền tương lai...), góp phần tháo gỡ nhu cầu vốn đầu tư lớn cho phát triển kinh tế nhằm đạt được mức tăng trưởng trên hai con số trong giai đoạn tới.
Trung tâm tài chính quốc tế còn là các kênh thông tin lớn về thị trường, đối tác, nguồn cung ứng cho các khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, kích thích đổi mới sáng tạo thông qua sự hiện diện của những lĩnh vực đang định hình nền kinh tế tương lai.
Nhờ đó, doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí vốn, nâng cao quản trị tài chính, mở rộng đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp xanh sẽ có không gian thử nghiệm và phát triển các mô hình tài chính mới, từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, tạo động lực tăng trưởng chung cho toàn bộ nền kinh tế".
ĐBQH Nguyễn Như So - Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh:
"Thực tiễn cho thấy một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay nằm ở năng lực nội sinh còn hạn chế. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành vẫn ở mức thấp, sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa chặt chẽ. Đáng chú ý, khoảng 90% doanh nghiệp tư nhân của chúng ta là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chủ yếu hoạt động ở phân khúc giá trị gia tăng thấp. Điều đó cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào các động lực bên ngoài, trong khi chưa hình thành được nền tảng nội lực đủ mạnh để bứt phá.
Trong bối cảnh đó, theo tôi, phát triển kinh tế khu vực tư nhân không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà phải được xác định là một lựa chọn chiến lược. Đây chính là lực lượng có vai trò then chốt trong việc nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, điều quan trọng là phải tái cấu trúc lại cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế, bảo đảm dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp cho các động lực tăng trưởng. Trong bối cảnh động lực về công nghệ và năng suất chưa thể bứt phá ngay trong ngắn hạn, thì vốn đầu tư đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhất của tăng trưởng.
Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không phải là thiếu vốn, mà là cách thức phân bổ và sử dụng vốn chưa hiệu quả. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự lệch pha kỳ hạn khi nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng để tài trợ cho các nhu cầu trung và dài hạn. Việc "lấy ngắn nuôi dài" không chỉ gây áp lực lên thanh khoản của hệ thống mà còn khiến dòng vốn không chảy vào những khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao.
Do đó, cần từng bước giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển thực chất thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Đây phải trở thành các kênh dẫn vốn trung và dài hạn đúng nghĩa cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần sớm hình thành thị trường tái cấp vốn thứ cấp thông qua việc chứng khoán hóa các khoản vay, đồng thời phát triển thị trường mua bán nợ theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp. Những cơ chế này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Một điểm quan trọng khác là cần nghiên cứu áp dụng cơ chế "thuế âm" cho hoạt động đổi mới sáng tạo, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ giai đoạn đầu.
Đồng thời, khi đã xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất, chúng ta cần có cơ chế hợp tác công – tư (PPP) linh hoạt, minh bạch hơn. Mỗi đồng vốn ngân sách cần có khả năng dẫn dắt và huy động thêm nhiều đồng vốn xã hội, qua đó hình thành cơ chế lựa chọn, nuôi dưỡng và phát triển các doanh nghiệp đầu tàu trong những ngành then chốt của nền kinh tế".
THỰC HIỆN: MẠNH QUỐC
Tin Gốc: Người Đưa Tin

