Ngày 23/6, Nguyễn Văn Hưng, 55 tuổi, cựu Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Nam Triệu và Nguyễn Ngọc Tính, 38 tuổi, cựu Thủ quỹ Xí nghiệp X30 của công ty này, bị TAND Hà Nội xét xử về tội Tham ô tài sản và Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Cùng vụ án, Lê Tiến Quý, 48 tuổi, cựu Giám đốc Xí nghiệp X30, bị truy tố tội Tham ô tài sản. 14 bị cáo còn lại, gồm cấp dưới của ông này và một số chủ cơ sở kinh doanh, bị truy tố một trong hai tội trên.
Công ty Nam Triệu là doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu thuộc Cục Công nghiệp An ninh, Bộ Công an, ngành nghề kinh doanh gồm đóng tàu, thuyền, sản xuất biển ôtô, xe máy, biển báo giao thông, kinh doanh một số sản phẩm phục vụ ngành Công an. Xí nghiệp X30 là đơn vị trực thuộc Công ty Nam Triệu.
VKS cáo buộc, năm 2018-2024, Hưng và Quý được giao thực hiện các hợp đồng kinh tế để sản xuất các sản phẩm chuyên dụng của ngành công an. Nhưng hai bị cáo không tổ chức sản xuất theo quy định mà thuê đơn vị bên ngoài gia công, sau đó hợp thức bằng các hợp đồng kinh tế mua bán vật tư, nâng khống giá trị, chi phí sản xuất.
Ngoài ra, họ còn bị xác định sử dụng đất an ninh để hợp tác, liên doanh, liên kết, cho thuê làm nhà xưởng, kho bãi nhưng không kê khai, hạch toán trên sổ sách kế toán nhằm tạo nguồn tiền “chênh lệch” trái luật. Hành vi này gây thiệt hại cho doanh nghiệp nhà nước này, tổng 23,8 tỷ đồng.
Tham ô từ tay nắm cửa, thùng sơn, đến giá đỡ súng
Theo cáo trạng, trong thời gian còn làm giám đốc Xí nghiệp X30, 2018-2020, Hưng bị cáo buộc có gian lận, tham ô khi thực hiện các hợp đồng sản xuất hàng hóa cho Cục Trang bị và Kho vận – Bộ Công an; chỉ đạo thủ quỹ, kế toán nâng khống giá trị vật tư, hợp thức hồ sơ, chứng từ để rút tiền.
Cụ thể, khi được Cục Trang bị và Kho vận Bộ Công an đặt hàng sản xuất tủ vũ khí, dù cơ sở cung cấp tay nắm tủ chỉ báo giá 5.100 đồng/bộ, Hưng đã chỉ đạo nâng gấp gần 4 lần (lên 19.00 đồng/bộ) để ăn chênh lệch, bỏ ngoài sổ sách kế toán.
Tương tự, khi được đặt hàng tủ hồ sơ nghiệp vụ, cần sơn, thép tấm, gỗ… Hưng đều bảo cấp dưới liên hệ cơ sở ngoài để thỏa thuận giá cả chênh lên, đồng thời làm thủ tục trả tiền trước. Nhưng khi lấy vật tư, Hưng nại ra nhiều lý do để lấy ít hơn và yêu cầu họ trả lại tiền nhưng không điều chỉnh lại hợp đồng.
Ví dụ, tháng 2/2021, khi ký hợp đồng mua 161 tấn thép tấm để sản xuất tủ cho Cục Trang bị và Kho vận Bộ Công an, Hưng chỉ đạo nhân viên trả luôn tiền cho bên cung cấp, hơn 3,8 tỷ đồng.
Nhưng khi họ giao hàng, Hưng lấy lý do thép không đúng kích thước để từ chối nhận lô hàng cuối (hơn 28 tấn) và đòi lại tiền.
Với sơn dùng để sơn tủ, Hưng dùng thủ đoạn tương tự, ký hợp đồng mua 8,6 tấn sơn và 360 lít dung môi, nhưng chỉ nhận 5,3 tấn sơn và 200 lít dung môi, sau đó yêu cầu họ trả lại tiền với số hàng chưa nhận.
Với bộ giá đỡ súng, Hưng thể hiện trong hợp đồng là mua gỗ đắt tiền, đơn giá 3,3 triệu đồng/bộ. Nhưng khi nhận gỗ, Hưng lại dặn bên cung cấp chỉ giao loại rẻ hơn, giá 2,8 triệu, rồi bắt họ trả lại cho mình tiền chênh.
Thậm chí tem dán cánh tủ có đơn giá chỉ 9.500 đồng/chiếc, cũng bị Hưng tham ô với cùng thủ đoạn. Số tiền tham ô trong giai đoạn Hưng làm giám đốc Xí nghiệp X30, được xác định gần 1,9 tỷ đồng.
Nhà chức trách xác định, năm 2021, khi được lên chức Tổng giám đốc Công ty Nam Triệu, Hưng tiếp tục tham ô với những hợp đồng lớn hơn: sản xuất rào cơ động và ghế thẩm vấn cho Cục Trang bị và Kho vận – Bộ Công an.
Xí nghiệp X30 khi này đã thuộc điều hành của người kế nhiệm là bị cáo Quý. Hưng biết Xí nghiệp X30 không có máy móc, phương tiện và nhân lực để trực tiếp sản xuất mà phải thuê đơn vị ngoài song vẫn trao đổi và yêu cầu nếu Quý muốn được giao sản xuất lô hơn 3.000 ghế thẩm vấn thì phải nâng khống chi phí sản xuất. Cụ thể, tăng từ 15,8 lên khoảng 19 triệu đồng/chiếc để rút tiền “chênh lệch” đưa Hưng.
Quý đồng ý và thực hiện theo chỉ đạo của Hưng, tìm kiếm đối tác ký hợp đồng gia công sản phẩm, mua bán vật tư.
Quý cũng bị cáo buộc chỉ đạo nhân viên xây dựng phương án kinh doanh “giả” để nâng giá trị của mỗi ghế thẩm vấn lên 19 triệu đồng.
Để che giấu việc thuê cơ sở ngoài sản xuất hộ, Quý chỉ đạo cấp dưới bịa ra 32 công nhân sản xuất và lập hồ sơ thanh toán lương sản xuất ghế cho họ với giá 850.000 đồng/chiếc, tổng hơn 2,6 tỷ đồng.
VKS xác định riêng phi vụ làm ghế, các bị cáo đã chiếm đoạt 17 tỷ đồng, trong đó riêng Hưng được hưởng 7,1 tỷ đồng, Quý hưởng 9,6 tỷ đồng…
Tương tự khi sản xuất 1.000 hàng rào cơ động, chi phí cho mỗi hàng rào 4 triệu đồng đã bị nâng lên 5,2 triệu đồng, dẫn tới số tiền chênh lệch là một tỷ đồng. Toàn bộ được Quý chuyển cho phó phòng kế hoạch của công ty Nam Triệu, theo chỉ đạo của Hưng để chi “ngoại giao, quan hệ”.
Ngoài ra, năm 2018 đến 2022, Công ty Nam Triệu có được một số nguồn thu từ việc cho thuê đất, thanh lý thép tấm và nhôm sản xuất biển số xe… nhưng không hạch toán trên hệ thống sổ sách kế toán, gây thiệt hại cho nhà nước 4,4 tỷ đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo, người có liên quan nộp tiền khắc phục hậu quả hơn 10 tỷ đồng. Riêng Hưng đã nộp 4,5 tỷ đồng, Quý mới nộp lại hơn 400 triệu.
Thông tin được Phòng Cảnh sát Hình sự (PC02) Công an TP HCM công bố trưa 10/4. Hồ Minh Đạt, 54 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Mua bán nợ Nhất Tín và Nguyễn Trung Đức (48 tuổi) cùng 7 người khác bị bắt về hành vi Cưỡng đoạt tài sản.
Động thái này được PC02 đưa ra trong quá trình mở rộng điều tra về công ty Được Đất Bắc và các đường dây đòi nợ thuê quy mô lớn núp bóng doanh nghiệp.
Cơ quan điều tra xác định, dù mang danh nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh mua bán nợ, thực chất Công ty Nhất Tín do Đạt điều hành lại tổ chức hoạt động đòi nợ thuê trái pháp luật.
Nhóm này thường ký kết các "hợp đồng mua bán nợ" giả cách, để hợp thức hóa hành vi, với thỏa thuận ăn chia tỷ lệ từ 30% đến 50% trên tổng số tiền đòi được.
Trong vụ án này, Nguyễn Trung Đức đã môi giới để nhóm của Đạt nhận đòi khoản nợ khoảng 70 tỷ đồng của bà Ngọc (ngụ phường Tam Long, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ). Sau khi có được "hợp đồng", Đạt cùng vợ là Nguyễn Thị Giang, chỉ đạo nhóm nhân viên triển khai các "chiến dịch gây áp lực".
Từ cuối tháng 7/2025 đến đầu tháng 10/2025, Đạt chỉ đạo đàn em chia thành nhiều nhóm nhỏ, thay phiên nhau bám sát "con mồi". Họ huy động nhiều người, mặc đồng phục công ty, cố tình để lộ các hình xăm trổ nhằm thị uy.
Cả nhóm thường đi ôtô đến trước nhà riêng và cơ sở kinh doanh của bà Ngọc tại khu vực chợ Bà Rịa để tụ tập đông người, chửi bới và đe dọa. Các thành viên của Công ty Nhất Tín còn có hành vi hành hung, đập phá tài sản tại cửa hàng của nạn nhân.
Sự việc kéo dài khiến hoạt động kinh doanh của bà Ngọc bị ngưng trệ, người thân và nhân viên luôn sống trong cảnh hoang mang, lo sợ.
Vào cuộc điều tra, PC02 đã bắt vợ chồng Đạt và đồng phạm. Khám xét trụ sở công ty và nơi ở của Đạt, cảnh sát thu giữ nhiều tài liệu quan trọng gồm các hợp đồng mua bán nợ, con dấu công ty, đồng phục và phương tiện di chuyển phục vụ cho việc đi "khủng bố" nạn nhân.
Quá trình điều tra, chủ mưu Mai Thị Nhớ và em gái Mai Thị Tuyền được xác định mắc bệnh tâm thần phân liệt, hoang tưởng nên Công an Tây Ninh đình chỉ điều tra, đưa đi chữa bệnh.
Liên quan vụ án, ngày 22/4, TAND tỉnh Tây Ninh tuyên phạt Mai Văn Hậu, 40 tuổi; Mai Thị Lành, 48 tuổi; Mai Trọng Hiếu, 34 tuổi; Nguyễn Minh Trí, 23 tuổi cùng Mai Văn Thảo, 28 tuổi mức án 7-10 năm tù về tội Giết người. Riêng Thảo phải chấp hành thêm 9 năm tù về tội Tổ chức sử dụng và Tàng trữ trái phép chất ma túy trước đó.
HĐXX nhận định hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mê tín đã xâm phạm đến tính mạng của hai người thân trong gia đình.
Theo cáo trạng, chiều tháng 10/2023, bà Nhớ đến nhà mẹ ruột ở xã Đôn Thuận, thị xã Trảng Bàng (nay là xã Hưng Thuận), nói người cha đã chết nhập hồn vào mình, yêu cầu làm "lễ xá tội". Bà ta tập hợp 21 người là con cháu trong dòng họ về nhà để làm lễ; trong đó có anh Mai Trọng Trung (em của Nhớ) và con trai là Đặng Trọng Quí.
Nhớ cùng Tuyền đốt nhang, nói "có quỷ nhập", yêu cầu mọi người trùm chăn kín để hai người thực hiện nghi thức trừ tà.
Cho rằng anh Trung bị "quỷ nhập", Nhớ và Tuyền yêu cầu Hiếu, Hậu, Lành, Thảo, Trí đè giữ tay chân nạn nhân, dùng muỗng cạy miệng đổ trà, rượu. Họ còn lấy nhang đang cháy dụi vào đầu, trùm chăn kín mặt rồi liên tục đánh vào người để "trục quỷ".
Nghi thức này được lặp lại nhiều lần trong khoảng một giờ. Khi anh Trung không còn phản kháng, nhóm người thay quần áo, đặt nạn nhân nằm trước bàn thờ.
Sau đó, thêm bốn người trong gia đình bị "phán" là có quỷ nhập và tiếp tục bị ép thực hiện các nghi thức tương tự. Nhóm còn dùng đoạn trúc đánh vào đồ vật, rải gạo muối quanh nhà. Hai "bà đồng" nhai cam trên bàn thờ rồi nhả vào miệng, ép những người bị cho là "bị nhập" ăn.
Đến khoảng 10h sáng hôm sau, Nhớ tiếp tục cho rằng cha con anh Trung bị "nhập", yêu cầu lặp lại các nghi thức đổ trà, rượu, nước cam rồi ép nôn ra. Nhớ còn cắn vào miệng cháu Quí vì cho rằng em này "mọc răng nanh". Khi hai cha con nạn nhân bất tỉnh, cả nhóm đắp chăn phủ kín.
Tiếp đó, Nhớ đánh vào mặt mẹ mình vì cho rằng bà "bị quỷ nhập" nhưng được can ngăn. Ít lâu sau, phát hiện anh Trung và con trai không còn dấu hiệu sự sống, nhóm người tổ chức sơ cứu, trình báo công an.
Các nạn nhân được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong trước đó do ngạt, cơ thể bị sưng bầm, bỏng và gãy răng.
Do tham gia "lễ trừ tà" suốt đêm đến trưa hôm sau, không được ăn uống, không dùng điện thoại, nhiều người trong gia đình cũng kiệt sức, phải nhập viện.
Khi ngày càng nhiều người cho rằng họ bị dẫn dắt bởi những lời hứa hẹn hấp dẫn để rồi mất tiền, câu hỏi được đặt ra là liệu những vụ việc này chỉ dừng ở phạm vi tranh chấp hợp đồng hay đã xuất hiện các dấu hiệu cần được xem xét dưới góc độ hình sự.
Trong các phóng sự được đăng tải, rất nhiều người già phải mang sổ hưu đi cầm cố, thậm chí thế chấp nhà đất, để tiếp tục đóng tiền với hy vọng lấy lại những khoản đã mất.
Có người bắt đầu bằng một hợp đồng vài trăm triệu đồng, rồi tiếp tục được thuyết phục nâng hạng, mua thêm sản phẩm hoặc đóng thêm tiền để "gỡ" các hợp đồng cũ. Có người sử dụng toàn bộ tiền tiết kiệm dưỡng già, vay mượn người thân, cầm cố sổ lương hưu.
Thậm chí có trường hợp mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi thế chấp với hy vọng sẽ sớm thu hồi được vốn như những gì được tư vấn. Đáng chú ý những phản ánh này không phải lần đầu xuất hiện.
Nhiều năm qua xã hội từng chứng kiến hàng loạt tranh chấp liên quan đến mô hình sở hữu kỳ nghỉ. Nhiều khách hàng khiếu nại việc không đặt được phòng như cam kết, phát sinh hàng loạt loại phí trong quá trình sử dụng hoặc gặp khó khăn khi muốn chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng. Một số doanh nghiệp từng bị cơ quan quản lý xử phạt do vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cung cấp thông tin chưa đầy đủ cho khách hàng.
Tuy nhiên, sau loạt phóng sự của VTV, mối quan tâm của dư luận không chỉ dừng lại ở những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng hay chất lượng dịch vụ mà các doanh nghiệp cam kết. Điều cần được làm rõ là liệu những giao dịch này chỉ là tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại hay đã xuất hiện các dấu hiệu của hành vi chiếm đoạt tài sản.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, luật sư Hoàng Văn Hướng (Đoàn luật sư Hà Nội) cho rằng sở hữu kỳ nghỉ là mô hình phổ biến ở nhiều quốc gia và bản thân sản phẩm này không phải là bất hợp pháp. Tuy nhiên, tại Việt Nam, một số tổ chức đã lợi dụng những khoảng trống pháp lý cũng như tâm lý của người tiêu dùng để biến nó thành công cụ huy động tiền.
Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là sự bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và khách hàng.
Khách hàng thường được mời tới các hội thảo, chương trình tri ân hoặc sự kiện nhận quà tặng. Trong không khí được chuẩn bị kỹ lưỡng, nhiều người bị thuyết phục ký hợp đồng ngay tại chỗ khi chưa có đủ thời gian nghiên cứu kỹ các điều khoản pháp lý phức tạp.
Bên cạnh đó hiện nay pháp luật chưa có cơ chế quản lý chuyên biệt đối với loại hình sở hữu kỳ nghỉ. Theo luật sư Hướng, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Du lịch hiện hành chưa có quy định riêng điều chỉnh loại hình này. Đặc biệt chưa có quy định bắt buộc doanh nghiệp phải ký quỹ hoặc có bảo lãnh ngân hàng đối với số tiền rất lớn được thu trước của khách hàng trong thời gian kéo dài hàng chục năm.
Đây là khoảng trống khiến việc bảo vệ người tiêu dùng gặp nhiều khó khăn khi xảy ra tranh chấp.
Theo luật sư Hoàng Văn Hướng, không phải mọi trường hợp khách hàng mất tiền hoặc không nhận được quyền lợi như kỳ vọng đều có thể xử lý hình sự. Trong nhiều trường hợp, đây có thể chỉ là tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp thương mại phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên để chuyển từ một tranh chấp dân sự sang xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan điều tra cần chứng minh được hai yếu tố quan trọng. Thứ nhất là hành vi gian dối phải xuất hiện trước thời điểm khách hàng giao tiền. Thứ hai là mục đích chiếm đoạt tài sản.
"Một số dấu hiệu cần được cơ quan chức năng làm rõ gồm việc doanh nghiệp có thực sự sở hữu hoặc liên kết với các khu nghỉ dưỡng như quảng bá hay không. Các cam kết về lợi nhuận, chuyển nhượng hoặc khả năng khai thác có cơ sở thực hiện hay không. Trong trường hợp doanh nghiệp biết rõ các thông tin đó không đúng sự thật nhưng vẫn sử dụng để thuyết phục khách hàng giao tiền thì đây là tình tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá bản chất vụ việc", luật sư Hướng phân tích.
Ngoài ra cơ quan chức năng cũng cần làm rõ có hay không tình trạng bán vượt quá công suất thực tế của dự án, khiến khách hàng gần như không có khả năng sử dụng quyền lợi đã mua. "Điểm mấu chốt là phải chứng minh được yếu tố gian dối ngay từ đầu, chứ không chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệp không thực hiện được cam kết sau này", luật sư Hướng nhấn mạnh.