Sáng 24-6, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII khai mạc. Đây được xem là đại hội nhằm xác lập lại tầm nhìn, trách nhiệm và phương pháp hành động mới của tổ chức Đoàn trong thời kỷ nguyên mới của dân tộc.
Phát biểu khai mạc, anh Bùi Quang Huy – Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn – nhấn mạnh Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XIII là đại hội của bản lĩnh, tự cường, tiên phong, sáng tạo, khát vọng, cống hiến, làm chủ tương lai của thanh niên Việt Nam.
Đại hội có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá kết quả công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2022 – 2026 và xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ mới.
Một số nội dung quan trọng của Đại hội là thảo luận, cho ý kiến sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XIII.
Trình bày tại đại hội, anh Nguyễn Minh Triết, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam, cho hay ngoài nhiệm vụ và giải pháp công tác Đoàn, phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2026 – 2031, dự báo tình hình đất nước và thanh thiếu nhi, các đề án giám sát…, Trung ương Đoàn tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030.
Cụ thể là xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ mới có lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, có bản lĩnh, hoài cổ, đạo đức tốt, có tri thức sâu rộng, thể chất khỏe mạnh và tâm hồn giàu bản sắc văn hóa Việt Nam.
Xây dựng thanh niên Việt Nam trở thành những công dân toàn cầu mang hồn Việt, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh toàn diện, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng, năng động, xung kích cách mạng, trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ.
Đổi mới và nâng cao chất lượng, nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn gắn kết với mục tiêu phát triển của đất nước.
Đưa phong trào thanh niên trở thành môi trường để thanh thiếu nhi trưởng thành về lý tưởng, đạo đức, năng lực và trách nhiệm; là nơi phát hiện các biểu tượng nhân tố, mô hình hay và cách thực hiện hiệu quả.
Phát huy tinh thần cống hiến, vai trò tiên phong, xung kích của thanh niên trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, hội nhập quốc tế, phát triển khoa học công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Thanh niên là lực lượng tiên phong trong chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tham gia phòng, chống và giảm tỷ lệ tội phạm trong thanh thiếu niên.
Về khẩu hiệu hành động trong nhiệm kỳ tới, anh Nguyễn Minh Triết nêu khẩu hiệu bao gồm 4 thành tố, phản ánh các thành phần đặc biệt của thanh niên và yêu cầu thanh niên trong kỷ nguyên mới.
Trong đó bám sát phương châm hành động mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặt ra cho thanh niên trong bài viết “Thanh niên với tương lai đất nước”, cụ thể là: “Bản lĩnh tự cường – Tiên phong sáng tạo – Khát vọng cống hiến – Làm chủ tương lai”.
Về các nhiệm vụ đột phá, anh Triết nêu 5 nhiệm vụ là đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Đoàn phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Đoàn phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Hỗ trợ nâng cao năng lực số, trí tuệ nhân tạo, khoa học công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ
Khuyến khích, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, nhất là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với phát triển kinh tế tư nhân, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước.
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn có bản lĩnh chính trị, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực, uy tín, tiên phong, gương mẫu, gần thanh niên, sát cơ sở; chú trọng rèn luyện, tu dưỡng, thực hành đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đoàn. Nâng cao chất lượng cán bộ đoàn xã, phường, đặc khu.
Tăng cường năng lực quản lý, điều phối hoạt động tình nguyện cho đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam các cấp.
Ông T.V.B (49 tuổi, Tp.HCM) vừa được phát hiện u thận trong một lần khám sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện An Bình, Tp.HCM dù trước đó chỉ có biểu hiện tiểu ra máu thoáng qua và không gây khó chịu rõ rệt.
ThS.BS Trần Quốc Phong, trưởng Đơn vị Tiết niệu Bệnh viện An Bình chia sẻ với Người Lao Động, bệnh nhân trước đó thỉnh thoảng nhận thấy nước tiểu có màu đỏ nhạt nhưng do không đau, không sốt nên nghĩ rằng đó chỉ là tình trạng tạm thời do nóng trong người hoặc thay đổi chế độ ăn uống. May mắn là trong một lần khám tổng quát định kỳ, siêu âm bụng tổng quát tại bệnh viện đã phát hiện bất thường tại thận, từ đó chỉ định chụp cắt lớp vi tính để đánh giá rõ hơn. Kết quả cho thấy một khối u khu trú tại cực dưới thận, chưa xâm lấn ra ngoài, chưa ảnh hưởng đến các cơ quan lân cận.
Sau khi thăm khám và làm các xét nghiệm, các bác sĩ cho rằng trường hợp này cần phẫu thuật bảo tồn thận là phương pháp điều trị được ưu tiên. Thay vì cắt bỏ toàn bộ thận, BS chỉ lấy đi phần khối u và giữ lại phần thận lành. Điều này đặc biệt quan trọng, bởi chức năng thận có vai trò thiết yếu trong việc lọc máu, điều hòa điện giải và duy trì cân bằng nội mô. Bảo tồn được thận đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ suy thận về sau, đặc biệt khi người bệnh bước vào tuổi trung niên và có thể đối mặt với các bệnh lý mạn tính khác.
Một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là nhiều người dân vẫn còn chủ quan với các triệu chứng như tiểu máu. Không ít trường hợp cho rằng nước tiểu có màu đỏ là do nóng trong do ăn uống hoặc do lao động nặng, từ đó tự ý mua thuốc về uống mà không đi khám. Điều này vô tình làm chậm trễ thời điểm chẩn đoán, khiến bệnh tiến triển âm thầm.
Đám cưới năm 1996 của bà Hằng diễn ra tại căn nhà nhỏ ở xã Ngọc Lý, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Bố mẹ bà làm 60 mâm cỗ mừng con gái lấy chồng. Nhưng khi em trai làm chủ tiệm áo cưới chuẩn bị sẵn trang phục, cô dâu 30 tuổi vẫn từ chối. Bà chọn mặc bộ quần áo giản dị, trang điểm nhẹ để về nhà chồng.
"Mẹ bọn trẻ mất chưa được bao lâu, tôi không muốn gia đình bên ngoại của các con chạnh lòng", bà Hằng, hiện 60 tuổi, giải thích lý do từ chối mặc váy cưới của cô dâu lần đầu xuất giá.
Khi thắp nén hương lên bàn thờ nhà chồng và trước di ảnh người vợ quá cố của ông Biểu, bà khấn thầm: "Xin chị bảo hộ cho em có sức khỏe để nuôi các con. Chị đừng dọa em, em sợ là em trốn về đấy".
Lời khấn nửa đùa nửa thật ấy là khởi đầu cho hành trình 30 năm làm mẹ kế đầy thăng trầm của người giáo viên mầm non.
Trước đó một năm, cô gái 29 tuổi Giáp Thị Hằng được mai mối cho người đàn ông nhiều hơn 6 tuổi, sống tại xã Lam Cốt, huyện Tân Yên, Bắc Giang (nay là xã Quang Trung, tỉnh Bắc Ninh). Ông vừa trải qua biến cố mất vợ, một mình nuôi bốn con gái nhỏ. "Thời đó tôi đã bị xem là quá lứa lỡ thì, nhưng nghe hoàn cảnh con mọn, tôi rất sợ nên từ chối ngay", bà kể.
Tuy nhiên, ông Biểu vẫn kiên trì, thường xuyên đạp xe 15 km đến nhà bà chơi. Khi cả bà ngoại (mẹ vợ ông Biểu) và cậu ruột của những đứa trẻ đến đặt vấn đề, bà Hằng quyết định đến xem gia cảnh. Đón bà là bốn đứa trẻ. Đứa lớn 12 tuổi, hai đứa giữa 7 tuổi và 5 tuổi, còn bé út tên là Dương Bắc Giang chưa đầy một tuổi được chị ẵm trên tay.
Nghe người lớn nói "sắp có mẹ mới", lũ trẻ xúm quanh bà Hằng, ánh mắt ngơ ngác nhưng khát khao tình thân. "Nhìn những đứa trẻ và người đàn ông hiền lành, tôi gật đầu", bà kể.
Sau khi kết hôn, người phụ nữ nặng 37 kg bắt đầu lịch trình làm việc từ 4h sáng ngoài đồng. Đến giờ hành chính, bà đến trường dạy mầm non. Buổi trưa, bà tranh thủ về lo cơm nước. Thời điểm đó, lương giáo viên mầm non ở nông thôn được trả bằng thóc, mỗi năm nhận bốn tạ. Cả gia đình sống dựa vào mẫu ruộng và đồng lương giáo viên của bà nên cuộc sống luôn thiếu thốn. Ba năm sau, bà sinh thêm một người con chung với ông Biểu. Kinh tế gia đình càng thêm khó khăn.
Nhưng áp lực kinh tế không sợ bằng cuộc khủng hoảng tâm lý của những đứa con chồng và định kiến "mấy đời bánh đúc có xương". Từ ngày đầu, bà dặn dò các con: "Ngoài kia sẽ có người nói ra nói vào, nhưng các con đã đồng ý làm con của mẹ thì phải nghe lời".
Quá trình uốn nắn những bé gái bước vào tuổi dậy thì xảy ra nhiều bất đồng. Có lần, cô con gái lớn phạm lỗi bị mẹ mắng, vì uất ức nên cãi lại, rồi chạy lên bàn thờ khóc với mẹ đẻ. Nhìn cảnh tượng ấy, bà Hằng tủi thân. Trời nhá nhem tối, bà dắt xe đạp bỏ về nhà ngoại. Nhưng đi được một đoạn, ngoảnh lại thấy chồng chở theo đứa con nhỏ đuổi theo, bà lại quay về.
Người mẹ chọn cách làm bạn với con để dần thấu hiểu. Bà nói với lũ trẻ, nếu thấy lời mẹ dạy chưa thỏa đáng, có thể hỏi bà ngoại và các dì xem ai đúng ai sai.
Trong sinh hoạt, bà chia đều quà cáp và quần áo mới cho cả năm chị em. Sự công bằng giúp xóa nhòa khoảng cách. Những đứa trẻ dần xem mẹ kế như ruột thịt. ''Nhiều hôm, tôi đạp xe về ngoại, quay về thấy lũ trẻ đã đứng ở cổng đợi sẵn'', bà kể. Đến tuổi thiếu nữ, các cô con gái bắt đầu tâm sự chuyện tình cảm với mẹ kế.
Dương Bắc Giang, cô con gái út, cho biết đến năm 7 tuổi, qua lời người xung quanh, cô mới biết bà Hằng không phải mẹ đẻ. "Lúc nhỏ tôi bướng bỉnh, mỗi lần dỗi thường nói muốn mẹ khác, mẹ chỉ cười và dỗ dành", Giang kể.
Sau 30 năm, bốn người con gái riêng của ông Biểu đều đã khôn lớn. Trong đám cưới của từng người, vợ chồng bà Hằng tự tay chuẩn bị của hồi môn chu đáo. Trong lễ cưới, người mẹ kế lúc nào cũng là người bật khóc đầu tiên vì thương con, khiến cả nhà khóc theo.
Đến nay, bà Hằng đã là bà ngoại của 9 đứa trẻ. Cứ mỗi lần các con gái ở cữ, người mẹ kế ấy lại đón về tự tay chăm sóc suốt tháng đầu. Với bà, niềm hạnh phúc lớn nhất tuổi xế chiều là chứng kiến bốn cô con gái của chồng đều khôn lớn, có công việc ổn định và gia đình êm ấm.
Ông Biểu thường dặn các con phải đối tốt với mẹ - người cùng cha con ông đi qua những ngày giông tố nhất cuộc đời. Con gái của ông quấn mẹ hơn cha. Các cô lấy chồng quanh vùng, trước khi sang nhà ngoại đều gọi điện hỏi trước: "Hôm nay mẹ có nhà không để con sang?".
Cách đây 10 năm, cô út Dương Bắc Giang kết hôn. Chồng cô từng qua một đời vợ và đang nuôi riêng. Bước vào cuộc sống gia đình với vai trò mẹ kế, Giang cho biết cô áp dụng những điều học được từ cách mẹ Hằng nuôi dạy chị em mình.
"Bà đã cho tôi một người mẹ và cho tôi bản lĩnh để làm mẹ", Giang nói.
Đằng sau những tấm thẻ xác nhận khuyết tật đối vớinhiều trường hợp sẽ là một hành trình đi xa và vất vả.
Thương mẹ, từ một người phụ nữ từng đi chợ, làm vườn, chăm lo mọi việc trong nhà, mẹ trở thành người cần được chăm sóc.
Gia đình tôi sau đó làm hồ sơ để mẹ được hưởng chế độ trợ cấp ở diện là con liệt sĩ bị khuyết tật (ông ngoại tôi là liệt sĩ, bà ngoại là thương binh). Khoản hỗ trợ hàng tháng tuy không lớn, nhưng phần nào giúp trang trải chi phí thuốc men cho mẹ. Chúng tôi rất biết ơn về sự hỗ trợ này, vì gia đình thuộc diện khó khăn và neo đơn. Nhưng để có được tấm giấy xác nhận ấy, hành trình với chúng tôi đúng là hành trình những chuyến đi xa.
Vì mẹ thuộc diện con liệt sĩ (theo quy định về thủ tục hành chính trường hợp thân nhân là conbị khuyết tật nặng phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh - TT) nên mẹ không thể chỉ khám ở xã như diện khuyết tật thông thường, mà phải nhiều lần xuống bệnh viện tuyến tỉnh theo chỉ định để khám và hoàn tất hồ sơ.
Quãng đường cả đi lẫn về hơn 100 cây số, trong khi mẹ không thể tự đi lại. Mỗi lần như vậy, gia đình đều phải thuê xe taxi, vì tuyến đường và phương tiện công cộng ở ngoài quê không phù hợp cho người ngồi xe lăn.
Chi phí khám bệnh, chi phí di chuyển, thời gian chờ đợi… tất cả dồn lại thành một gánh nặng không nhỏ cho mấy mẹ con. Thật vất vả, để được xác nhận là "khó khăn", người ta lại phải vượt qua một hành trình cũng khá khó khăn
Câu chuyện của mẹ tôi không phải là cá biệt. Nhiều người khuyết tật ở diện con em liệt sĩ, đặc biệt ở vùng nông thôn, đang gặp những rvtương tự khi tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Tôi nghĩ, một trong những điều cần được cải thiện là cách thức triển khai. Thay vì yêu cầu người khuyết tật di chuyển xa để thẩm định, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể tổ chức các đợt khám, đánh giá tại địa phương cấp thôn, xã. Việc cử đội ngũ y bác sĩ đến tận nơi, thậm chí là tận nhà (trường hợp nhiều người neo đơn, không thể đi lại,..) không chỉ giảm chi phí cho người dân, mà còn thể hiện sự chủ động của chính sách.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cũng cần được đơn giản hóa. Việc phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ phức tạp vô tình khiến nhiều người nản lòng, thậm chí từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình. Một chính sách nhân văn không chỉ nằm ở nội dung hỗ trợ, mà còn ở cách nó đến được với người cần.
Ngoài chính sách trợ cấp, vấn đề lớn hơn là khả năng tiếp cận các tiện ích và cơ hội việc làm của người khuyết tật.
Nhiều công trình công cộng vẫn thiếu lối đi cho xe lăn. Phương tiện giao thông chưa thân thiện. Nơi làm việc hiếm khi được thiết kế phù hợp. Điều đó khiến người khuyết tật, dù có năng lực, vẫn khó hòa nhập.
Để thay đổi điều này, cần có những quy định rõ ràng hơn về thiết kế không gian tiếp cận trong xây dựng, giao thông và môi trường làm việc.
Người khuyết tật không cần được "ưu tiên" theo nghĩa đặc biệt, mà cần một môi trường đủ công bằng để họ có thể tự bước đi theo cách của riêng mình.
Sau những tháng ngày đầu đầy tuyệt vọng, mẹ tôi dần học cách sống cùng chiếc xe lăn. Bà tập làm lại những việc nhỏ, từ việc tự di chuyển trong nhà, đến việc nấu ăn, chăm sóc bản thân. Có những ngày mẹ buồn, có những lúc mệt mỏi, nhưng bà không cho phép mình dừng lại quá lâu. Bà vẫn lọ mọ làm những việc trong khả năng để ngày trôi qua có ý nghĩa.
"Tàn nhưng không phế" - câu nói tưởng chừng quen thuộc ấy, với mẹ tôi, không phải là khẩu hiệu, mà là một hành trình.
Người khuyết tật, hơn ai hết, cần vượt qua chính mình. Nhưng để làm được điều đó, họ cần một môi trường không rào cản, một xã hội không định kiến, và một hệ thống chính sách đủ thấu hiểu.
Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, mà còn bằng cách nó đối xử với những người yếu thế nhất.
Người khuyết tật không cần những lời hứa lớn lao. Họ cần những thay đổi cụ thể từ chính sách thuận tiện hơn, không gian dễ tiếp cận hơn, và một ánh nhìn công bằng hơn từ cộng đồng.