Victor Hawkins, 20 tuổi, cựu học sinh trường trung học Pauls Valley, xâm nhập khuôn viên trường vào khoảng 14h ngày 7/4 khi các lớp học đang diễn ra, mang theo hai khẩu súng ngắn bán tự động.
Các nhà điều tra cho biết sau khi vào sảnh, Hawkins yêu cầu mọi người nằm xuống và chĩa súng định bắn một học sinh. Ý đồ của anh ta bất thành do khẩu súng bị kẹt. Sau khi khắc phục lỗi này, Hawkins nổ súng vào một học sinh khác và bắn trượt. Hai học sinh van xin tha mạng và tay súng cho phép họ rời đi, những em khác cũng chạy theo.
Lúc này, ông Moore từ văn phòng cạnh bên lao ra xô ngã Hawkins lên hàng ghế cạnh cửa sổ, nằm đè lên và ghì chặt tay phải của anh ta lên thành ghế, buộc nghi phạm thả súng xuống sàn. Khoảng 10 giây sau đó, một nhân viên khác của trường bước ra từ văn phòng của ông Moore, lấy súng của Hawkins và mang vào giấu trong văn phòng. Sau khi bị khống chế, nghi phạm bị bắt tại hiện trường.
Giới chức bang Oklahoma ngày 14/4 công bố video từ camera giám sát tại trường Pauls Valley cho thấy hành động dũng cảm của hiệu trưởng. Cảnh sát cho biết trong lúc giằng co nghi phạm đã nổ nhiều phát súng khiến ông Moore bị thương ở chân. Hiệu trưởng đã trong tình trạng ổn định và không có học sinh nào bị thương.
“Hành động của nhân viên và vị hiệu trưởng, can thiệp ngay khi nhìn thấy nghi phạm mang súng, đã cứu nhiều mạng sống”, người phát ngôn Hunter McKee của Cục Điều tra bang Oklahoma nói.
Thống đốc Kevin Stitt cũng ca ngợi ông Moore “đã hành động dũng cảm để bảo vệ tính mạng học sinh”, đồng thời cảm ơn lực lượng hành pháp và nhà trường vì phản ứng kịp thời.
Cáo trạng cho biết Hawkins đã trộm hai khẩu súng từ bố và có ý định thực hiện một cuộc tấn công giống vụ án Columbine, khi hai học sinh lớp 12 xả súng khiến 14 nạn nhân thiệt mạng trước khi tự sát. Các điều tra viên cho rằng Hawkins có ý định nhắm tới ông Moore trong kế hoạch ban đầu.
Hawkins bị cáo buộc các tội danh gồm chĩa súng đe dọa người khác, nổ súng với ý định giết người và mang vũ khí tới nơi công cộng. Hawkins dự kiến ra tòa vào ngày 8/5.
Tin Gốc: Vnexpress

Khi chuyên cơ chở Tổng thống Mỹ Donald Trump hạ cánh ở Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ hôm 7/7 để tham gia hội nghị thượng đỉnh NATO, các đồng minh của Washington không chắc người đứng đầu Nhà Trắng sẽ xuất hiện với thái độ thân thiện hay đối đầu.
Ông Trump đến hội nghị thượng đỉnh với tâm trạng không mấy vui vẻ. Ông nói rằng bản thân có lẽ đã không tham dự nếu chủ nhà không phải là Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan, người mà ông coi là bạn và nhiều lần dành lời ca ngợi.
Ông bày tỏ nỗi thất vọng khi các nước châu Âu không ủng hộ chiến dịch quân sự của Mỹ nhằm vào Iran, chỉ trích Tây Ban Nha chi quá ít cho quốc phòng. Ông cũng một lần nữa khẳng định tham vọng kiểm soát Greenland, điều từng khiến liên minh rơi vào cuộc khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng nhất trong nhiều thập kỷ hồi tháng 1.
Đây dường như là những điều mà các lãnh đạo NATO lo ngại nhất, buộc họ phải tìm mọi cách để không khiến Tổng thống Mỹ phật ý, hoặc tệ hơn là đưa ra những quyết định bất ngờ như giảm lực lượng đồn trú ở châu Âu hay rút Mỹ khỏi NATO.
Tổng thống nước chủ nhà Erdogan ngày 7/7 đã dành cho ông Trump nghi thức đón tiếp trọng thị, đến tận chân cầu thang máy bay để chào đón Tổng thống Mỹ. Đây là biệt lệ mà ông Erdogan dành cho ông Trump, thể hiện sự coi trọng với vị thế của Tổng thống Mỹ cũng như mối quan hệ đặc biệt giữa hai bên.
Tổng thư ký NATO Mark Rutte cũng nỗ lực làm việc để duy trì hình ảnh đoàn kết của liên minh và giữ vững sự ủng hộ của ông Trump bằng cách công khai ca ngợi ông một cách nồng nhiệt, đồng thời giảm nhẹ các cuộc tranh cãi gay gắt và công khai giữa Tổng thống Mỹ và các đồng minh châu Âu trước hội nghị thượng đỉnh.
Ông Rutte đã thúc đẩy các thành viên châu Âu và Canada chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng và nhanh chóng nâng cao năng lực quân sự. Ông cũng cho rằng các đồng minh đều đang đạt được những bước tiến đáng kể trong việc củng cố quốc phòng.
Theo những người am hiểu các cuộc trao đổi giữa hai bên, trong các cuộc gặp kín, ông Rutte cũng nhiều lần lên tiếng phản bác những chỉ trích của ông Trump đối với các đồng minh châu Âu.
"Rõ ràng là liên minh đang ở một vị thế rất khác so với một năm trước. Các nước châu Âu đang tăng cường chi tiêu quốc phòng, đổi mới và sản xuất quân sự", Torrey Taussig, cựu quan chức Lầu Năm Góc và hiện làm việc tại tổ chức tư vấn Hội đồng Đại Tây Dương, cho hay.
Các thành viên liên minh hy vọng rằng bằng cách chứng minh quyết tâm mới nhằm giúp NATO tăng cường năng lực quân sự, họ có thể xoa dịu ông Trump và giữ chân ông ở lại.
"Tôi tin rằng điều khiến ông Trump mất kiên nhẫn là các đồng minh nói nhiều nhưng không làm. Theo tôi, khi ông ấy thấy tình hình thực sự thay đổi, có những kết quả và cam kết cụ thể, những lo ngại của ông ấy cũng sẽ giảm đi phần nào", Tổng thống Cộng hòa Czech Petr Pavel cho hay.
Tại tiệc chiêu đãi do ông Erdogan chủ trì tại dinh thự riêng tối 7/7, ông Trump đã nhận được cơn mưa lời khen từ lãnh đạo các nước thành viên NATO, theo một quan chức Mỹ am hiểu cuộc gặp nói với WSJ. Hai quan chức khác cho biết bầu không khí tại tiệc chiêu đãi rất thân mật và các lãnh đạo đã thở phào nhẹ nhõm sau khi nó kết thúc mà không biến thành cuộc cãi vã nảy lửa.
Sau bữa tối, một quan chức cấp cao của châu Âu đã nhắn tin cho các đồng cấp của mình để báo cáo tình hình và nội dung chỉ có một từ: "Phù".
Nhiều quan chức châu Âu cho biết cuộc họp sau đó của các lãnh đạo diễn ra tốt đẹp hơn mong đợi. Và đó là kết quả đáng hài lòng, bởi điều quan trọng nhất là ông Trump không đe dọa rút Mỹ khỏi liên minh, theo Brian Schwartz, nhà bình luận của WSJ.
"Thay vì thúc đẩy các bước đột phá trong vô số vấn đề mà NATO đang gặp phải, các thành viên giờ đây coi việc làm cho ông Trump hài lòng là tiêu chuẩn mới của hội nghị", bình luận viên người Mỹ Robbie Gramer nhận xét.
Tomas Valasek, cựu đại sứ Slovakia tại NATO, cho rằng tiêu chuẩn thành công cho hội nghị thượng đỉnh NATO hiện nay không phải là đề ra những quyết sách lớn, mà ý tưởng của liên minh bây giờ là "tránh rạn nứt lớn".
Ông thêm rằng việc sử dụng chiến lược lấy lòng ông Trump để giữ cho hội nghị thượng đỉnh diễn ra suôn sẻ là cách tiếp cận "không lý tưởng nhưng vẫn còn tốt hơn những lựa chọn khác".
Một số người đã hoài nghi về hiệu quả trong cách các lãnh đạo NATO lấy lòng ông Trump. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ đã xác nhận chúng hiệu quả.
Trong cuộc họp kín giữa các lãnh đạo, ông Trump đã không nhắc đến Greenland, thay vào đó khen ngợi các thành viên tăng mạnh chi tiêu quốc phòng và chỉ đề cập qua về vấn đề Iran.
"Trong căn phòng đó tràn ngập tình cảm dành cho tôi", ông Trump nói về cuộc họp thượng đỉnh hôm 8/7. "Họ nói 'chúng tôi yêu ngài'. Có thể họ thực sự nghĩ thế hoặc cũng có thể họ chỉ đang cố lấy lòng tôi. Dù thế nào thì họ cũng đã thành công, bởi vì có sự đoàn kết rất lớn trong căn phòng hôm đó".
Ông Trump cũng gợi ý rằng những bất đồng giữa ông với Thủ tướng Italy Giorgia Meloni và các lãnh đạo châu Âu khác về việc họ thiếu sự ủng hộ trong cuộc chiến Iran có thể được bỏ qua.
"Tây Ban Nha đã rất tệ, nhưng bạn biết đấy, Italy đã tốt. Hầu hết các nước đều tốt. Họ chỉ có một khoảnh khắc tồi tệ thôi. Họ đã không giúp chúng tôi", ông nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Đội tuyển Anh và Argentina sẽ chạm trán vào 15h ngày 15/7 (2h ngày 16/7 giờ Hà Nội) trên sân vận động Atlanta, bang Georgia, Mỹ để tranh suất vào trận chung kết World Cup 2026. Đây là một trong những màn so tài được chờ đợi nhất giải, bởi hai đội có nhiều duyên nợ trong quá khứ.
Anh và Argentina đã có 5 lần đối đầu tại World Cup các năm 1962, 1966, 1986, 1998 và 2002. Trong số này, cuộc chạm trán tại tứ kết năm 1966 trên sân Wembley, Anh là khởi đầu mối "thâm thù" hàng chục năm giữa hai nền bóng đá, với cả những tranh cãi trên sân lẫn bên lề.
Ở trung tâm của những tranh cãi ấy là quần đảo Falkland, vùng lãnh thổ nhỏ ở Nam Đại Tây Dương. Falkland thuộc quyền quản lý của Anh nhưng Argentina cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Malvinas.
Falkland cách bờ biển Argentina khoảng 500 km và cách Anh hơn 13.000 km. Quần đảo gồm hai đảo chính là Đông Falkland và Tây Falkland, cùng 778 đảo nhỏ, dân số khoảng 3.600 người, phần lớn có nguồn gốc Anh. Kinh tế hòn đảo chủ yếu dựa vào nguồn thu từ cấp phép đánh bắt cá, chăn nuôi và du lịch.
Falkland được cho là sở hữu tiềm năng dầu khí ngoài khơi và giữ vị trí chiến lược trên các tuyến hàng hải hướng về Nam Đại Tây Dương và Nam Cực. Chính những yếu tố này khiến quần đảo trở thành một trong những điểm tranh chấp chủ quyền dai dẳng nhất thế giới.
Lần đầu tiên con người được ghi nhận đặt chân lên Falkland là năm 1690, khi thuyền trưởng hải quân Anh John Strong cập bến quần đảo. Anh chính thức tuyên bố chủ quyền đối với đảo Tây Falkland năm 1765. Pháp và Tây Ban Nha cũng từng thiết lập các khu định cư trên quần đảo trong những giai đoạn khác nhau.
Năm 1833, Anh tái khẳng định quyền kiểm soát và duy trì việc quản lý quần đảo cho đến nay. Trong khi đó, Argentina cho rằng sau khi giành độc lập từ Tây Ban Nha năm 1816, nước này kế thừa quyền quản lý quần đảo và cáo buộc London giành quyền kiểm soát quần đảo bằng hành động thực dân phi pháp.
Mâu thuẫn giữa hai bên về chủ quyền quần đảo Falkland âm ỉ suốt gần 150 năm trước khi bùng nổ thành chiến tranh vào tháng 4/1982. Khi đó, chính quyền quân sự Argentina dưới sự lãnh đạo của tướng Leopoldo Galtieri quyết định đưa quân đổ bộ lên Falkland với kỳ vọng Anh sẽ không phát động một chiến dịch quân sự quy mô lớn để giành lại quần đảo.
Lực lượng Anh đồn trú tại Falkland nhanh chóng đầu hàng do bị áp đảo về số lượng, nhưng thủ tướng Anh khi đó là Margaret Thatcher đã phản ứng quyết liệt, điều lực lượng đặc nhiệm hải quân tới Nam Đại Tây Dương để tái chiếm quần đảo. Hải quân hai bên đã có những trận đánh quyết liệt trên biển, trong đó có chiến dịch tàu ngầm Anh săn đuổi tàu sân bay Argentina.
Gần hai tháng sau, Anh đổ quân lên Falkland với mũi tiên phong gồm Lữ đoàn biệt kích số 40, 42 và 45 tinh nhuệ có quân số tương đương ba tiểu đoàn bộ binh thông thường, cùng với các đơn vị lính dù, công binh và pháo binh yểm trợ. Ngoài ra, Trung đoàn Đặc nhiệm Không quân (SAS) số 22, cùng học viên của Trung tâm đào tạo tác chiến sơn cước và địa cực cũng được tung vào trận chiến.
Trong khi đó, quân đội Argentina chỉ có trong tay Đại đội biệt kích số 601 và 602 để đối đầu với lực lượng đặc nhiệm hùng hậu của Anh nên nhanh chóng thất thế trong các cuộc đụng độ trên địa hình đồi núi của quần đảo.
Sau 74 ngày giao tranh, quân đội Anh tái kiểm soát Falkland và Argentina tuyên bố đầu hàng vào tháng 6/1982.
Cuộc chiến khiến 649 binh sĩ Argentina, 255 quân nhân Anh và ba cư dân Falkland thiệt mạng. Đối với Anh, chiến thắng trở thành bước ngoặt chính trị quan trọng, giúp củng cố vị thế của thủ tướng Thatcher và khôi phục niềm tin vào năng lực quân sự của nước này sau nhiều năm suy giảm ảnh hưởng toàn cầu.
Ngược lại, thất bại làm lung lay chính quyền quân sự của tướng Galtieri, góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ cầm quyền và mở đường cho quá trình chuyển đổi Argentina sang nền dân chủ.
Dù chiến sự đã kết thúc hơn bốn thập kỷ, tranh chấp chủ quyền với quần đảo Falkland vẫn chưa được giải quyết. Anh tiếp tục duy trì quyền quản lý quần đảo và hiện diện quân sự bằng căn cứ không quân Mount Pleasant. Argentina vẫn coi Falkland là một phần lãnh thổ không thể tách rời và theo đuổi yêu sách thông qua các biện pháp ngoại giao cũng như các diễn đàn quốc tế.
Hai nước đã khôi phục quan hệ ngoại giao sau chiến tranh nhưng các cuộc đàm phán về chủ quyền hầu như không đạt tiến triển.
Năm 2013, chính quyền Falkland tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về quy chế của quần đảo. Kết quả cho thấy 99,8% cử tri ủng hộ tiếp tục là lãnh thổ hải ngoại của Anh, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu khoảng 92%. London coi đây là minh chứng rõ ràng cho quyền tự quyết của người dân trên đảo và khẳng định sẽ không thảo luận về chủ quyền nếu không có sự đồng ý của cư dân.
Trong khi đó, Buenos Aires bác bỏ kết quả, cho rằng phần lớn dân cư hiện nay là hậu duệ của những người được đưa đến sau khi London giành quyền kiểm soát năm 1833 nên cuộc trưng cầu không thể được xem là cơ sở pháp lý để xác định chủ quyền.
Liên Hợp Quốc hiện xếp Falkland vào danh sách các vùng lãnh thổ chưa tự quản và nhiều lần kêu gọi Anh và Argentina nối lại đàm phán nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình. Tuy nhiên, tổ chức này không đưa ra phán quyết về chủ quyền đối với quần đảo.
Trung Quốc nhiều lần bày tỏ ủng hộ lập trường của Argentina và kêu gọi hai bên thương lượng. Mỹ từ sau cuộc chiến năm 1982 nhìn chung tránh đứng hẳn về bên nào trong vấn đề chủ quyền, dù thừa nhận Anh là bên đang quản lý thực tế quần đảo.
Tại World Cup năm nay, Falkland tiếp tục trở thành vấn đề thổi bùng căng thẳng Anh - Argentina. Sau chiến thắng 3-2 trước Ai Cập ở vòng 1/8, các cầu thủ Argentina đã hát bài Muchachos trong phòng thay đồ. Ca khúc này có nhiều đoạn nhắc đến "Malvinas" và tri ân những người đã tham gia cuộc chiến năm 1982.
Động thái trên nhanh chóng gây tranh cãi bởi trước giải đấu, FIFA đã yêu cầu các đội tuyển và cổ động viên tránh đưa thông điệp mang tính chính trị, phân biệt đối xử hoặc xúc phạm vào sân vận động. Ban tổ chức thậm chí đã tịch thu một số lá cờ của cổ động viên Anh vì có hình bóng người lính hoặc tàu ngầm, cho rằng những hình ảnh này có thể bị xem là liên quan đến cuộc chiến Falkland.
Tuy nhiên, theo truyền thông Anh, FIFA quyết định không kỷ luật đối với đội tuyển Argentina, làm dấy lên sự phản đối tại Anh rằng cơ quan quản lý bóng đá thế giới đã hành xử không công bằng.
Tranh cãi càng thu hút sự chú ý khi cuộc tái đấu Anh - Argentina diễn ra đúng 40 năm sau trận tứ kết năm 1986, nơi Diego Maradona ghi hai bàn thắng đi vào lịch sử, gồm pha lập công bằng tay nổi tiếng được gọi là "Bàn tay của Chúa", ấn định chiến thắng cho Buenos Aires. Trận đấu năm đó diễn ra chỉ 4 năm sau cuộc chiến Falkland, khiến ý nghĩa của màn so tài vượt ra ngoài khuôn khổ thể thao.
Ngay sau khi Argentina đánh bại Thụy Sĩ ngày 11/7, huấn luyện viên Argentina Lionel Scaloni đã tìm cách hạ nhiệt những yếu tố chính trị bao quanh cuộc đối đầu với Anh.
"Thông điệp của tôi là đây chỉ là một trận bóng đá. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói", ông Scaloni phát biểu. "Chúng tôi sẽ đối đầu một đối thủ rất mạnh. Họ có một huấn luyện viên xuất sắc. Chỉ đơn giản là một trận bóng đá, không hơn".
Tin Gốc: Vnexpress

Theo dữ liệu theo dõi chuyến bay, hơn 10 máy bay quân sự của Mỹ đã được nhìn thấy đang lượn vòng ngoài khơi bờ biển UAE ở vịnh Ba Tư và vịnh Oman vào sáng sớm 8/7, khi Mỹ công bố các cuộc không kích nhằm vào các mục tiêu của Iran để đáp trả các cuộc tấn công gần đây vào tàu thuyền thương mại.
Ít nhất 12 máy bay tiếp nhiên liệu của Không quân Mỹ và một máy bay trinh sát và tình báo P-8 Poseidon của Hải quân Mỹ nằm trong số các máy bay được nhìn thấy khi Mỹ tiếp tục các cuộc không kích. Một máy bay tiếp nhiên liệu của Không quân UAE cũng được nhìn thấy trong khu vực này.
Máy bay tiếp nhiên liệu là yếu tố then chốt để duy trì hoạt động trên không của các chiến đấu cơ và các máy bay tấn công khác trong các chiến dịch kéo dài, cho phép chúng bổ sung nhiên liệu mà không cần phải hạ cánh.
Đảo Qeshm là một trong những mục tiêu chính, với ít nhất 7 địa điểm bị đánh trúng. Thành phố Sirik của Iran, nơi nhìn ra eo biển Hormuz, cũng bị tấn công với 6 địa điểm bị nhắm mục tiêu. Tại Bandar Abbas, các quan chức Iran cho biết 10 địa điểm đã bị đánh trúng, bao gồm cả các tháp viễn thông.
Đây là các cuộc không kích lớn nhất của Mỹ nhằm vào các khí tài quân sự của Iran kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực vào tháng Tư.
Trước đó, CENTCOM cho biết họ đang tiến hành “các cuộc không kích mạnh mẽ nhằm vào Iran để buộc nước này phải trả giá đắt vì đã nhắm mục tiêu và tấn công vào tàu thuyền thương mại ở eo biển Hormuz”.
Đáp lại, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào 85 cơ sở quân sự của Mỹ tại Bahrain và Kuwait.
"Các lực lượng hải quân và không quân của IRGC, trong một chiến dịch phối hợp sử dụng tên lửa và máy bay không người lái, đã tấn công 85 cơ sở quân sự quan trọng của Mỹ tại cảng Salman, khu vực Hạm đội 5 của Hải quân Mỹ ở Bahrain, và căn cứ không quân Ali Al Salem ở Kuwait", hãng thông tấn dẫn tuyên bố của IRGC cho biết.
Các cuộc tấn công diễn ra trong bối cảnh Mỹ và Iran nhất trí tạm dừng đàm phán trong vòng một tuần để Iran tổ chức quốc tang cho cố Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei.
Ước tính hơn 2,3 triệu người đã tham gia lễ tang đang được tổ chức ở thành phố Najaf của Iraq sau các nghi thức ban đầu tại Iran. Theo kế hoạch, linh cữu ông Khamenei sẽ được đưa trở lại Iran để mai táng vào ngày 9/7.
Tin Gốc: Dân Trí

