Phạm Vũ Khiêm, Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ Herbitech, đang bị VKSND Hà Nội đề nghị mức án 23-26 năm tù trong vụ án sản xuất 67 dòng sản phẩm dinh dưỡng giả với tổng cộng hơn 13 triệu đơn vị sản phẩm.
Mức án đề nghị với Khiêm là tổng hợp của 3 tội Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, Vi phạm quy định về toán gây hậu quả nghiêm trọng và Rửa tiền.
Khiêm bị cáo buộc chỉ đạo cắt giảm thành phần, giảm hàm lượng hoặc thay thế nguyên liệu bằng phụ liệu giá rẻ cho 67 sản phẩm dinh dưỡng, chủ yếu cho trẻ em, để tăng lợi nhuận và cạnh tranh. Để đối phó thanh tra, nhóm bị cáo lập hồ sơ giả, hợp thức hóa các lô hàng.
VKS xác định trong 6 năm hoạt động, Herbitech đạt doanh thu 335 tỷ đồng nhưng chỉ kê khai thuế 145 tỷ đồng, che giấu doanh thu 190 tỷ đồng, gây thiệt hại cho ngân sách 55,8 tỷ đồng. Khiêm còn dùng 12,3 tỷ đồng mua đất để rửa tiền.
Bị cáo: Cách giám định chưa phản ánh đúng quy trình sản xuất
Tự bào chữa tại tòa, Khiêm cho rằng phương pháp xác định hàm lượng dược liệu thông qua các “chất chỉ thị” không phù hợp với thực tế sản xuất của Herbitech.
Theo bị cáo, công ty không sử dụng dược liệu thô mà dùng cao chiết xuất. “Chất chỉ thị trong dược liệu có thể khi chiết xuất thành cao thì không còn tồn tại”, Khiêm trình bày.
Bị cáo cho rằng nếu các chất chỉ thị không tan hoàn toàn trong nước thì trong quá trình chiết xuất và cô đặc thành cao, chúng có thể biến mất. Vì vậy, việc giám định không phát hiện các chất này không đồng nghĩa nguyên liệu không được đưa vào sản xuất.
Theo Khiêm, nếu áp dụng phương pháp giám định như hiện nay, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc tự đánh giá chất lượng sản phẩm của mình.
Trước đó, Khiêm thừa nhận Herbitech sử dụng cách phối trộn riêng để “tối ưu hóa cạnh tranh” nhưng không công bố thành phần vì cho rằng đây là “bí mật”.
Bị cáo cho rằng thành phần này “chưa chắc đã làm thay đổi chất lượng sản phẩm và các chỉ số kỹ thuật khác”.
>>Xem thêm: Danh sách 67 dòng sản phẩm bị xác định là hàng giả của Herbitech
Luật sư: Thành phần thiếu hụt không ảnh hưởng chất lượng, công dụng
Bào chữa cho Khiêm, luật sư tiếp tục tranh luận về căn cứ xác định “hàng giả”.
Theo luật sư, Nghị định 98/2020 quy định một sản phẩm chỉ bị coi là hàng giả khi các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức công bố.
Do đó, luật sư cho rằng việc xác định hàng giả phải căn cứ vào các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, không phải chỉ dựa vào bảng thành phần.
Theo phía bào chữa, nhiều thành phần bị kết luận thiếu hụt thực chất chỉ là các chất tạo màu, tạo mùi hoặc tạo vị nhằm giúp sản phẩm dễ sử dụng và tăng tính cạnh tranh, không trực tiếp quyết định giá trị sử dụng hay công dụng của sản phẩm.
Luật sư cũng cho rằng cơ quan điều tra sử dụng kết quả giám định của một số ít mẫu vật để quy kết toàn bộ 148 lệnh sản xuất trong giai đoạn 2017-2025 là chưa phù hợp.
Việc dùng các lệnh sản xuất trên phần mềm kế toán Misa làm căn cứ xác định hàm lượng nguyên liệu, theo luật sư, cũng thiếu chính xác vì “lệnh sản xuất chỉ là dự kiến ban đầu”, còn tài liệu phản ánh đúng quá trình sản xuất phải là hồ sơ của từng lô hàng.
Theo luật sư, trong quá trình sản xuất luôn phát sinh các biến động về cân đo, hao hụt hoặc bổ sung nguyên liệu và những thay đổi này đều được ghi nhận trong hồ sơ lô.
Phủ nhận cáo buộc rửa tiền
Phía bào chữa cho rằng những tranh luận về hành vi sản xuất hàng giả cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định thiệt hại về thuế và cáo buộc rửa tiền.
Luật sư nhận định cơ quan tố tụng đang áp dụng “tiêu chuẩn kép” khi chấp nhận dữ liệu nội bộ không có hóa đơn để xác định doanh thu đầu ra, từ đó truy thu thuế, nhưng lại không chấp nhận các khoản chi phí nguyên liệu thực tế cũng không có hóa đơn để khấu trừ.
Theo luật sư, hoạt động sản xuất không thể tạo ra doanh thu nếu không có chi phí. Việc coi toàn bộ doanh thu ngoài sổ sách là lợi nhuận chịu thuế làm sai lệch thiệt hại thực tế của ngân sách.
Phía bào chữa đề nghị xác định nghĩa vụ thuế trên cơ sở lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp, khoảng 54 tỷ đồng, thay vì toàn bộ doanh thu 190 tỷ đồng không ghi nhận trong sổ sách.
Luật sư cho rằng nếu tính toán lại thiệt hại về thuế và lợi nhuận theo đúng bản chất kinh tế của hoạt động sản xuất, mức độ nghiêm trọng của vụ án sẽ thay đổi.
Đối với cáo buộc rửa tiền, Khiêm khẳng định việc dùng lợi nhuận để mua đất xây dựng nhà máy mới là hoạt động đầu tư công khai, phục vụ sản xuất chứ không nhằm che giấu nguồn gốc tài sản. “Dùng lợi nhuận mua đất xây nhà máy mới, tôi không nghĩ đó là rửa tiền”, bị cáo trình bày.
Ngày 3/6, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Đà Nẵng cho biết An, trú xã Đồng Dương, bị bắt tạm giam về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hôm 28/5, người đàn ông 52 tuổi đến công an trình báo bị một người sử dụng tài khoản Facebook giả mạo làm quen, tạo quan hệ tình cảm rồi lừa đảo. Vào cuộc xác minh, công an đã bắt giữ An.
Theo cáo trạng mới được ban hành, ngoài truy tố nhóm cựu lãnh đạo Bộ Lao động nhận hối lộ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng xác định nguyên Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cùng một số cán bộ có nhận tiền nhưng không bị xử lý hình sự.
Theo cáo trạng, ông Nguyễn Bá Hoan khi đương chức Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mặc dù biết nhưng vẫn "bỏ mặc" cho cấp dưới tạo rào cản gây khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, buộc họ phải "bôi trơn" tổng số tiền hơn 30 tỉ đồng.
Trong giai đoạn 2017 - 2025, với vai trò Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, ông Tống Hải Nam đã chỉ đạo cấp dưới là Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang (chuyên viên Phòng Pháp chế) gây khó khăn cho doanh nghiệp khi nộp hồ sơ đề nghị cấp mới hoặc cấp đổi giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Đối với ông Lê Tấn Dũng - nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - kết quả điều tra xác định ông đã ký 135 giấy phép xuất khẩu lao động trong giai đoạn từ 2019 - 2021. Trong đó có 7 doanh nghiệp liên quan đến việc đưa tiền "chạy giấy phép". Ông Dũng được xác định đã nhận 500 triệu đồng thông qua Tống Hải Nam khi ký 7 giấy phép.
Tuy nhiên cơ quan điều tra xác định nguyên Thứ trưởng Lê Tấn Dũng không được giao phụ trách Cục Quản lý lao động ngoài nước, không biết việc gây khó khăn, buộc doanh nghiệp phải đưa tiền của cấp dưới, không có sự bàn bạc, thỏa thuận hay tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp.
Ông Dũng cũng đã nộp lại toàn bộ số tiền đã nhận nên không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Dũng, cáo trạng nêu.
Liên quan đến các cá nhân thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước, theo kết luận điều tra được ban hành trước đó, có 6 lãnh đạo, chuyên viên Phòng Tài chính - Kế toán đã nhận tiền khi tham gia các đoàn kiểm tra, với tổng số tiền từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng mỗi người.
Quá trình điều tra xác định các cá nhân này chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra báo cáo tài chính, tiền ký quỹ của doanh nghiệp, không có vai trò quyết định trong việc đề xuất cấp giấy phép. Đồng thời không có tài liệu chứng minh việc họ gây khó khăn hoặc nhận tiền để xử lý nhanh hồ sơ.
Vì vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự, nhưng cần tịch thu sung công quỹ số tiền nhóm cán bộ này đã nhận từ doanh nghiệp.
Ngoài ra ông Nguyễn Xuân Long, nguyên thư ký lãnh đạo bộ, được xác định đã nhận 239 triệu đồng từ các cá nhân liên quan. Tuy nhiên kết quả điều tra xác định ông không có thỏa thuận nhận tiền với các bị can để bỏ qua lỗi hồ sơ trình phê duyệt nhanh giấy phép.
Vì vậy không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự, nhưng cần tịch thu sung công quỹ toàn bộ số tiền ông Long đã nhận, kết luận điều tra nêu.
Theo cáo trạng, tổng số tiền cựu Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cùng 13 người gồm nguyên lãnh đạo, cán bộ của Bộ Lao động đã nộp lại là hơn 3,6 tỉ đồng. Trong đó, ông Đặng Sỹ Dũng, nguyên Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, nộp lại số tiền nhiều nhất là 1 tỉ đồng.
Quá trình điều tra và truy tố vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhận định các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn thiếu cụ thể, chưa bảo đảm tính chặt chẽ và đồng bộ.
Theo cơ quan tố tụng, những bất cập này đã tạo ra nhiều kẽ hở trong quá trình áp dụng pháp luật, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, đồng thời tạo điều kiện để một số cá nhân có thẩm quyền lợi dụng chức vụ gây phiền hà, nhũng nhiễu, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp.
Viện kiểm sát cũng cho rằng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, cũng như việc kê khai, báo cáo thuế của doanh nghiệp, chưa được nâng cao. Trách nhiệm được xác định thuộc về Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan khi chưa kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm xảy ra tại Cục Quản lý lao động ngoài nước và một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
Từ đó, viện kiểm sát kiến nghị cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với các lĩnh vực này.
Khoảng 18h30 ngày 4/7/2026, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lào Cai phối hợp Công an tỉnh Sơn La, Công an cấp xã đã bắt giữ thành công một đối tượng thực hiện hành vi bắt cóc trẻ em tại tỉnh Sơn La khi đang lẩn trốn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, đồng thời giải cứu an toàn cho cháu bé bị bắt cóc.
Trước đó, khoảng 15h30 cùng ngày, Công an tỉnh Lào Cai nhận được đề nghị phối hợp từ Công an tỉnh Sơn La về việc truy bắt một đối tượng vừa thực hiện hành vi bắt cóc trẻ em tại khu vực bản Kẻ, xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La, sau đó bỏ trốn theo hướng sang tỉnh Lào Cai.
Ngay khi tiếp nhận thông tin, đồng chí Giám đốc Công an tỉnh Lào Cai đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lào Cai phối hợp với Tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Sơn La và Công an các xã giáp ranh trên tuyến đường đối tượng có thể di chuyển, khẩn trương rà soát lộ trình bỏ trốn, xác minh các mối quan hệ của đối tượng và gia đình bị hại, tập trung truy xét, dựng lại toàn bộ hành trình gây án và tẩu thoát.
Chỉ sau gần 3 giờ đồng hồ từ khi tiếp nhận thông tin, đến khoảng 18h30 cùng ngày, lực lượng phối hợp của hai tỉnh, Công an xã Trạm Tấu đã bắt giữ thành công đối tượng khi đang lẩn trốn tại bản Cang Dông, xã Trạm Tấu, kịp thời giải cứu cháu bé, bảo đảm tuyệt đối an toàn về tính mạng và sức khỏe.
Tại cơ quan Công an, đối tượng khai nhận là Hà Văn Tý, sinh năm 1996, trú tại bản Lụ 1, phường Cầu Thia, tỉnh Lào Cai; hiện ở tại bản Cang Dông, xã Trạm Tấu.
Theo lời khai ban đầu, khoảng 8h00 sáng ngày 4/7, Tý điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát từ bản Bủng, xã Mường Bú, tỉnh Sơn La về nhà.
Khi đi qua khu vực bản Kẻ, xã Ngọc Chiến, đối tượng phát hiện 4 cháu nhỏ đang bán dưa ven đường nên dừng xe mua dưa. Lợi dụng sơ hở, đối tượng đã bắt cóc cháu Thào Thị A. (sinh năm 2020) rồi nhanh chóng đưa cháu bé bỏ trốn về hướng tỉnh Lào Cai.
Hiện Công an tỉnh Lào Cai đã bàn giao đối tượng cho Công an tỉnh Sơn La để tiếp tục xác minh, điều tra theo quy định của pháp luật.